表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
9/15

フロア

 11時になって出勤の時刻となった。

 紺色のはっぴに袖を通して、冷たい流水で手を洗う。

 11 giờ trưa, đã đến lúc tôi phải vào ca.

 Tôi xỏ tay vào ống áo Happi màu xanh thẫm, rồi rửa tay dưới làn nước máy lạnh ngắt.

 

「おはよう、木澤くん」

「Chào buổi sáng, Kizawa.」

 

「おう、おはよう!」

「Ồ, chào buổi sáng!」


 日曜のシフトは木澤くんと被っていた。フロア勤務の男女比は若干女性側に偏っているので、男同士で話せる相手というのは貴重だったりする。木澤くんは片桐さんと同い年の二十歳で、今は大学を中退したフリーターだ。

 Ca làm ngày Chủ nhật của tôi trùng với Kizawa. Tỷ lệ nam nữ ở sảnh hơi nghiêng về phía nữ, nên có một người bạn đồng giới để trò chuyện là điều khá đáng quý. Kizawa bằng tuổi Katagiri, mới 20 tuổi, hiện là một người làm tự do sau khi bỏ ngang đại học.


「いやぁ、今日は真面目に稼ぐわ。昨日は7/7でゾロ目のイベント日だったけどボロ負けしたからさ。やっぱり、ここで働くべきだったよな」

「Chà, hôm nay tôi phải nghiêm túc kiếm tiền thôi. Hôm qua là ngày 7 tháng 7, ngày lễ có các con số trùng nhau (Zorome) nên tôi định làm một vố, ai dè thua thảm hại. Biết thế tôi đã đi làm ở đây cho rồi.」

 

「だから七夕は木澤くんが休みだったんか」

「Hóa ra đó là lý do ông xin nghỉ đúng ngày Thất tịch à?」

 

「当たり前じゃん、俺が休みの時はジャグラーよ。また今度、景品のお菓子持ってくるわ」

「Chứ còn gì nữa! Hễ tôi nghỉ là chỉ có đi chơi Juggler (máy đánh bạc) thôi. Lần tới tôi sẽ mang bánh kẹo trúng thưởng đến cho ông.」

 

「ありがとう、この前のピーナッツ美味しかったよ」

「Cảm ơn nhé, gói đậu phộng lần trước ngon lắm.」

 

 木澤くんはジャグラーという日本のギャンブルに熱中している若者だ。僕は賭け事に手を染めたことがない。出会った当初こそは距離を置くべきか悩んだ事もあったが、彼の仕事の手際は迅速で、その人柄も話しやすいと分かってからは、普通に打ち解けるようになった。

 Kizawa là một thanh niên cuồng Juggler – một trò cờ bạc phổ biến ở Nhật Bản. Tôi thì chưa bao giờ dính dáng đến mấy trò cá cược. Hồi mới gặp, tôi từng băn khoăn không biết có nên giữ khoảng cách với cậu ta không, nhưng sau khi thấy phong cách làm việc nhanh nhẹn và tính cách dễ gần, tôi đã dần cởi mở hơn.


「そうか、次はBBQソース味を持ってくるわ。おっ、会計だ。一緒にテーブルの片付け行こうぜ」

「Thế à, vậy lần tới tôi sẽ mang vị sốt BBQ nhé. Ơ, có khách thanh toán kìa. Đi dọn bàn với tôi đi!」

 

「いいよー」

「Ok luôn.」

 

 フリーター同士で親近感を覚えたのも、すぐに仲良くなった理由の一つだろう。彼が無理にギャンブルの勧誘をしてくる事もないし、たまに景品のお菓子を分けてくれたりもする。まだ知らない未知の世界を共有してくれる人間は好ましい。これは小説家としての性だ。

 Việc cả hai đều là dân Freeter (làm tự do) có lẽ là một trong những lý do khiến chúng tôi nhanh chóng thân thiết vì cảm thấy có sự tương đồng. Cậu ta không bao giờ chèo kéo tôi chơi bạc, thi thoảng còn chia sẻ bánh kẹo trúng thưởng. Với tôi, những người sẵn lòng chia sẻ về một thế giới mình chưa từng biết tới luôn là những người thú vị. Có lẽ đây chính là bản năng của một người viết tiểu thuyết.


「木澤くんー、ビーカー取ってー」

「Kizawa ơi, lấy cho tôi cái xô (beaker) đi.」

 

「あいよ」

「Có ngay.」


 まだ少し眠い。なんだか自然と間延びした口調になってしまう。ちゃんと目の前に集中しなくては。

 Tôi vẫn còn hơi buồn ngủ. Giọng nói cứ tự nhiên trở nên kéo dài uể oải. Phải tập trung vào việc trước mắt thôi.

 

 木澤くんとテーブルの清掃に入る。学生の頃、理科の実験で使った器具を、そのままの形で大きくしたようなフロアの清掃用具。それがビーカーという持ち運び可能なゴミ箱だ。そこに割り箸や食べ残しの残骸をポンポンと放り込んでいく。うどんの切れ端を客が使ったおしぼりで掴み取る。これは潔癖症の人にはキツいだろうな、と他人事のような感想が浮かんだ。僕と木澤くんは大雑把なので気にしない。

 Tôi và Kizawa bắt đầu dọn dẹp bàn. Cái dụng cụ dọn dẹp ở sảnh này trông y hệt như những chiếc cốc đong (beaker) dùng trong các thí nghiệm khoa học hồi đi học, chỉ là được phóng đại kích thước lên thôi. Đó là một chiếc thùng rác di động. Tôi thoăn thoắt vứt đũa tre và những thức ăn thừa vào đó. Dùng miếng khăn ướt mà khách đã sử dụng để nhặt những sợi mì Udon vụn. Tôi thầm nghĩ, công việc này chắc sẽ là cực hình đối với những người mắc bệnh sạch sẽ đây. Nhưng tôi và Kizawa đều là kiểu người đại khái nên cũng chẳng bận tâm.


「もういっぱいだね」

「Đầy rồi này.」


 卓上のゴミと食べ残しが多かったせいで、あっという間にビーカーが満杯となってしまった。それを指差しながら木澤くんが口を開く。

 Vì rác trên bàn và thức ăn thừa quá nhiều nên cái xô đã đầy ắp chỉ trong nháy mắt. Kizawa chỉ vào đó rồi lên tiếng.


「あっ、あれを取ってきてほしいわ。あと、小厨房に戻るついでにさ。あれも確認しておいてくれん?」

「À, lấy cho tôi cái 'kia' với. Tiện thể lúc quay lại bếp phụ, ông kiểm tra luôn cái 'kia' hộ tôi được không?」


 矢継ぎ早の"あれ"に首を傾げる。

 彼は仕事は早いが、情報を共有するのは下手だ。

 Tôi nghiêng đầu trước những từ "cái kia" dồn dập của cậu ta.

 Cậu ta làm việc thì nhanh thật đấy, nhưng khoản chia sẻ thông tin thì tệ thôi rồi.

 

「OK、予備のダスターとビーカーね。分かった、それで昼の予約の数も確認してくればいいのね」

「OK, ông muốn khăn lau duster dự phòng và một cái xô mới chứ gì? Hiểu rồi, sẵn tiện tôi sẽ kiểm tra luôn số lượng khách đặt chỗ cho buổi trưa nhé.」

 

「そういうこと。やっぱり、俺ら仕事やりやすいな。これが以心伝心っていうやつか?」

「Đúng là vậy đó. Quả nhiên chúng ta làm việc ăn ý thật. Đây gọi là 'thần giao cách cảm' (dĩ tâm truyền tâm) hả?」

 

「嬉しくなーい」

「Chẳng vui chút nào đâu.」


 僕は苦笑を返した。

 Tôi đáp lại bằng một nụ cười khổ.

 

「木澤くんの指示は雑だけどな。たまに分からん」

「Chỉ thị của ông mơ hồ bỏ xừ. Nhiều khi tôi chẳng hiểu nổi đâu.」

 

「そう言うなって、ちゃんと伝わったじゃん?」

「Đừng nói thế chứ, chẳng phải ông vẫn hiểu hết đó sao?」

 

「はいはい」

「Vâng vâng, lạy ông.」


 小厨房に行くと、綺麗に水でゆすがれたダスターが積み上げられていた。僕が少し驚くと、シンクで洗い物をしていた女の子と視線が合う。フロアで働く高校二年生の岡原さんが気を利かせて用意してくれていたようだった。いつも思うが彼女は周りをよく見ている。

 Khi tôi đi vào bếp phụ, những chiếc khăn lau duster đã được giặt sạch và xếp chồng lên nhau ngay ngắn. Tôi đang định tỏ ra ngạc nhiên thì chạm ánh mắt với một cô bé đang rửa đồ ở bồn rửa. Hóa ra là em Okahara, học sinh lớp 11 làm ở sảnh, đã tinh ý chuẩn bị sẵn cho chúng tôi. Lúc nào tôi cũng thấy em ấy là người quan sát xung quanh rất tốt.


「ちなみにお昼の予約は20件ですよ。この人数でアイドリングまで回せそうですね」

「Tiện thể thì số lượng đặt chỗ buổi trưa là 20 nhóm nhé anh. Với số lượng nhân viên thế này thì chắc chúng ta sẽ xoay xở được cho đến tận giờ nghỉ (Idling) thôi.」

 

「えっ、すごい、ちょうど予約を知りたかったんだ!」

「Ơ, giỏi quá, tôi đang định đi kiểm tra số lượng đặt chỗ đây!」


 本当に視野が広い高校生だと思う。まだ、あまり打ち解けられてないけど。僕は回収してきたダスターをシンクに放り込んで、岡原さんに軽く頭を下げた。

 Tôi thực sự nghĩ em ấy là một học sinh cấp ba có tầm nhìn rất rộng. Dù rằng chúng tôi vẫn chưa thân thiết với nhau cho lắm. Tôi thả những chiếc khăn duster vừa thu hồi vào bồn rửa rồi khẽ cúi đầu chào em Okahara.


「岡原さん、ありがとう」

「Cảm ơn em nhé, Okahara.」

 

「どういたしまして。これも洗っておきますね」

「Không có gì ạ. Để em rửa luôn đống này cho.」

 

「本当にありがとう!」

「Thật sự cảm ơn em nhiều lắm!」


 僕がフロアに戻ると、ちょうど木澤くんが6番テーブルまで呼び出されている瞬間だった。新しいダスターを補充しながら、彼が帰ってくるのを静かに待つ。

 Khi tôi quay trở lại sảnh, đúng lúc Kizawa đang bị gọi ra bàn số 6. Vừa bổ sung khăn duster mới, tôi vừa lặng lẽ đợi cậu ta quay lại.


 (これは機嫌が悪そうだね)

 (Trông có vẻ là đang bực mình đây.)

 

 しばらくして、マスク越しでも怒りが伝わってくる表情の木澤くんがテーブルから戻ってきた。僕の存在に気付いて、ムスッと納得いかない表情で話しかけてくる。

 Một lúc sau, Kizawa quay trở lại từ bàn khách với gương mặt hằm hằm mà dù có đeo khẩu trang cũng cảm nhận rõ sự tức giận. Nhận ra sự hiện diện của tôi, cậu ta bắt chuyện với vẻ mặt sưng sỉa.


「いやー、マジでダルかったわ」

「Chậc, đúng là hãm thật đấy.」

 

「どうしたの?」

「Sao thế?」


 僕は柔らかな声音と表情を意識する。

 Tôi chủ động giữ giọng nói nhẹ nhàng và vẻ mặt ôn hòa.

 

「マジで話が通じねぇ。"とば塩熟成まぐろ"は塩味が付いているのか?元々の塩味が付いているなら、醤油は付けなくてもいいってことか?これで美味しくなかったら一皿分が無駄になるんだが?これを延々と聞かされた……」

「Thật sự là nói mãi không thông. Lão cứ hỏi mãi là món 'Cá ngừ ủ muối' (Tobashio Jukusei Maguro) có vị mặn sẵn không? Nếu mặn sẵn rồi thì không cần chấm nước tương nữa à? Nếu không ngon thì lãng phí mất một đĩa của lão thì sao? Cứ thế, lão bắt tôi nghe bài ca đó mãi……」

 

「うわぁ、災難だね……」

「Uầy, tai nạn nghề nghiệp rồi, khổ thân ông.」


 とば塩熟成まぐろは看板メニューの一つだ。

 Cá ngừ ủ muối (Tobashio Jukusei Maguro) là món đặc trưng (kanban menu) của tiệm Toba Sushi.


 6番テーブルの方をチラッと横目で確認する。気難しそうな表情を浮かべている中年男性、その見た目は普通にスーツを着たサラリーマンだった。一見すると何の変哲もない人間が、お客様という立場を使って店員に面倒な質問を重ねるというのは、とても残念なことだが頻繁である。

 Tôi liếc nhìn về phía bàn số 6. Đó là một người đàn ông trung niên với gương mặt có vẻ khó tính, nhưng ngoại hình thì chỉ là một nhân viên văn phòng mặc suit bình thường. Thật đáng buồn là chuyện những kẻ nhìn qua chẳng có gì đặc biệt lại dùng tư cách khách hàng để làm khó nhân viên bằng những câu hỏi phiền phức lại xảy ra như cơm bữa.

 

 もしかして、性根の腐った人間ほど一般人に擬態するのが上手いのか。会社では普通のサラリーマンでも、休日は日々のストレスを発散したくなるのか。どちらでも構わないが、それに付き合わされる店員にとっては迷惑な話である。

 Chẳng lẽ những kẻ có bản tính tồi tệ lại thường giỏi ngụy trang thành người bình thường nhất sao? Hay là những nhân viên văn phòng mẫn cán vào ngày nghỉ lại muốn trút hết áp lực thường nhật lên người khác? Dù là lý do gì thì với nhân viên chúng tôi, đó cũng là một sự phiền hà lớn.

 

 ここで木澤くんが怒りを溜め込むと、この後の仕事に支障が出るかもしれない。昼の予約が少なめとはいえ、フロアの人数に余裕はないのだ。ここは僕が年長者らしい対応を見せる場面だ。

 Nếu lúc này Kizawa cứ tích tụ cơn giận, công việc tiếp theo có thể bị ảnh hưởng. Dù lượng khách đặt chỗ buổi trưa không quá nhiều, nhưng nhân sự ở sảnh cũng chẳng dư dả gì. Đây là lúc tôi nên thể hiện thái độ của một người đàn anh.


「もう解放されたの?」

「Ông thoát ra được rồi chứ?」

 

「あぁ、なんか満足したっぽい。キモいよな」

「Ừ, hình như lão thỏa mãn rồi. Kinh tởm thật.」


 そう小声で辛辣に言い放つも、木澤くんの顔には悪い微笑が浮かんでいた。彼は元々がカラッとした性格なのだ。

 Kizawa buông lời cay nghiệt bằng giọng nhỏ, nhưng gương mặt cậu ta đã bắt đầu nở một nụ cười tinh quái. Bản tính cậu ta vốn là người xởi lởi, nói xong là thôi.

 

 そこに水を差すようだが、一応、フロアとしての懸念点は伝えておこう。あくまで年上の同僚として。

 Dù không muốn làm mất hứng, nhưng với tư cách là đồng nghiệp lớn tuổi hơn, tôi cũng nên nhắc nhở về những rủi ro có thể xảy ra ở sảnh.

 

「どうする。一応、店長まで報告する案件っぽい?」

「Ông tính sao? Có nên báo cáo vụ này cho quản lý cửa hàng không?」

 

「そこなんだよな。あとからクレーム入れられてさ。何で報告しなかったのかってSVに怒られるのもダルいよな」

「Đó mới là vấn đề. Để sau này khách phàn nàn (claim) rồi bị SV mắng vì sao không báo cáo thì cũng phiền phức lắm.」

 

「うんうん」

「Ừ, đúng thế.」

 

 木澤くんはギャンブル中毒のくせに、ちゃんと仕事中のリスク管理はできるタイプの男だ。自分で状況を理解しているようなら、その後の判断は彼に任せようと思う。

 Kizawa dù là một kẻ nghiện cờ bạc nhưng lại là kiểu người có khả năng quản trị rủi ro khá tốt trong công việc. Thấy cậu ta tự hiểu được tình hình, tôi quyết định để cậu ta tự đưa ra quyết định.


「ちょっと店長のところに行ってくるわ」

「Để tôi đi tìm quản lý một lát.」

 

「うん、いってらっしゃい」

「Ừ, ông đi đi.」


 すぐに木澤くんは戻ってきた。もう彼の表情に怒りの色は見えなかった。ほっと胸を撫で下ろす。

 Kizawa quay lại rất nhanh. Cơn giận trên mặt cậu ta đã hoàn toàn biến mất. Tôi thở phào nhẹ nhõm.


「そういや、先週は銭湯に行ったんだけどさ。脱衣所に鍵を落としたことに気づいてさ……」

「Mà này, tuần trước tôi có đi nhà tắm công cộng (Sento). Lúc ở phòng thay đồ mới nhận ra mình làm rơi mất chìa khóa……」

 

「うんうん」

「Ừ, kể tiếp đi.」


 しばらく暇だったので、木澤くんと世間話に花を咲かせた。僕は男同士でも裸を見られるのが苦手なので、今後の人生においても銭湯に入ることはないだろう。小説家として、銭湯についての聞き取り調査をした。

 Vì lúc đó đang vắng khách nên tôi và Kizawa đã có một cuộc chuyện trò rôm rả. Tôi vốn là người ngại để người khác thấy cơ thể mình dù là cùng giới, nên chắc cả đời này tôi cũng chẳng bước chân vào nhà tắm công cộng đâu. Nhưng với tư cách là một người viết tiểu thuyết, tôi đã tranh thủ "điều tra khảo sát" về Sento qua lời kể của cậu ta.


「おっ、そろそろ仕事しようぜ」

「Ồ, đến lúc làm việc rồi.」

 

「そうだね」

「Ừ, đi thôi.」


 そして客が帰れば、迅速にテーブルを清掃して、空席を確保する。その後、また取り留めのない話を続ける。

 この繰り返しだけで時給が発生する。

 Và khi khách ra về, chúng tôi nhanh chóng dọn bàn để chuẩn bị chỗ trống. Sau đó lại tiếp tục những câu chuyện không đầu không cuối.

 Chỉ cần lặp đi lặp lại như vậy là tiền lương theo giờ vẫn nảy số.


「じゃあ俺、先に休憩行ってくるわ」

「Vậy tôi đi nghỉ trước nhé.」

 

「OK、代わりに岡原さんをフロアに呼んでほしい」

「OK, nhớ gọi em Okahara ra sảnh thay ông nhé.」

 

「あいよ」

「Rõ rồi.」


 木澤くんが休憩に行き、その穴を埋める形で岡原さんがフロアに来る。ペアが変わっても、やることは同じだ。

 Kizawa đi nghỉ. Em Okahara ra sảnh để lấp vào chỗ trống đó. Dù cộng sự có thay đổi thì công việc vẫn cứ thế tiếp diễn.

 

「あっ、呼び出し。私が行きますね」

「A, có chuông gọi. Để em đi cho ạ.」

 

「ありがとう」

「Cảm ơn em.」

 

 わさびや醤油の容器をアルコールで拭いていると、12番テーブルからの呼び出しがあった。どうやら、小さな子供を連れた母親がジュースを頼んだようだ。今回は遠目からでも、どんな理由で店員を呼び出したのかは理解できた。

 Trong lúc đang lau cồn cho các bình đựng wasabi và nước tương, có tín hiệu gọi từ bàn số 12. Có vẻ như một người mẹ đi cùng con nhỏ đã gọi nước trái cây. Lần này, dù nhìn từ xa, tôi cũng có thể đoán được lý do họ gọi nhân viên.

 

 僕は密かに準備して、岡原さんが戻ってくるのを静かに待つ。

 Tôi bí mật chuẩn bị sẵn sàng và lặng lẽ đợi em Okahara quay lại.


「すいません、そこのストローを取ってほしいで……」

「Xin lỗi anh, anh lấy hộ em cái ống hút ở……」

 

「はい、どうぞ」

「Đây, của em đây.」

 

 彼女の言葉が終わる前にストローを差し出す。前もって予想しておいたのだ。僕だって大人として気が利くところを見せたい。岡原さんは目を丸くしていた。

 Tôi đưa chiếc ống hút ra trước cả khi em ấy kịp dứt lời. Tôi đã dự đoán trước rồi. Là người lớn, tôi cũng muốn thể hiện rằng mình cũng rất tinh ý. Okahara tròn xoe mắt ngạc nhiên.

 

「ありがとうございます、よく気付きましたね!」

「Em cảm ơn ạ, anh để ý giỏi thật đấy!」


「なんとなくだよ」

「Chỉ là đoán mò thôi mà.」

 

「ふふっ、そうなんですか?」

「Hì hì, thật thế ạ?」


 ここは誰が一緒のペアでも仕事がやりやすい職場だ。

 Đây là một nơi làm việc mà dù ghép cặp với ai đi chăng nữa thì công việc cũng đều trôi chảy.

 

 基本的にフロア全体が仲良しというか、そつなく人間関係を構築できる若者が集まっている。こういう岡原さんの愛想の良さだったり、歳上相手に砕けた口調で話すことができる木澤くんだったり。この場にはいないが、片桐さんや丸林さんも沈黙時に話題を振れるタイプの人だ。

 Về cơ bản, toàn bộ nhân viên sảnh đều rất thân thiết, hay nói đúng hơn là nơi đây tập trung những người trẻ có khả năng xây dựng các mối quan hệ một cách khéo léo. Đó là sự niềm nở của Okahara, hay cách Kizawa có thể nói chuyện thân mật với người lớn tuổi hơn. Dù không có mặt ở đây lúc này, nhưng em Katagiri hay chị Marubayashi cũng thuộc kiểu người luôn biết cách khơi gợi câu chuyện khi bầu không khí rơi vào im lặng.


 (でも、当たり前のことではないよな)

 (Nhưng, đây không phải là điều hiển nhiên.)

 

 フロアの従業員同士の結束は確かに強い。それでも接客が主な業務である以上、誰かの機嫌が悪くなる瞬間はあるし、仕事中の意思疎通でギクシャクすることもある。

 Sự gắn kết giữa các nhân viên sảnh quả thực rất mạnh mẽ. Tuy nhiên, một khi dịch vụ khách hàng đã là nhiệm vụ chính, chắc chắn sẽ có những khoảnh khắc ai đó trở nên cáu kỉnh, hay sự giao tiếp trong công việc trở nên lục đục.

 

 それでも従業員同士が仲良しでいられるのは、僕たちが言葉には出さないだけで、うっすらと客の存在を嫌っているからだろう。共通の敵を作ることが結束を強くする。

 Dẫu vậy, lý do khiến các nhân viên vẫn giữ được sự thân thiết có lẽ là vì chúng tôi đều có một nỗi ghét bỏ ngấm ngầm dành cho khách hàng, dù không ai nói ra thành lời. Việc tạo ra một "kẻ thù chung" sẽ giúp sự đoàn kết trở nên bền chặt hơn.

 

 根本的にお客への印象はマイナススタートで、その上で愛想良く接していく。その心構えが若い年齢層のバイトには共通して備わっているように思えた。

 Về cơ bản, ấn tượng về khách hàng luôn bắt đầu từ con số âm, và dựa trên đó, chúng tôi mới thể hiện sự niềm nở của mình. Tôi cảm thấy thái độ này như một điểm chung tiềm ẩn trong bộ phận những người trẻ làm thêm ở đây.

 

 それでいいと思う。所詮はバイトの身であるし、自分の心を保護するための生存戦略は取るべきだ。飲食店の接客を始めて感じたのは、とんでもないモンスターが一般人に紛れて忍び寄ってくることが普通にあることだった。普通に生きていたら出会わないような化け物が、何食わぬ顔で寿司を貪りにくること。その事実を認めたのなら、従業員同士で仲間割れをしている余裕なんてないのだ。

 Tôi nghĩ như vậy cũng tốt. Dẫu sao cũng chỉ là thân phận làm thuê, chúng tôi nên có một "chiến lược sinh tồn" để bảo vệ tâm hồn mình. Điều tôi cảm nhận được kể từ khi bắt đầu làm phục vụ ở quán ăn, đó là việc những "con quái vật" kinh khủng vẫn trà trộn vào đám người bình thường và tiếp cận chúng ta là chuyện hết sức hiển nhiên. Những kẻ quái dị mà nếu sống bình thường ta sẽ chẳng bao giờ gặp, lại đang thản nhiên ngồi ngấu nghiến sushi. Một khi đã chấp nhận sự thật đó, chúng tôi chẳng còn hơi sức đâu mà mâu thuẫn nội bộ nữa.

 

 そうした共通認識がフロアの核となって、僕たちは団結している。それは心強い信頼であるし、僕も年長者としての立ち回りを心がけようと思った。

 Chính nhận thức chung đó đã trở thành cốt lõi, gắn kết chúng tôi thành một khối. Đó là một sự tin tưởng đầy khích lệ, và tôi tự nhủ mình phải luôn lưu tâm để hành xử sao cho xứng đáng với vai trò người lớn tuổi trong nhóm.


「岡原さんは何か趣味とかあるの?」

「Okahara có sở thích gì không em?」

 

「私、バレーの観戦が好きなんですよ!」

「Em thích đi xem bóng chuyền lắm ạ!」

 

「そうなんだ!」

「Vậy hả!」


 しばらく、岡原さんとバレーボールの話題で盛り上がった。彼女は国内リーグの試合を観戦しに行くほど、バレーが好きなようだった。僕もハイキューというスポーツ漫画にハマっていた時期があったので、バレーの競技としてのルールや魅力は知っている。スポーツには世代の垣根を越える力があると実感した。

 Sau đó, tôi và Okahara đã trò chuyện rất rôm rả về chủ đề bóng chuyền. Có vẻ em ấy yêu thích đến mức thường xuyên đi xem các trận đấu trong giải quốc nội. Tôi cũng từng có thời gian mê mẩn bộ truyện tranh thể thao "Haikyuu!!", nên cũng hiểu được luật chơi và sức hấp dẫn của môn thể thao này. Tôi thực sự cảm nhận được rằng thể thao có sức mạnh xóa nhòa rào cản thế hệ.


「ただいま、何の話してんの?」

「Tôi về rồi đây, đang nói chuyện gì thế」

 

「バレーです!」

「Bóng chuyền ạ!」

 

「おかえり、木澤くん」

「Mừng ông quay lại, Kizawa.」


 木澤くんが戻ったので、僕も昼の休憩を取ることにした。

 Vì Kizawa đã quay lại nên tôi quyết định đi nghỉ trưa.


 (今日は色んな人と話したけど、やっぱりウーさんとも話したいな。まだ休憩時間じゃないのかな)

 (Hôm nay mình đã nói chuyện với bao nhiêu người rồi, nhưng quả thật mình vẫn muốn nói chuyện với chị Ước. Chẳng lẽ giờ này chị vẫn chưa được nghỉ sao?)


 事務所でLINEを見返しても、まだ彼女からの既読は付いていなかった。少しだけ心細くなってしまう。

 菓子パンを事務所で頬張っている間、じっとドアの方を見つめていたが、ウーさんが入室することはなかった。

 Trong văn phòng, tôi kiểm tra lại LINE nhưng vẫn chưa thấy chị xem tin nhắn. Lòng tôi bỗng dấy lên một chút hụt hẫng.

 Khi đang ngồi ăn bánh mì ngọt, tôi cứ dán mắt vào cánh cửa, nhưng chị Ước đã không bước vào.


 (仕事するか……)

 (Thôi, làm việc tiếp vậy...)

 

 その後、普通に仕事に戻り、午後のシフトもこなしていく。その後は特に語ることもなく、深夜のラストまで作業は順調に進んだ。朝の11時から夜の11時まで働いていたので、とば寿司の中で半日を過ごした計算になる。

 Sau đó, tôi quay lại với guồng quay công việc, ca làm buổi chiều trôi qua suôn sẻ cho đến tận lúc dọn dẹp cuối ca khuya. Tính từ 11 giờ sáng đến 11 giờ đêm, tôi đã dành nửa ngày cuộc đời mình bên trong Toba Sushi.


「どうした、忘れ物でもあったか?」

「Sao thế, ông quên đồ gì à?」

 

「ううん、何でもないよ」

「Không, không có gì đâu.」

 

 タイムカードを押しながら、まだ仕事に追われている様子の厨房を眺めていた。僕が立ち去る寸前、ウーさんと目が合った。隣の木澤くんに気付かれないように軽く手を振ると、彼女も微笑んで控えめに手を振ってくれた。

 Vừa bấm thẻ chấm công, tôi vừa đưa mắt nhìn về phía bếp vẫn còn đang tất bật. Ngay trước khi rời đi, tôi đã chạm mắt với chị Ước. Tôi khẽ vẫy tay sao cho Kizawa đứng cạnh không nhận ra, và chị cũng mỉm cười vẫy tay lại một cách dè dặt.


「お疲れ様、木澤くん」

「Nghỉ sớm nhé, Kizawa.」

 

「じゃあなー」

「Chào ông nhé!」


 木澤くんに手を振って、事務所を後にする。

 自宅に戻るまで、スマホの通知は見ないことにした。

 その理由は自分でも分からない。

 Tôi chào Kizawa rồi rời khỏi văn phòng. Cho đến khi về tới nhà, tôi quyết định không nhìn vào thông báo điện thoại. Chính tôi cũng không rõ lý do tại sao.


 (ただいま。そして、お疲れ様)

 (Con về rồi đây. Và, vất vả cho mình rồi.)


 自分自身を労いながら、ドアに鍵を差し込んだ。

 部屋の灯りを点けて、背負っていた重いリュックを下ろす。スマホの画面を確認して、ドキッと心臓が跳ねた。

 Tự vỗ về bản thân, tôi tra chìa khóa vào ổ cửa.

 Bật đèn phòng lên, trút bỏ chiếc ba lô nặng trĩu. Khi kiểm tra màn hình điện thoại, tim tôi bỗng nhảy dựng lên một nhịp.


「やばい。疲れた」

「Trời ơi. Mệt quá đi.」


 ウーさんが仕事の休憩中に打ってくれたのだろう。

 こんな返信が届いていた。端的な言葉だけど、僕の疲労を吹き飛ばすには充分すぎるメッセージだ。

 Có lẽ chị Ước đã tranh thủ nhắn trong lúc nghỉ giữa ca. Chỉ là một câu ngắn gọn, nhưng bấy nhiêu thôi cũng đủ để thổi bay mọi mệt mỏi của tôi.


「僕も疲れた、うわぁぁぁ」

「Tôi cũng mệt lả luôn nè, uaaaaa.」


 自分の感情を文章で表現することは、俯瞰して眺めると恥ずかしいものだ。僕は苦笑したが後悔はなかった。

 Việc bày tỏ cảm xúc qua con chữ, nếu nhìn từ góc độ khách quan thì thật là đáng hổ thẹn. Tôi khẽ cười khổ nhưng không hề hối hận.

 

 その送信から30分後。僕が熱いシャワーで疲労を流し切り、とば寿司のはっぴなどが入った洗濯機を回し始めた時だった。ポンポンっと待ち望んでいた軽快な音がした。

 30 phút sau khi gửi đi, khi tôi đã gột rửa mệt mỏi dưới làn nước nóng và bắt đầu bấm máy giặt bộ áo Happi, tiếng "píp píp" mong đợi lại vang lên.


 (ふふっ、ウーさんのスタンプ可愛いな)

 (Hì hì, nhãn dán (stamp) của chị Ước đáng yêu thật đấy.)


「私、明日もシフト。もう帰った?」

「Ngày mai chị vẫn có ca. Em về đến nhà chưa?」

 

「家にいるよ、今日も大変だったね。お疲れ様!」

「Tôi đang ở nhà rồi, hôm nay đúng là vất vả thật đấy chị nhỉ. Chúc chị nghỉ ngơi tốt ạ!」

 

「そうね。私は足が痛い」

「Ừ. Chị đau chân quá.」

 

「ずっと立ってると痛くなるよね」

「Đứng suốt như thế thì đau là phải rồi.」

 

「うん、休憩も遅くなった。ホールの人、多かった?」

「Ừm, ca nghỉ cũng bị muộn nữa. Bên sảnh hôm nay đông người làm không?」

 

「一人休んだから少ない!本当は22時までのシフトだったけど、23時まで延長になった……」

「Có một người nghỉ nên thiếu người chị ạ! Đáng lẽ ca của tôi kết thúc lúc 22 giờ, mà phải làm thêm đến tận 23 giờ……」

 

「そうか、今日は9時から21時までだけど。私は17時に本当は帰りたかった。でもキッチンの人少ないから、だめ」

「Vậy à, hôm nay chị làm từ 9 giờ đến 21 giờ. Thực ra chị muốn về từ lúc 17 giờ cơ, nhưng bên bếp thiếu người nên không được.」

 

「21時まで頑張って偉い。よく頑張ったね!」

「Chị làm đến tận 21 giờ là giỏi lắm rồi. Chị đã cố gắng nhiều rồi!」

 

「ありがとう。もう死んだww」

「Cảm ơn em. Giờ chị chết lả luôn rồi ww」


 時刻は0時を過ぎ、日付が変わって月曜日となる。

 また新しい一週間の始まりだ。

 Đồng hồ đã điểm qua 0 giờ, ngày mới đã chuyển sang thứ Hai. Lại là sự bắt đầu của một tuần mới.


「明日は休みだから、ずっとゴロゴロします」

「Mai tôi được nghỉ nên tôi sẽ nằm ườn ra cả ngày luôn.」

 

「むむっ、私はバイトするよ」

「Hừm, còn chị thì vẫn phải đi làm đây.」

 

「お先に失礼します、ねww」

「Vậy tôi xin phép đi trước nhé ww」


 "お先に失礼します"というのは、とば寿司の従業員が他の人より先に退勤する時の決まり文句のような言葉で。

 僕は苦笑しながら送信を押した。

 "Em xin phép đi trước" (Osaki ni shitsurei shimasu) là câu cửa miệng của nhân viên Toba Sushi khi tan làm trước người khác.

 Tôi mỉm cười nhấn nút gửi.

 

「うらやましいww」

「Ghen tị quá đi ww」

 

「でもね、火曜からは3連勤なんだよ」

「Nhưng mà từ thứ Ba là tôi phải làm 3 ca liên tiếp đấy.」

 

「会わないね、私は月金土日」

「Thế thì không gặp nhau rồi, chị làm Thứ Hai, Sáu, Bảy, Chủ Nhật.」

 

「それは残念だな」

「Tiếc thật đấy chị nhỉ.」

 

「同じ日に入っても、あまり話せないけど」

「Mà dù có vào cùng ngày thì cũng chẳng nói chuyện được mấy.」


 文末に泣いている猫の絵文字が追加されていた。ウーさんがどんな表情で打ったのかは見えないけど。彼女も話したいと思ってくれているなら嬉しい。

 Cuối dòng tin nhắn là một chiếc biểu tượng con mèo đang khóc. Dù không nhìn thấy gương mặt chị lúc này, nhưng nếu chị cũng muốn trò chuyện với tôi, tôi cảm thấy thật hạnh phúc.


「なかなかタイミングが悪いね」

「Đúng là lệch nhịp nhau quá chị nhỉ.」

 

「そうね。火曜は暇だから、アナタの小説を読んでみる」

「Ừ. Thứ Ba chị rảnh nên chị sẽ thử đọc tiểu thuyết của em.」

 

「それは楽しみ」

「Tôi mong chờ lắm đấy.」

 

「じゃね、おやすみ」

「Vậy nhé, ngủ ngon nha.」

 

「おやすみなさい、明日からも頑張ってね」

「Chúc chị ngủ ngon, từ mai lại cố gắng tiếp nhé chị!」

 

「ぜひ」

「Nhất định rồi.」


 そこでLINEの会話は終わった。なんだか、いつも時間が経つのを忘れてしまう。この疲れ知らずの好奇心が嬉しかった。そう感じさせてくれること、そんな自分まで含めて好きでいられた。

 Cuộc trò chuyện LINE kết thúc ở đó. Chẳng hiểu sao, lúc nào tôi cũng quên bẵng cả thời gian. Sự tò mò không biết mệt mỏi này khiến tôi thấy vui. Tôi thích cảm giác này, và thích cả chính bản thân mình khi ở cạnh chị.


 (いい夢が見られそうだな)

 (Chắc là mình sẽ có một giấc mơ đẹp đây.)


 僕は満ち足りた気分で目を閉じた。

 Tôi nhắm mắt lại trong một cảm giác mãn nguyện ngập tràn.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ