あなたの名前
翌朝、茹だるような暑さで目が覚めた。窓の外では、ご機嫌な太陽が陽光を誰彼構わずに振りまいている。そっとカーテンを閉めた。太陽に悪気がなくとも、夜勤明けとは相性が悪い。
Sáng hôm sau, tôi thức dậy bởi cái nóng hầm hập như nung như nấu. Bên ngoài cửa sổ, ông mặt trời đang hăm hở ban phát những tia nắng chói chang cho bất kỳ ai chẳng chừa một ai. Tôi khẽ khàng kéo rèm lại. Dẫu mặt trời chẳng có ý xấu gì, nhưng nó thực sự không "hợp rơ" chút nào với những người vừa tan ca đêm.
(おはようってか、おそようだな)
(Chào buổi sáng... à không, chào buổi trưa mới đúng nhỉ.)
時刻は午前の10時50分。まだ朝食を摂っていないからか、ぐうっと腹の虫が鳴いた。寝起きでポヤポヤとした顔を洗って、炊飯器に無洗米をザァっと流し込む。ちゃんと早炊きの設定にしたので、白米は昼食までに炊き上がる。
Lúc này là 10 giờ 50 phút sáng. Có lẽ vì chưa ăn sáng nên bụng tôi bắt đầu biểu tình "ọc ọc". Với gương mặt vẫn còn lờ đờ vì ngái ngủ, tôi đi rửa mặt rồi đổ ào phần gạo không cần vo vào nồi cơm điện. Tôi đã đặt chế độ nấu nhanh, nên chắc chắn cơm trắng sẽ chín kịp giờ ăn trưa.
だが、おかずも作らないといけない。先週は金曜日から日曜日まで、ずっとシフトだったので、もう冷蔵庫の中身が空っぽなのだ。ジャムやバターで空腹は満たせない。
Thế nhưng, tôi còn phải chuẩn bị cả đồ ăn kèm nữa. Suốt từ thứ Sáu đến Chủ Nhật tuần trước tôi đều vùi đầu vào ca làm, nên cái tủ lạnh giờ đây trống trơn. Mứt hay bơ thì chẳng thể nào lấp đầy cái bụng đói này được.
「今日は暑いね」
「Hôm nay trời nóng quá nhỉ.」
どうでもいいメッセージだと少し躊躇した後、ウーさんにLINEを送信した。もう僕は大人なんだから、話したい相手の前ではありのままでいたい。それに僕たちを繋ぐのは日本語なのだから、日本人の方から積極的に歩み寄るべきだ。僕は、慣れない場所で懸命に働く姿を、異国の言葉でコミュニケーションをとろうとする強さを知っている。
ウーさんが僕と会話する中で、彼女が外国人であることを一つたりとも気後れしてほしくない。
Sau một chút lưỡng lự vì thấy đây là một tin nhắn không đâu vào đâu, tôi vẫn quyết định gửi LINE cho chị Ước. Tôi đã là người lớn rồi, tôi muốn được là chính mình trước mặt người mà mình muốn trò chuyện. Hơn nữa, thứ kết nối chúng tôi chính là tiếng Nhật, nên với tư cách là người Nhật, tôi cần phải là người chủ động tiếp cận nhiều hơn. Tôi hiểu rõ sự mạnh mẽ của chị khi dốc hết sức mình làm việc ở một nơi chưa quen thuộc, cũng như nỗ lực dùng một ngôn ngữ xa lạ để giao tiếp.
Trong những cuộc trò chuyện với tôi, tôi không muốn chị Ước phải cảm thấy rụt rè hay mặc cảm dù chỉ một chút vì mình là người nước ngoài.
(他愛のない話題を切り出したり、即座に既読を付けたり、素早く返信すること。それがどう思われるのかは、僕だって知ってる。そんなことで自尊心を保つより、あなたとの会話が楽しみですって伝えたいんだ)
(Việc khơi gợi những chủ đề tầm phào, xem tin nhắn ngay lập tức hay phản hồi thật nhanh... tôi thừa biết người ta sẽ nghĩ gì về những hành động đó. Nhưng thay vì giữ lấy cái tôi sĩ diện hão, tôi muốn truyền đạt cho chị biết rằng mình rất mong chờ được trò chuyện với chị.)
相手の気持ちになって考えてみる。
小学校の道徳の時間から始まり、僕が小説家を志す前から得意としていたことだ。彼女がベトナム人だからといって、感情移入できる相手ということに変わりない。
Tôi thử đặt mình vào vị trí của đối phương để suy nghĩ.
Đây vốn là điều mà tôi đã được học từ những tiết đạo đức ở tiểu học, và cũng là sở trường của tôi ngay từ trước khi nung nấu ý định trở thành một tiểu thuyết gia.Dù chị ấy có là người Việt Nam đi chăng nữa, thì chị vẫn là một người mà tôi có thể đồng cảm và thấu hiểu.
(ゆっくり落ち着いて話したいし、ウーさんの返信が来る前に買い物を終わらせよう)
(Mình muốn trò chuyện một cách thong thả và bình tâm, nên phải đi mua sắm xong xuôi trước khi chị Ước trả lời mới được.)
ぱっと外に出る準備を済ませる。こういう時に外行きのメイクやアウターで悩まなくていいのは男の特権だ。半袖シャツと半ズボンの上から日焼け対策に薄手のパーカーを羽織って、僕は炎天下の外へ一歩を踏み出した。
Tôi nhanh chóng chuẩn bị để ra ngoài. Trong những lúc thế này, việc không phải đau đầu vì trang điểm hay chọn áo khoác ra đường đúng là đặc quyền của đàn ông. Khoác thêm chiếc áo hoodie mỏng bên ngoài áo thun ngắn tay và quần đùi để chống nắng, tôi bước chân ra ngoài trời nắng như đổ lửa.
(会話のネタとかじゃなくて、本当に暑い……)
(Không phải là chuyện để tán gẫu đâu, mà là trời nóng thật sự luôn ấy...)
スーパーから汗だくで帰宅する。しっかりと石鹸で手を洗ってから、買ってきた食材のパックを開封した。
Tôi trở về nhà trong tình trạng mồ hôi nhếch nhác sau khi đi siêu thị. Sau khi rửa tay thật kỹ bằng xà phòng, tôi bắt đầu mở những khay thực phẩm vừa mua về.
外出から帰ったら、まず手を洗う。
この辺の気配りはコロナ禍における大学生活で鍛えられている。大学一年生になった初秋の頃、自分の衛生管理が原因で食中毒になってから深く反省したのだ。
Về đến nhà là phải rửa tay ngay lập tức.
Ý thức giữ gìn vệ sinh này của tôi đã được rèn giũa qua những ngày sống thời đại học giữa đại dịch Covid. Hồi đầu mùa thu năm nhất, tôi đã phải kiểm điểm sâu sắc bản thân sau khi bị ngộ độc thực phẩm do chính sự quản lý vệ sinh kém cỏi của mình.
当時の僕は節約も兼ねて、お徳用の肉のパックを買っては全ての肉を一度にフライパンで炒めて、その作り置きを一週間かけて食べ切るという食生活だった。ある時、いつものように一週間分の野菜炒めを作った。野菜の水分が原因だろう。三日を過ぎた辺りからネチョっとした舌触りがするようになった。それでも食材が勿体無いので、僕は腐りかけの野菜炒めを食べ続けることにした。それくらい、僕の初めての一人暮らしは食に対する自衛の意識が働いていなかった。だから自業自得な結末を迎えることになる。
Hồi đó, phần vì muốn tiết kiệm, tôi thường mua những khay thịt lớn giảm giá, xào hết một lượt trên chảo rồi chia ra ăn dần trong suốt cả tuần. Có lần, tôi cũng làm một mẻ rau xào cho một tuần như mọi khi. Chắc là do nước từ rau tiết ra, nên từ ngày thứ ba trở đi, món ăn bắt đầu có cảm giác nhớp nháp khi chạm vào đầu lưỡi. Thế nhưng vì tiếc của, tôi vẫn nhắm mắt nhắm mũi ăn tiếp món rau xào đã bắt đầu ôi thiu đó. Lúc đó, ý thức tự vệ trong ăn uống của một kẻ lần đầu sống một mình như tôi thực sự chưa tồn tại. Và thế là tôi phải nhận một kết cục tự làm tự chịu.
その数日後の話だった。
急な高熱と吐き気に苦しみながら、朦朧とする意識の中で思い浮かんだのはコロナという可能性だった。そこで普段の食生活に思い至らない辺り、本当に無知というのは恐ろしい。正常性バイアスだろうか、当時の僕は自炊において謎の万能感を抱いていたのだと記憶している。
Chuyện xảy ra vài ngày sau đó.
Giữa cơn sốt cao đột ngột và cảm giác buồn nôn quằn quại, trong tâm trí mơ màng, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là khả năng mình bị nhiễm Covid. Cái sự thiếu hiểu biết đến mức không mảy may nghi ngờ chế độ ăn uống hằng ngày của mình đúng là thật đáng sợ. Tôi nghĩ lúc đó mình đã mắc phải "định kiến bình thường hóa" (normalcy bias) đối với việc ngộ độc thực phẩm khi tự nấu nướng.
まだ運転免許を持っていなかったので、徒歩で近くの病院へ向かうも、当然のごとくPCR検査は陰性だった。申し訳ありませんがコロナ患者でないなら当院では受け入れられません、と医療機関に見放されてしまう絶望を十八歳という若さにして味わった。
Vì không có bằng lái xe, tôi phải đi bộ đến bệnh viện gần đó, và lẽ dĩ nhiên, kết quả xét nghiệm PCR là âm tính. "Rất xin lỗi nhưng nếu cậu không phải bệnh nhân Covid thì bệnh viện chúng tôi không thể tiếp nhận", tôi đã nếm trải cảm giác tuyệt vọng khi bị cơ sở y tế bỏ mặc ngay ở cái tuổi 18 trẻ măng.
(いっそ、コロナと診断されたかったな)
(Thà rằng lúc đó mình bị chẩn đoán mắc Covid cho xong.)
病院側も手一杯なことは理解していたので、その場は静かに頭を下げて撤退した。その場を追い出された怒りよりも、誰にも頼ることができない悲しみが大きかった。
Tôi hiểu bệnh viện cũng đang quá tải, nên chỉ lặng lẽ cúi đầu rút lui. Thay vì tức giận vì bị đuổi đi, nỗi đau vì không thể dựa dẫm vào ai mới là điều lớn lao hơn cả.
その数時間後、最後の頼みの綱であるバイト先で親しくしていた歳上のお姉さんに助けを求めた。その結果、心優しい彼女が手厚く看病してくれたことで僕の体調は回復した。そのお姉さんの名は柚城さんという。
Vài tiếng sau, tôi tìm đến sự giúp đỡ của một người chị khóa trên thân thiết ở chỗ làm thêm – tia hy vọng cuối cùng. Kết quả là nhờ sự chăm sóc tận tình của người chị nhân hậu đó, sức khỏe của tôi đã hồi phục. Chị ấy tên là Yuzuki.
命の恩人である彼女とは、その三ヶ月後の冬に交際することになった。そして大学三年生の夏に別れた。彼女と付き合った日々で、僕の暮らしに対する意識は大幅に改善された。お徳用のパックで食費を節約して、一人では食べ切れない量を作り置きして、それで胃袋を満たすという刹那的な生き方は辞めた。また食中毒になったら、節約費より医療費がかかってしまう。その決意を柚城さんに伝えると、彼女は腹を抱えて笑っていた。
Ba tháng sau đó, vào mùa đông, tôi đã bắt đầu hẹn hò với người ân nhân cứu mạng mình. Và chúng tôi chia tay vào mùa hè năm thứ ba đại học. Những ngày tháng yêu chị đã giúp ý thức về lối sống của tôi được cải thiện rõ rệt. Tôi từ bỏ lối sống tạm bợ kiểu tiết kiệm tiền ăn bằng những khay thịt lớn, nấu một lượng đồ ăn mà một mình không thể ăn hết rồi nhồi nhét vào dạ dày. Bởi nếu lại bị ngộ độc thực phẩm, tiền viện phí sẽ còn tốn kém hơn cả tiền tiết kiệm được. Khi tôi nói quyết tâm đó với chị Yuzuki, chị đã cười đến mức ôm cả bụng.
コロナかと思えば食中毒だった体験は、今では一生の笑い話となっている。ただ、朦朧とする意識でアスファルトを踏みつけながら、このまま路上で死ぬのは嫌だと泣きそうになったこと。あの時の気持ちを一生忘れることはない。
Trải nghiệm tưởng nhầm ngộ độc thực phẩm là Covid giờ đây đã trở thành một câu chuyện cười cả đời. Thế nhưng, cái cảm giác vừa bước đi trên mặt đường nhựa với ý thức mơ màng, vừa chực trào nước mắt vì ý nghĩ không muốn phải chết gục bên lề đường thế này…… tôi sẽ không bao giờ quên được cảm giác đó.
それからだろう。どんなことに対しても、生存戦略という概念を、生活の根幹において考えるようになったのは。
Kể từ đó, dù là trong bất cứ việc gì, tôi cũng bắt đầu đặt khái niệm "chiến lược sinh tồn" làm nền tảng cho cuộc sống của mình.
それは一人暮らしも、恋人がいる場合も同じだ。
人間、常に誰かと一緒にいられる理屈はないのだから。
Dù là khi sống một mình, hay khi có người yêu cũng vậy.
Bởi con người ta chẳng có lý lẽ nào để có thể luôn ở bên cạnh một ai đó mãi được.
(たぶん、僕の生存戦略は……ちゃんとする、だな)
(Có lẽ, chiến lược sinh tồn của mình là... phải thật chỉn chu.)
フライパンを火にかける前に、IHのコンロをアルコールシートで軽く除菌する。サラダ油をフライパンに流し入れて、しっかりと元の場所に戻す。もやしが入った袋の包装を中身が飛び散らないようにゆっくりと静かに開けた。
Trước khi đặt chảo lên bếp, tôi dùng khăn giấy tẩm cồn lau sơ qua mặt bếp từ. Đổ dầu ăn vào chảo rồi cẩn thận cất chai dầu về chỗ cũ. Tôi từ tốn và lặng lẽ xé bao bì gói giá đỗ để bên trong không bị vương vãi ra ngoài.
丁寧な所作が平穏な暮らしを導くのだ。
Những cử chỉ tỉ mỉ sẽ dẫn lối cho một cuộc sống bình yên.
肉と野菜の焼ける匂い。フライパンを軽く揺らしていると、ポケットの中でポンっと通知音が鳴った。でも、その内容を確認したりはしない。僕にとって、調理中にスマホを触るのは、ちゃんとしていない行動だから。
Mùi thịt và rau cháy cạnh thơm phức. Trong lúc đang lắc nhẹ chảo, túi quần tôi vang lên một tiếng "píp" báo hiệu có thông báo. Nhưng tôi không kiểm tra ngay. Đối với tôi, việc vừa nấu ăn vừa chạm vào điện thoại là một hành động "không chỉn chu".
しかし、心のどこかで気になってしまう自分もいて。
Thế nhưng, sâu thẳm trong lòng, tôi vẫn không khỏi bồn chồn.
僕はソワソワとしながら、豚肉ともやしの炒め物を完成させた。ご飯とおかずを器に盛り付けた後、スマホを焦るように取り出す。メッセージの相手は想像通りだった。
Tôi vừa nôn nóng vừa hoàn thành món thịt lợn xào giá đỗ. Sau khi xới cơm và bày biện thức ăn ra bát, tôi vội vã lấy điện thoại ra. Người gửi tin nhắn đúng như tôi dự đoán.
「本当に。今日は学校やんでBBQに行ったよ」
「Thật sự luôn. Hôm nay chị nghỉ học đi ăn BBQ này.」
学校を休んでBBQをしたのか、課外授業の一環としてBBQが行われたのか。このニュアンスから読解するのは難しかった。それでも日本語で近況を報告してくれること、その優しさが本当に嬉しかった。
Là chị nghỉ học để đi ăn BBQ, hay BBQ là một phần của tiết học? Thật khó để đọc hiểu được sắc thái này. Dẫu vậy, việc chị dùng tiếng Nhật để báo cho tôi biết tình hình hiện tại, sự dịu dàng đó khiến tôi thực sự hạnh phúc.
「ほら、みて」
「Này, xem đi.」
5秒ほどの短い動画が添付されてきた。そこには野外のBBQ施設で、大人数の外国人が肉や野菜を焼いている様子が映し出されていた。撮影者であろうウーさんが動画に出演していないのは残念だったが、彼女が非日常を楽しんでいることは画面越しにも伝わってくる。僕は豚肉ともやしの炒め物を頬張りながら、動画の中の分厚いソーセージを凝視した。きっと豪快にかぶりつけば、肉汁が口いっぱいに広がることだろう。とても羨ましいと思った。
Một đoạn video ngắn khoảng 5 giây được đính kèm. Trong đó quay cảnh một nhóm đông người nước ngoài đang nướng thịt và rau tại một khu dã ngoại ngoài trời. Thật đáng tiếc là chị Ước – người quay phim – không xuất hiện trong clip, nhưng tôi vẫn cảm nhận được chị đang tận hưởng khoảnh khắc dã ngoại đó qua màn hình. Vừa nhai món thịt lợn xào giá đỗ, tôi vừa dán mắt vào những chiếc xúc xích dày cộp trong video. Chắc hẳn khi cắn một miếng thật to, nước thịt sẽ tràn ngập trong khoang miệng cho mà xem. Tôi thấy ghen tị vô cùng.
「美味しそう、大きなソーセージだね!」
「Trông ngon quá, xúc xích to thật đấy」
「今日は家でゆっくり?」
「Hôm nay em nghỉ ngơi ở nhà à?」
「うん、ゆっくりしてるところだよ」
「Vâng, tôi đang thong thả ở nhà đây.」
「外は暑い。冷たい飲み物が飲みたい!」
「Ở ngoài nóng lắm. Chị muốn uống cái gì đó thật lạnh!」
「ジュース飲みたいね」
「Muốn uống nước trái cây quá nhỉ.」
しばらく次の返信まで空白の時間が流れた。
Một khoảng lặng trôi qua cho đến tin nhắn tiếp theo.
「バイト休みたい」
「Chị muốn nghỉ làm thêm quá.」
そういえば、ウーさんは自転車で通勤していた。汗だくでペダルを漕ぐ辛さはよく分かる。
Nhắc mới nhớ, chị Ước đi làm bằng xe đạp. Tôi hiểu rất rõ cái sự cực nhọc khi phải gò lưng đạp xe giữa trời nắng mồ hôi nhễ nhại.
「自転車は大変だよね」
「Đi xe đạp vất vả thật đấy chị nhỉ.」
「そうね、40分くらい」
「Ừ, mất khoảng 40 phút đấy.」
「それは遠い」
「Xa thế ạ.」
次の返信は16時頃だった。
Tin nhắn tiếp theo đến vào khoảng 16 giờ.
「夜、何する?小説か絵?」
「Tối nay em làm gì? Viết tiểu thuyết hay vẽ tranh?」
「夜は小説を書くかな。お昼は絵を描いたよ」
「Tối nay chắc tôi sẽ viết tiểu thuyết. Còn buổi trưa tôi đã vẽ tranh rồi.」
本当は何も描いていないけど。何もしていない自堕落さを晒すよりは、常に会話の接ぎ穂を探すような自分でいたいと思う。僕はスケッチブックをめくって、まだウーさんに見せていない絵の写真を撮った。海外でも有名なコミックの男性キャラの模写。
Thực ra tôi chẳng vẽ gì cả. Nhưng thay vì phơi bày sự lười biếng của bản thân, tôi muốn mình luôn là người chủ động tìm kiếm đề tài để duy trì cuộc trò chuyện. Tôi lật cuốn sổ phác thảo, chụp lại bức ảnh một bức vẽ mà tôi chưa cho chị xem. Đó là bức vẽ mô phỏng một nhân vật nam trong một bộ truyện tranh nổi tiếng thế giới.
「上手だ、この男はかっこいいね」
「Vẽ đẹp quá, anh chàng này nhìn ngầu thật đấy.」
「ありがとう。そろそろバイトでしょ。応援してるね」
「Cảm ơn. Sắp đến giờ làm rồi nhỉ. Chúc chị làm việc tốt nhé!」
ウーさんの返信は意外なものだった。
Câu trả lời của chị Ước thật bất ngờ.
「疲れたので木曜日に変更した。今日バイトできない」
「Mệt quá nên chị đổi sang thứ Năm rồi. Hôm nay chị không đi làm đâu.」
「そうなんだ、木曜日ならシフト一緒だね」
「Vậy ạ, nếu là thứ Năm thì chúng ta lại cùng ca rồi.」
「そうね。あまり会わないけどww」
「Ừ nhỉ. Mà cũng chẳng gặp nhau mấy đâu ww」
「水道の前で顔を合わせるだけ。悲しいww」
「Chỉ chạm mặt nhau lúc ở trước bồn rửa tay thôi. Buồn quá đi ww」
そう。ウーさんとシフトが被ったとしても、確実に話せるのは仕事が始まる直前の手を洗っている瞬間だけ。そのタイミングを逃すと、のんびりと話している確かな時間は訪れない。
Đúng vậy. Dẫu có trùng ca với chị Ước, thì khoảnh khắc chắc chắn có thể nói chuyện chỉ là lúc cả hai cùng rửa tay ngay trước khi bắt đầu công việc. Ngoài thời điểm đó ra, chẳng có lúc nào thong thả để mà trò chuyện cả.
彼女のシフトが無くなったなら、今日はゆっくりと話せるだろうか。シャボン玉のような願いが弾けた。
Nếu hôm nay chị nghỉ làm, liệu chúng tôi có thể nói chuyện nhiều hơn không? Một điều ước mỏng manh như bong bóng xà phòng vừa khẽ lóe lên trong tôi.
「マジうけるね」
「Mắc cười quá đi mất (Maji ukeru ne).」
急にギャルみたいな口調になったウーさん。どう返すべきか、僕が戸惑っていると、次のLINEが届いた。
Chị Ước bỗng dưng dùng giọng điệu như mấy cô nàng cá tính (Gyaru). Trong lúc tôi còn đang bối rối không biết nên trả lời thế nào thì tin nhắn tiếp theo đã đến.
「あの、私の感じだけど。日本人ほとんど内向的だね。知らない人と話すことはめったにない」
Đây là cảm nhận của chị thôi nhé. Người Nhật hầu hết đều hướng nội nhỉ. Hiếm khi thấy họ nói chuyện với người lạ.
「もっと日本人と話したい?おしゃべりしたい?」
「Chị muốn nói chuyện với người Nhật nhiều hơn à? Chị muốn tán gẫu nhiều hơn sao?」
「そういうわけではないけど、ベトナム人と反対だと思うだけ。ベトナム人はいつでも誰とでもいっぱい話すww」
「Cũng không hẳn là vậy, chỉ là chị thấy ngược lại hoàn toàn với người Việt Nam thôi. Người Việt lúc nào cũng có thể nói chuyện thật nhiều với bất kỳ ai ww」
ちょっと心に棘が刺さったような気がした。
Tôi cảm thấy như có một chiếc gai nhỏ vừa đâm nhẹ vào lòng.
「日本人は恥ずかしがりだね。僕も眠くなったら内向的になっちゃうw」
「Người Nhật hay ngại ngùng mà. Ngay cả tôi, lúc buồn ngủ cũng trở nên hướng nội lắm w」
「あなた優しそう。私会話よくないから、日本人とあまり話さない。何言ったか分からなくて心配!」
「Em trông có vẻ hiền lành. Chị không giỏi giao tiếp lắm nên không hay nói chuyện với người Nhật. Chị lo là mình không hiểu họ đang nói gì!」
優しそうだと明言されたのは本当に嬉しい。
Được khen là "tử tế" một cách rõ ràng như vậy khiến tôi thật sự hạnh phúc.
「会話で翻訳は使えないね」
「Khi đối thoại trực tiếp thì không thể dùng máy dịch được nhỉ.」
「そう。知らない言葉が多いから」
「Đúng vậy. Vì có nhiều từ chị chưa biết mà.」
「僕はベトナムの人と話すの楽しいよ」
「Tôi thì thấy nói chuyện với người Việt Nam vui lắm.」
ベトナム人というか、ウーさんと話すのが楽しい。
Đúng hơn là nói chuyện với chị Ước rất vui.
「面白いベトナム人は多い。日本人もね。よくベトナム人は喫茶店で友人と会い、長い時間話し続けるよww」
「Người Việt Nam thú vị nhiều lắm. Người Nhật cũng vậy. Người Việt hay gặp bạn bè ở quán cà phê rồi ngồi buôn chuyện cả buổi trời luôn ww」
「どれくらい長いの?」
「Dài khoảng bao lâu cơ ạ?」
「10時間を超えることもある。話いっぱいね」
「Có khi hơn 10 tiếng đồng hồ luôn đấy. Nói đủ thứ chuyện trên đời.」
「どんな話する?」
「Mọi người hay nói về chuyện gì thế?」
「いろんな話だよ。家族、学校、友達、仕事、楽しいこと、寂しいことなど。なんでもいい」
「Nhiều chuyện lắm. Gia đình, trường lớp, bạn bè, công việc, chuyện vui, chuyện buồn…… Chuyện gì cũng được hết.」
「話題が無くならないなら、何時間でも話せるね。休憩時間だと短すぎて話し切れないか」
「Nếu không bao giờ hết chuyện để nói thì đúng là có thể ngồi bao lâu cũng được nhỉ. Có vẻ giờ nghỉ lao ở quán là quá ngắn để nói hết chuyện rồi.」
「そうね。日本人も同じかな。よくおしゃべる?」
「Đúng thế. Người Nhật cũng vậy à? Có hay tán gẫu (O-shaberu) không?」
外国人の使う日本語の誤字はとても可愛い。
Những lỗi sai hay cách dùng từ của người nước ngoài khi nói tiếng Nhật thật sự rất đáng yêu.
僕は少しだけ悩んだ。"おしゃべり"を漢字に変換するのが優しさか。それとも"おしゃべり"のままで、ウーさんが読みやすいように気を遣うのが最適解か。
Tôi hơi băn khoăn một chút. Liệu việc chuyển từ "おしゃべり" (O-shaberi) sang Hán tự "お喋り" có phải là một sự tử tế không? Hay cứ để nguyên như vậy để chị Ước dễ đọc hơn mới là phương án tối ưu?
この何気ない会話も彼女の語学勉強の一助になっているのかもしれない。ゆっくりと文字を打ち込んだ。
Có lẽ ngay cả cuộc trò chuyện bình dị này cũng đang góp phần giúp chị ấy học tiếng. Tôi chậm rãi gõ từng chữ.
「お喋りはするけど、話すスピードがゆっくりだと思う。相手に自分の言葉を聞き取ってもらえるように、ゆっくりと話すかな」
「Người Nhật cũng có nói chuyện (tán gẫu) chứ, nhưng tôi nghĩ tốc độ nói sẽ chậm hơn. Chắc là mọi người nói chậm để đối phương có thể nghe rõ lời của mình chăng.」
「そうね、早く話すと全然分からない」
「Đúng đấy, nói nhanh là chị chịu chết, không hiểu gì luôn.」
「忙しい仕事中だと早口になっちゃいそうだね。次会う時はゆっくり話すからねw」
「Lúc công việc bận rộn chắc mọi người dễ nói nhanh lắm nhỉ. Lần tới gặp nhau, tôi sẽ nói thật chậm với chị nhé w」
「よろしくねww」
「Trăm sự nhờ em nhé ww」
"よろしく"されてしまった。僕が画面を見つめながら、気持ち悪い笑みを浮かべていると、スマホが振動した。
Tôi vừa bị "nhờ vả" mất rồi. Trong khi tôi đang dán mắt vào màn hình với một nụ cười mà có lẽ trông sẽ hơi kỳ quặc, thì chiếc điện thoại bỗng rung lên.
「日本人は一人暮らしでも大丈夫だけど。寂しいと感じて帰国したベトナム人は多いよ」
「Người Nhật sống một mình cũng không sao, nhưng có nhiều người Việt Nam vì cảm thấy cô đơn quá nên đã về nước rồi đấy.」
「外国の一人暮らしで、楽しく話せる相手もいないと寂しいよね」
「Sống một mình ở nước ngoài mà không có ai để trò chuyện vui vẻ thì đúng là cô đơn thật nhỉ.」
「そうね、友人もいない、家族もいない、最近は悪いベトナム人もたくさんいる。それは問題だね」
「Đúng vậy, không có bạn bè, không có gia đình, gần đây còn có nhiều người Việt xấu nữa. Đó là vấn đề lớn đấy.」
僕は首を傾げた。
Tôi khẽ nghiêng đầu suy nghĩ.
「危ない人か。犯罪ってこと?」
「Những người nguy hiểm à? Ý chị là tội phạm sao?」
「そう、気をつけてね。私もベトナム人だけど怖い」
「Đúng vậy, em cẩn thận nhé. Chị tuy là người Việt nhưng chị cũng thấy sợ.」
「分かった、走って逃げるよ」
「Tôi biết rồi, thấy là tôi sẽ vắt chân lên cổ mà chạy.」
ウーさんは怖いという言葉を使った。
Chị Ước đã dùng từ "sợ".
最近、日本での外国人による犯罪がメディアで報じられる機会も増えた。そんな時の彼女は、どれほど肩身の狭い思いをして、明日に不安を感じてしまうのか。異国で同胞を信じきれないという寂寥感が伝わってきた。
Gần đây, những vụ tội phạm do người nước ngoài thực hiện tại Nhật Bản được truyền thông đưa tin ngày một nhiều hơn. Mỗi khi như vậy, chị đã phải cảm thấy mặc cảm, tự ti đến nhường nào, và đã lo lắng cho tương lai ra sao? Tôi có thể cảm nhận được nỗi cô đơn đến thắt lòng của chị khi không thể đặt trọn niềm tin vào chính những người đồng hương nơi xứ lạ.
「ウーさんは寂しい?」
「Chị Ước có đang thấy cô đơn không?」
「そうだと思うね。私の友達みんな優しい」
「Chị nghĩ là có đấy. Bạn bè của chị ai cũng hiền lắm.」
「日本語学校の友達?」
「Bạn ở trường tiếng Nhật ạ?」
「うん、ベトナムでの友達も」
「Ừ, và cả bạn ở Việt Nam nữa.」
大人数の集合写真が送られてきた。撮ったのはウーさんなのだろう。本人の顔の半分が見切れているのが微笑ましい。
Một tấm ảnh tập thể đông người được gửi đến. Chắc là do chị Ước chụp, gương mặt chị bị cắt mất một nửa trong khung hình trông thật đáng yêu.
「たくさんの友達だね」
「Nhiều bạn quá nhỉ.」
「私の親友だよ。全然ベトナム人。優しい人ww」
「Đó là những người bạn thân nhất của chị. Toàn là người Việt Nam thôi. Họ là những người rất tử tế ww」
「心の支えだね」
「Họ đúng là chỗ dựa tinh thần của chị nhỉ.」
「あなたは高校の友達と仲が良い?」
「Em có thân với bạn bè thời cấp ba không?」
少しばかり答えにくい質問だった。
Đó là một câu hỏi hơi khó trả lời đối với tôi.
僕の地元は栃木県で、生まれてから高校を卒業するまでそこにいた。大学は新潟県で、今は千葉県に住んでいる。
それぞれの場所で友達は確かにいたのだと思う。
Quê tôi ở Tochigi, tôi đã sống ở đó từ lúc mới lọt lòng cho đến khi tốt nghiệp cấp ba. Đại học thì tôi học ở Niigata, và hiện tại tôi đang sống ở Chiba.
Ở mỗi nơi, tôi nghĩ mình đều từng có những người gọi là bạn.
(LINEの繋がりって苦手なんだよな。僕がSNSでの距離感を踏み間違えやすいだけで、親友とまで呼べる相手が少ないのは自業自得なんだけども)
(Mình vốn không giỏi duy trì các mối quan hệ trên LINE cho lắm. Chẳng qua là mình dễ mắc sai lầm trong việc giữ khoảng cách trên mạng xã hội, và việc có ít người để gọi là bạn thân cũng là do mình tự làm tự chịu mà thôi.)
逆に考えれば、僕の交友関係が少数精鋭ということでもある。こんな面倒な男と繋がりを持っているのだから。
Nhưng nghĩ ngược lại, điều đó có nghĩa là các mối quan hệ của tôi thuộc kiểu "ít nhưng chất". Bởi vì họ vẫn giữ kết nối với một kẻ rắc rối như tôi mà.
僕はコミュニティが変わると、人付き合いが億劫になってしまう薄情な人間だ。大抵の交友関係は引っ越しするたびに自然消滅していくし、その寂しさを引きずってしまうこともない。もう顔も合わせない、LINEのペースも合わない相手となると、薄っすらと嫌いになってしまう。
Tôi là kiểu người bạc bẽo, hễ thay đổi môi trường sống là lại thấy việc duy trì các mối quan hệ trở nên phiền phức. Hầu hết bạn bè đều tự nhiên mất liên lạc mỗi khi tôi chuyển nhà, và tôi cũng chẳng mấy khi luyến tiếc nỗi cô đơn đó. Với những người không còn gặp mặt, cũng không còn cùng nhịp điệu nhắn tin, tôi thậm chí còn cảm thấy hơi ghét họ một chút.
唯一の例外を挙げるとすれば、中学校の同級生だった男友達くらいか。高校生の時は疎遠だったが、大学生になって一緒にゲームをする仲になった。今でも暇な時間に通話をしている。もう四年以上のゲーム友達だ。
Ngoại lệ duy nhất có lẽ là cậu bạn thân từ thời cấp hai. Hồi cấp ba chúng tôi từng xa cách, nhưng lên đại học lại trở thành bạn cùng chơi game. Đến giờ, chúng tôi vẫn thường xuyên gọi điện nói chuyện lúc rảnh rỗi. Đã là bạn game hơn bốn năm rồi.
「あまり会わないね。でも一人だけ、ゲームを一緒にする友達がいるよ。その人とは仲が良いんだと思う」
「Tôi cũng ít khi gặp bạn bè lắm. Nhưng tôi có một người bạn duy nhất hay chơi game cùng. Tôi nghĩ mình khá thân với người đó.」
「そうか、今は近くに住んでいないからね」
「Vậy hả, vì bây giờ hai người không ở gần nhau mà nhỉ.」
「栃木→新潟→千葉で引越しをしているからね。色んな県を移動しているから、いつでも会えるわけではない」
「Vì tôi đã chuyển nhà từ Tochigi sang Niigata rồi đến Chiba mà. Di chuyển qua nhiều tỉnh như vậy nên không phải lúc nào cũng gặp được.」
「でも、いいと思うよ。一緒にゲームすること」
「Nhưng chị nghĩ chơi game cùng nhau cũng tốt mà.」
「最近は二人とも忙しいから、あまり遊んでないけどね」
「Dạo này cả hai đều bận nên cũng ít chơi rồi.」
もう彼も社会人だ。4月から医療大学の事務局に就職を決めたと報告してもらった。友達の門出は素直に応援したい。だから、しばらく一緒にゲームするのはお預けだ。
Cậu ấy giờ cũng đã là người của xã hội. Cậu ấy đã báo tin cho tôi rằng từ tháng 4 này sẽ bắt đầu làm việc tại văn phòng của một đại học y khoa. Tôi thực lòng muốn ủng hộ khởi đầu mới của bạn mình. Vì vậy, chuyện cùng nhau leo rank chắc phải gác lại một thời gian rồi.
「そうね。私も最近ゲームしない。友達に、まだ生きているかって聞かれたww」
「Đúng thế. Dạo này chị cũng không chơi game. Bạn chị còn hỏi là chị còn sống không đấy ww」
「ウーさん、昨日は死んでたねw」
「Hôm qua chị Ước 'ngỏm' thật mà ww」
「大変、勉強もバイトもww」
「Vất vả lắm, cả việc học lẫn việc làm thêm ww」
「今は漢字を練習している、みたいな。前に日本語の勉強のことを教えてくれた気がする」
「Có vẻ như giờ chị đang luyện chữ Hán nhỉ. Hình như trước đây chị có kể cho tôi nghe về việc học tiếng Nhật rồi thì phải.」
もうすぐ18時となる。喉が渇いてきた。
冷蔵庫から麦茶を取り出して、コップに注ぐ。
Đồng hồ sắp điểm 18 giờ. Cổ họng tôi bắt đầu thấy khô khát.
Tôi lấy bình trà lúa mạch từ trong tủ lạnh ra và rót vào ly.
「そうね。ああ、大変。ベトナム語言いたいww」
「Đúng thế. Ôi, vất vả lắm. Chị chỉ muốn nói tiếng Việt thôi ww」
「それはペンで書くの?それともキーボード?」
「Chị viết bằng bút hay gõ bàn phím ạ?」
「何?漢字?」
「Cái gì cơ? Chữ Hán ấy hả?」
「うん、漢字は何を使って書くの?」
「Vâng, chị dùng gì để viết chữ Hán?」
「ペンで書くのは大変、覚えることできない」
「Viết bằng bút thì vất vả lắm, không tài nào nhớ nổi.」
「そうなの!?」
「Vậy sao ạ!?」
「そう、パソコンで大丈夫と思うけど」
「Ừ, chị nghĩ dùng máy tính thì chắc không sao.」
「初めて知った!」
「Lần đầu tôi biết luôn đó!」
「私のクラスメイト、漢字が難しいと言ったよ」
「Bạn cùng lớp của chị cũng bảo chữ Hán khó lắm.」
「そっか、バイトの名札はカタカナでいいね」
「Ra vậy, thảo nào bảng tên ở chỗ làm thêm ghi bằng Katakana là tốt rồi.」
「そうね」
「Đúng thế.」
こっそりとウーさんのフルネームは覚えた。今こそ暗記の成果を見せる時だ。
Tôi đã bí mật ghi nhớ cả họ lẫn tên của chị Ước. Đây chính là lúc để phô diễn thành quả học thuộc lòng của mình.
「ブージャタオウー」
「Bu-ja-tao-u」
「ヴージャタオウー」
「Vu-ja-tao-u」
「あれ、ヴーだった。ごめん!」
「Ơ, là Vũ cơ ạ. Xin lỗi!」
……ケアレスミスをしてしまった。
……Tôi đã mắc một lỗi sơ đẳng.
「すごいね。よく覚えているww」
「Giỏi quá nhỉ. Em nhớ kỹ thật đấy ww」
「覚えることは得意!」
「Tôi giỏi nhất là ghi nhớ mà!」9
「ウーは読みやすいでしょ?」
「Tên Ước (U) thì dễ đọc mà đúng không?」
「うん」
「Vâng ạ.」
「ベトナム語で"Ước"だよ」
「Trong tiếng Việt là 'Ước' đấy.」
「どんな意味なの?」
「Nó có nghĩa là gì vậy chị?」
「願い」
「Là nguyện ước.」
それが初めてウーさんから教わったベトナム語だった。
Đó là từ tiếng Việt đầu tiên mà tôi được chị Ước dạy cho.
「うん、ヴーはベトナム人の名字。ジャはおとなしいことかも。タオは親孝行だ。そしてウーが願い」
「Ừm, Vũ là họ của người Việt. Gia chắc là hiền lành/nhã nhặn. Thảo là hiếu thảo với cha mẹ. Và Ước là tâm nguyện.」
「ありがとう。ずっと覚えておくね」
「Cảm ơn chị. Tôi sẽ nhớ mãi.」
「私の名は覚えやすくて、呼びやすいね。そして漢字よりも書きやすいww」
「Tên của chị vừa dễ nhớ vừa dễ gọi nhỉ. Lại còn dễ viết hơn chữ Hán nữa ww」
「漢字じゃなくて良かったねww」
「May mà tên chị không phải là chữ Hán đấy nhé ww」
ふと感じたことがあって文字を打ち込んだ。ウーさんが少しでも日本語の勉強を好きになってくれたら嬉しい。
Bất chợt nảy ra một ý nghĩ, tôi liền gõ chữ. Tôi sẽ rất vui nếu có thể giúp chị Ước yêu thích việc học tiếng Nhật hơn dù chỉ một chút.
「願いは日本語だと"夢"って書く時があるよ」
「Trong tiếng Nhật, chữ 'Nguyện ước' đôi khi được viết là 'Mộng' (Yume) đấy.」
「へぇ」
「Hể.」
「そして、夢の読み方は"ゆめ"だけど、"ム"って読む時もある。ムーって伸ばしたらウーみたいだね」
「Và chữ 'Mộng' (夢) bình thường đọc là 'Yume', nhưng cũng có lúc đọc là 'Mu'. Nếu đọc kéo dài âm 'Mu---' thì nghe giống như 'Ước' (U---) vậy nhỉ.」
「すごい。母に、ウーがムーになったよって言うww」
「Hay quá. Chị sẽ bảo với mẹ là Ước giờ biến thành Mộng (Mu) rồi ww」
今どんな表情かは分からないけど、こんな言葉遊びなら小説家の独壇場だ。外国人の漢字に対する苦手意識を少しでも和らげることが出来たなら、これ以上の喜びはない。
Tôi không biết lúc này trông chị thế nào, nhưng những trò chơi chữ kiểu này đúng là sở trường của một tiểu thuyết gia. Nếu có thể làm vơi bớt đi phần nào nỗi ác cảm với chữ Hán của một người nước ngoài, thì chẳng còn niềm hạnh phúc nào bằng.
「名前が増えたねww」
「Vậy là chị có thêm tên mới rồi nhé ww」
「母は、そんなことないよって言うと思うww」
「Chắc mẹ chị sẽ bảo là làm gì có chuyện đó đâu ww」
「それでも漢字の意味を覚えると楽しいかも?」
「Nhưng nếu nhớ được ý nghĩa của chữ Hán thì có lẽ sẽ thú vị hơn đấy?」
「そうね。でも私が覚えている漢字は少ない。これからも教えてくださいね」
「Đúng thế. Nhưng chị nhớ được ít chữ lắm. Từ giờ trở đi em hãy dạy cho chị nhé.」
「僕になんでも聞いてください。いつでも答えますよ」
「Chị cứ hỏi tôi bất cứ điều gì nhé. Tôi sẽ trả lời chị bất cứ lúc nào.」
「うれしい。先生みたいww」
「Hạnh phúc quá. Cứ như là thầy giáo vậy ww」
ふぅっと長い息を吐く。思い返せば、"ウー"が"ムー"になるというのは暴論だったような気もする。
Tôi thở phào một hơi dài. Nghĩ lại thì, việc biến 'Ước' thành 'Mu' đúng là một sự suy diễn hơi quá đà.
それでも、これからも頼ってほしいなと思った。小説家にとっての日本語はホームグラウンドだから。
Thế nhưng, tôi vẫn mong chị sẽ tiếp tục tin tưởng vào mình. Bởi với một tiểu thuyết gia, tiếng Nhật chính là thánh địa.




