表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
11/15

ベトナムは面白いこともいっぱい

 ポンっと通知音が鳴る。

 Một tiếng thông báo vang lên.


「私、先生に質問したい」

「Chị có câu hỏi muốn hỏi thầy giáo đây.」

 

「なんですか?」

「Câu hỏi gì thế ạ?」


 先生という言葉に胸が弾んだ。

 Lòng tôi rộn ràng khi nghe chị gọi mình là "thầy".

 

「絵とか小説とか、子供の時からの趣味?」

「Vẽ tranh hay viết tiểu thuyết... đó là sở thích từ khi em còn nhỏ ạ?」

 

「うーん。絵は高校生から。小説は読んでたけど、自分で書いたのは大学三年生からだよ」

「Ừm…… Vẽ thì từ hồi cấp ba. Còn tiểu thuyết thì tôi vẫn luôn đọc, nhưng bắt đầu tự viết thì phải đến năm thứ ba đại học cơ.」

 

 実は小説家を目指す前から、読書が好きだった。

 Thực ra, ngay cả trước khi nuôi ý định trở thành một tiểu thuyết gia, tôi đã là một kẻ "mọt sách".

 

 純文学、漫画、ライトノベル、国語辞典、挙げ句の果てには聖書まで。幼少期に絵本から始まった習慣を、ずっと大人になっても飽きることなく継続している。

 Văn học thuần túy, truyện tranh, light novel, từ điển tiếng Nhật, và thậm chí là cả Kinh Thánh nữa. Thói quen bắt đầu từ những cuốn truyện tranh thiếu nhi thuở nhỏ vẫn được tôi duy trì đến tận khi trưởng thành mà không hề thấy chán.

 

 本を読む習慣がない人は知らないだろう。美しい文章に触れた時、読書家がどれだけ目を輝かせるのか。

 Những người không có thói quen đọc sách chắc sẽ chẳng bao giờ biết được đôi mắt của một độc giả sẽ sáng rực lên đến nhường nào khi chạm vào một áng văn đẹp.

 

 突然だが、僕は猫が好きだ。だから、猫好きな筆者による猫への言語化し尽くせない愛を綴った文章も好きだ。

 それが僕を釘付けにして、僕が見えない尻尾をばたつかせて、チェシャ猫のように口角を上げてしまうこと。読書をしない人は、それを決して知ることも、それを想像することもないのだ。まるで読書家だけの秘密基地のように。

 Đột ngột một chút, nhưng tôi rất thích mèo. Vì thế, tôi cũng yêu cả những dòng văn chứa đựng tình yêu không thể diễn tả bằng lời dành cho loài mèo của những tác giả có cùng sở thích.

 Điều đó cuốn hút tôi, khiến tôi như một chú mèo Cheshire, khẽ vẫy chiếc đuôi vô hình và nhếch mép cười mãn nguyện. Những người không đọc sách sẽ chẳng bao giờ biết, cũng chẳng thể tưởng tượng ra điều đó. Nó giống như một căn cứ bí mật chỉ dành riêng cho những người yêu sách vậy.


「そうか、面白いね。私は得意なことがないから」

「Ra vậy, thú vị thật đấy. Chị thì chẳng có năng khiếu gì cả.」

 

「スポーツとかはどう?」

「Thế còn thể thao thì sao?」


 ウーさんの好きなスポーツがあるなら、いつか彼女と一緒に、体育館や公園で運動を楽しんでみたいと思った。

 Nếu chị Ước có môn thể thao yêu thích nào đó, tôi muốn có lúc nào đó được cùng chị tận hưởng việc vận động tại nhà thi đấu hay công viên.

 

「バドミントンを時々するけど上手じゃない。したいことは多いけど、できない。ギターとかね」

「Thỉnh thoảng chị có chơi cầu lông nhưng không giỏi lắm. Có nhiều thứ chị muốn làm nhưng lại không làm được. Như chơi guitar chẳng hạn.」

 

「ギターで弾きたい曲があるの?」

「Chị có bài hát nào muốn chơi bằng guitar à?」

 

「うん。習ってみたけど、手が痛いし、とても難しい。私の手は小さいからww」

「Vâng. Chị từng học thử rồi nhưng đau tay lắm, lại còn khó nữa. Tay chị nhỏ quá mà ww」

 

 確かに、小柄なウーさんは手も小さかったような。僕も不器用なので、彼女のギターの先生にはなれないだろう。

 Đúng là chị Ước với vóc dáng nhỏ nhắn thì đôi bàn tay chắc cũng nhỏ thôi. Bản thân tôi cũng là kẻ vụng về, nên chắc chẳng thể làm thầy dạy guitar cho chị được rồi.

 

「指が届かないか。弦を押さえるの難しそうだよね」

「Ngón tay không với tới được nhỉ. Bấm dây đàn có vẻ khó khăn đấy.」

 

「そう、残念ねww」

「Vâng, tiếc thật đấy ạ ww」


 このまま放っておくと、ウーさんの自虐寄りになりそうな話題を変えたかった。せっかくなら楽しい話がしたい。

 Tôi muốn thay đổi chủ đề để cuộc trò chuyện không sa đà vào việc chị tự ti về bản thân. Đã mất công nói chuyện thì phải nói chuyện gì đó vui vẻ chứ.

 

「ウーさんが好きな曲知りたい。YouTubeにある?」

「Tôi muốn biết bài hát yêu thích của chị Ước. Nó có trên YouTube không ?」


 既読が付いてから15分ほどの間が空いて、YouTubeへのリンクが貼られた。薄桃色のサムネイルの曲だった。

 Sau khoảng 15 phút từ lúc hiện thông báo đã xem, một đường link YouTube đã được gửi đến. Đó là một bài hát có hình đại diện (thumbnail) màu hồng nhạt.

 

 (Ước Mơ Của Mẹ?ダメだ、読み方が分かんない)

 (Ước Mơ Của Mẹ? Hỏng rồi, mình không biết đọc thế nào cả.)


「"母の夢"という曲だよ。好きな曲は多いけど、その曲のリリックの意味が大好きなんだ」

「Đó là bài hát mang tên 'Ước mơ của mẹ'. Chị có nhiều bài hát yêu thích lắm, nhưng chị cực kỳ thích ý nghĩa lời bài hát (lyrics) của bài này.」


 (あっ、"Ước"ってウーさんの名前と同じか!)

 (A, "Ước" trong tên bài hát giống hệt tên chị Ước này!)


 そこでやっと気付く。

 指先でリンクに触れて、初めて聴くベトナムの歌に聴覚を集中させた。女性シンガーによる静かなバラード調の曲だった。一つも歌詞は分からないけど、確かに聴き入ってしまうような何かがあった。僕は文字を打ち込んだ。

 Lúc đó tôi mới nhận ra.

 Tôi chạm nhẹ đầu ngón tay vào đường link, tập trung toàn bộ thính giác vào bài hát Việt Nam lần đầu tiên được nghe. Đó là một bản ballad nhẹ nhàng qua giọng ca của một nữ ca sĩ. Dù chẳng hiểu một chút lời nào, nhưng quả thực có một sức hút nào đó khiến tôi không thể rời tai.


「この3:00くらいのリリックが好き。きれいなメロディーの曲だね」

「Tôi thích phần lời ở khoảng phút thứ 3:00. Giai điệu đẹp thật đấy chị nhỉ.」

 

「へぇ、意味わかる?」

「Hể, em hiểu nghĩa hả?」

 

「何も分からないよ……」

「Tôi chẳng hiểu gì cả đâu……」

 

「そうねww」

「Đúng thế thật ww」


 でも、僕の心が震えたのは事実だ。せっかくウーさんの好きな曲を共有してもらったのに、何も伝えられないのは寂しいだろう。ここが好きという感情も共有したかった。

 もう一度、曲を再生する。全聴覚を集中させた。

 Thế nhưng, việc trái tim tôi khẽ rung động là sự thật. Sẽ thật buồn nếu chị Ước đã cất công chia sẻ bài hát yêu thích mà tôi lại chẳng thể bày tỏ được gì. Tôi muốn chia sẻ cả cảm xúc "mình thích chỗ này" với chị.

 Tôi nhấn nút phát nhạc một lần nữa, tập trung hết cỡ.

 

「メ、ヴァン、ダン、ヴァン、ロン、みたいなリリック。ここのメロディーが好きだよ!」

「Mẹ, vẫn, đang, vẫn, lòng... đại loại là đoạn lời như thế. Tôi thích giai điệu đoạn này lắm!」

 

「"世界は広大だけど、母の世界は私だけ"という意味ある文ね。私も大好き」

「Đó là câu hát có nghĩa là 'Thế giới bao la nhưng thế giới của mẹ chỉ là con thôi'. Chị cũng thích câu đó lắm.」

 

「なるほど、母を大切にする歌詞ってことかな」

「Ra là vậy, lời bài hát nói về việc trân trọng mẹ đúng không ạ.」

 

「うん、私は母と仲がいい。あなたは?」

「Ừm, chị rất thân với mẹ. Còn em thì sao?」


 我が家には18歳になったら独り立ちするという規則があった。でも別に放任主義という訳でもなく、一人暮らしに過干渉してくる訳でもなく、子供に自立を促してくれる恵まれた環境だったと思う。だから離れて暮らしていても、両親とは良好な関係を築けている。それは僕の兄弟姉妹とも同じだ。

 Gia đình tôi có một quy định là hễ tròn 18 tuổi thì phải tự lập. Thế nhưng đó không phải là kiểu bỏ mặc con cái, cũng không phải là kiểu can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng, mà tôi nghĩ đó là một môi trường tuyệt vời đã thúc đẩy con cái biết tự đứng trên đôi chân của mình. Chính vì vậy, dù sống xa nhau nhưng tôi vẫn duy trì được mối quan hệ tốt đẹp với bố mẹ. Các em của tôi cũng vậy.

 

「家族全員が仲良しだよ」

「Cả nhà tôi đều rất thân thiết.」

 

「へぇ、家族は何人?」

「Hể, nhà em có mấy người ạ?」

 

「5人だよ。大学生の妹と高校生の弟がいる」

「Có 5 người. Tôi có một em gái đang là sinh viên đại học và một em trai đang học cấp ba.」

 

「すごい、あなたは長男なのね」

「Giỏi quá, vậy là anh là con cả rồi.」

 

「そうだよ。すごいのかな?」

「Đúng thế. Mà có gì giỏi đâu nhỉ?」

 

「妹さんと弟さんと。よく連絡する?」

「Anh có hay liên lạc với em gái và em trai không (Imouto-san to Otouto-san to)?」

 

 彼女の方が凄いと思う。相手の兄弟に自然と"さん"付けをしてくれるところが。こういう砕けた会話の最中だと、日本人でも敬称は忘れがちなのに。"さん"付けしないことが悪い訳でもないけど、じわっと胸の奥が暖かくなる。

 Tôi lại thấy chị mới là người giỏi. Chị tự nhiên thêm hậu tố "-san" vào sau khi nhắc đến các em của tôi. Trong những cuộc trò chuyện thân mật thế này, ngay cả người Nhật đôi khi cũng quên mất kính ngữ. Việc không thêm "-san" cũng chẳng phải là xấu, nhưng hành động đó của chị khiến lồng ngực tôi bỗng chốc thấy ấm áp lạ thường.

 

 (やっぱり、この人と話すの好きだなぁ……)

 (Quả nhiên, mình thích được trò chuyện với người này quá đi mất……)

 

 ウーさんは当たり前のようにメッセージを日本語で送ってくれるけど、それは彼女の努力と、日本人の僕に対する気遣いであることを忘れないようにしたいと思った。

 Dù chị Ước gửi tin nhắn bằng tiếng Nhật như một lẽ đương nhiên, nhưng tôi tự nhủ mình không bao giờ được phép quên rằng đó chính là nỗ lực và sự quan tâm của chị dành cho một người Nhật như tôi.

 

「あまりしないね。妹は東京にいるから、たまに遊ぶけど」

「Cũng ít khi lắm. Em gái tôi đang ở Tokyo nên thỉnh thoảng hai tôi em cũng đi chơi với nhau.」

 

「そうね。ベトナムいた時いつも遊んだ。私は兄がいる。でも、あまり連絡しないね」

「Đúng thế thật. Hồi còn ở Việt Nam chị lúc nào cũng đi chơi cùng mọi người. Chị có một người anh trai, nhưng cũng chẳng mấy khi liên lạc.」

 

「どこの国でも、兄は連絡しないのかもしれない」

「Chắc là ở nước nào cũng vậy, làm anh trai thường ít khi chủ động liên lạc chị nhỉ.」

 

「私、やっぱり母だけ好き。母とはよく連絡する」

「Chị á, quả nhiên chị chỉ thích mỗi mẹ thôi. Chị hay liên lạc với mẹ lắm.」


 さっきの15分間の空白。家族と遠く離れて暮らすウーさんが、自分の好きな歌を共有しようと迷い、ゆっくりと選んでくれた時間。

 Khoảng lặng 15 phút ban nãy. Đó là khoảng thời gian chị Ước, một người đang sống xa gia đình vạn dặm, đã phân vân và chậm rãi chọn lựa bài hát yêu thích để chia sẻ cùng tôi.

 

 きっと、ベトナム人の彼女が母親に向ける想いは、日本で生まれ育った僕が想像する以上に深く切実なのだろう。

 Chắc chắn, tình cảm mà một cô gái Việt Nam dành cho mẹ mình còn sâu sắc và thiết tha hơn nhiều so với những gì một người sinh ra và lớn lên ở Nhật Bản như tôi có thể tưởng tượng.

 

「そっか、仲良しだね」

「Ra vậy, hai mẹ con thân thiết thật đấy.」

 

「うん、ベトナム人は家族みんなよく連絡するよ」

「Ừm, người Việt Nam ai cũng hay liên lạc với gia đình lắm.」

 

「僕の家族は連絡しないけど仲は良い」

「Gia đình tôi tuy ít liên lạc nhưng vẫn rất hòa thuận.」

 

「面白いね」

「Thú vị nhỉ.」


 家族とは己の基盤だ。

 お互いの人生の根っこを優しく掘り合うような、ゆったりとした会話が続く。

 Gia đình chính là nền tảng của mỗi con người.

 Cuộc trò chuyện thong thả cứ thế tiếp diễn, giống như hai chúng tôi đang nhẹ nhàng khơi gợi lên những phần gốc rễ trong cuộc đời của nhau.

 

「不思議でしょ」

「Thật là kỳ lạ nhỉ.」

 

「家にいた時、家族みんなでよく遊んでいた?」

「Hồi còn ở nhà, cả nhà anh có hay đi chơi cùng nhau không?」


 僕の家族や千葉の従兄弟も体を動かすのは好きだ。親族ぐるみで体育館に集まって、バスケットボールやバドミントンなどのレクリエーションをした思い出がある。

 Gia đình tôi và cả mấy anh em họ ở Chiba đều rất thích vận động. Tôi vẫn còn nhớ những kỷ niệm cả đại gia đình tụ tập ở nhà thi đấu để chơi bóng rổ hay cầu lông.

 

「そうだね、よくスポーツした!」

「Có chứ, mọi người hay chơi thể thao lắm!」

 

「いいね、日本人よくスポーツするね」

「Thích thật đấy, người Nhật hay chơi thể thao nhỉ.」

 

「健康でいたいからかな?」

「Chắc là vì ai cũng muốn khỏe mạnh chăng?」

 

「だから、日本人ほとんど背が高くて元気なんだね」

「Bảo sao người Nhật hầu như ai cũng cao ráo và khỏe mạnh.」

 

「ベトナム人も背が高い。体力はあると便利だね」

「Người Việt mình cũng cao mà. Có thể lực tốt thì làm gì cũng tiện.」

 

「ベトナムでいつもバイクで行ったから。日本来たから大変。歩くこととか自転車乗ること!」

「Ở Việt Nam chị toàn đi bằng xe máy thôi. Sang Nhật cái là vất vả hẳn. Nào là đi bộ, nào là đi xe đạp!」

 

「バイクからの自転車だもんね。日本とベトナムの道路って違うの?」

「Từ xe máy chuyển sang xe đạp thì đúng là cực thật. Đường xá ở Nhật và Việt Nam khác nhau nhiều không chị?」

 

「違うよ、ベトナム人は右に行く。運転手は左席に座る」

「Khác chứ, người Việt Nam đi bên phải. Người lái xe ngồi ghế bên trái.」

 

「ハンドルが逆!?」

「Vô lăng ở bên ngược lại á!?」

 

「それはよくわからないww」

「Cái đó thì chị cũng không rõ lắm ww」


 渾身のリアクションがスルーされると、少しだけ不安になってしまう思考回路が情けない。常に余裕のある男でいたい。ぬるくなってしまった麦茶を喉に流し込む。

 Khi một phản ứng đầy tâm huyết của mình bị "ngó lơ", cái lối suy nghĩ bắt đầu thấy lo lắng của tôi thật là thảm hại. Tôi luôn muốn mình là một người đàn ông điềm đạm, có dư sự tự tin. Tôi tu ực một ngụm trà lúa mạch đã bắt đầu nguội ngắt.

 

 (泣いている猫の絵文字が文末にある。上手く伝わらなかったかな。まぁ、本当にハンドルの位置を知らない可能性もあるだろうし。深く掘り下げなくてもいいか)

 (Cuối câu có biểu tượng con mèo đang khóc kìa. Chẳng lẽ mình truyền đạt không tốt sao? Mà cũng có khả năng là chị ấy thực sự không biết vị trí của vô lăng thật. Thôi, không cần đào sâu quá làm gì.)


 こんなに女々しく分析しながらも、しれっと返信を打てるのがSNSの素敵なところで苦手なところだ。エンジンのかかった会話中に息継ぎが許されない。

 それでも、息もつかせぬ言葉の応酬は僕の心を惑わしてくる。もっと言葉の塊をぶつけ合いたいと思ってしまう。

 Cái việc vừa phân tích một cách đầy tính "nữ nhi" như thế này, lại vừa có thể thản nhiên gõ tin nhắn phản hồi, chính là điểm vừa tuyệt vời vừa đáng ghét của mạng xã hội. Trong một cuộc hội thoại đã vào guồng, ta chẳng được phép ngừng lại để lấy hơi.

 Dù vậy, những đợt sóng ngôn từ dồn dập này đang khiến trái tim tôi xao động. Tôi thấy mình càng muốn va chạm nhiều hơn nữa vào những khối ngôn từ ấy.

 

「日本の車を運転するのは難しいかもね」

「Chắc việc lái xe ở Nhật sẽ khó lắm nhỉ.」

 

「そうね。一生自転車に乗るかもな。いつか疲れる感じがすると帰国すると思うww」

「Đúng vậy. Chắc chị sẽ đi xe đạp cả đời mất thôi. Có lẽ đến khi nào thấy mệt mỏi quá, chị sẽ về nước ww」

 

「それならバイクに乗ろう!」

「Nếu vậy thì đi xe máy đi chị!」

 

「悪くないね。あのね、ベトナムでバイクいっぱい。誰もほとんどバイクを持ってるよ」

「Ý kiến không tồi nhỉ. Này, ở Việt Nam nhiều xe máy lắm đấy. Hầu như ai cũng có một chiếc cho riêng mình.」


 僕の余裕を持ちたいという願いとは裏腹に、スマホの画面をなぞる指先は加速して、次の言葉を探し続けていく。

 Trái ngược với mong muốn được giữ vẻ điềm đạm, những đầu ngón tay lướt trên màn hình của tôi ngày càng nhanh hơn, không ngừng tìm kiếm những từ ngữ tiếp theo.

 

「すごいね、日本だと駐車場が大変だ」

「Kinh thật đấy, ở Nhật thì vấn đề chỗ đậu xe nan giải lắm.」

 

「うん、歩く人少ない。でも、とても危ないよ」

「Ừm, ở bên đó ít người đi bộ lắm. Nhưng mà nguy hiểm cực kỳ luôn.」

 

「危ないのは嫌かも」

「Nguy hiểm thì hơi sợ nhỉ.」

 

「うん。だから今日本にいるわけだww」

「Đúng vậy. Thế nên giờ chị mới đang ở Nhật đây này ww」


 すっと綺麗なオチがついた。本当に名残惜しいけど、そろそろ彼女との会話も終わり時だろう。もう時刻は21時半を過ぎている。この返信の片手間に夕食や洗濯物はこなしていたが、5時間以上もLINEを送り合っていたことに驚いた。ベトナム人がカフェに長く滞在する理由も分かる。

 Một cái kết thật gọn gàng và hóm hỉnh. Dù rất luyến tiếc, nhưng có lẽ đã đến lúc kết thúc cuộc trò chuyện với chị. Đồng hồ đã chỉ hơn 21 giờ rưỡi. Tuy đã tranh thủ lúc chờ tin nhắn để lo xong bữa tối và giặt giũ, nhưng tôi vẫn ngạc nhiên khi thấy mình đã nhắn tin liên tục hơn 5 tiếng đồng hồ. Giờ thì tôi đã hiểu lý do tại sao người Việt có thể ngồi ở quán cà phê lâu đến thế.


 (小説書いてくるからまたね、こんな理由でいいか。そろそろ風呂にも入りたいし……自分勝手でごめんね)

 ("Tôi đi viết tiểu thuyết đây, hẹn gặp lại chị sau nhé", lý do này được không nhỉ? Mình cũng muốn đi tắm nữa... Xin lỗi vì đã ích kỷ nhé.)


 僕が会話を打ち切ろうとした時、ウーさんからの返信が追加された。どうしようもなく目が吸い寄せられる。

 Ngay khi tôi định khép lại cuộc đối thoại, một tin nhắn nữa từ chị Ước lại hiện lên. Đôi mắt tôi không cưỡng lại được mà dán chặt vào màn hình.


「といっても、ベトナムは面白いこともいっぱい」

「Nói vậy thôi chứ, Việt Nam cũng có nhiều cái thú vị lắm.」


 (えっ、かわいすぎる。ベトナムのバイクは危ないね、と言ったことを気にしているのかな。別にそんな理由で、僕はベトナムの全てを怖がったりはしないよ)

 (Trời ơi, đáng yêu quá đi mất. Chắc chị ấy đang bận tâm vì đã lỡ nói xe máy ở Việt Nam nguy hiểm đây mà. Đâu có sao, tôi đâu vì lý do đó mà sợ hãi tất cả mọi thứ về Việt Nam đâu.)


 その一言にウーさんの小さな誇りと寂しさが透けて見えて、僕の胸がギュッと締め付けられた。

 危ないから日本にいると冗談めかして言ったものの、自分の大切な故郷が単なる危険な場所として記憶されるのは寂しい。その健気さが伝わってくる。

 Chỉ một câu nói đó thôi mà sự tự hào xen lẫn chút nỗi niềm chạnh lòng của chị Ước như hiện rõ ra trước mắt, khiến lồng ngực tôi thắt lại.

 Dẫu chị có nói đùa rằng vì nguy hiểm nên mới ở Nhật, nhưng chắc hẳn chị sẽ thấy buồn lắm nếu quê hương yêu dấu của mình chỉ được nhớ đến như một nơi đầy rẫy rủi ro. Tôi có thể cảm nhận được sự thuần khiết và chân thành đó từ chị.

 

 ここまで言われて、ベトナムに興味を示せない人間は血が通ってない。SNSによる異文化交流会の続行だ。

 Nếu nghe thấy lời đó mà không tỏ ra hứng thú với Việt Nam thì đúng là kẻ không có máu mủ tình thâm. Cuộc giao lưu văn hóa xuyên biên giới qua mạng xã hội lại tiếp tục.


「面白いこと知りたいな。例えば?」

「Tôi muốn biết thêm về những điều thú vị đó. Ví dụ là gì ạ?」

 

「どこでも店があるよ。いろんな食べ物もある」

「Ở đâu cũng có hàng quán hết. Đồ ăn thì cực kỳ đa dạng luôn.」

 

「へぇ、フォーだけ知ってるよ」

「Hể, tôi mới chỉ biết mỗi món Phở thôi.」

 

「路上の屋台は人気あるよ。毎日お客さんいっぱい」

「Quán ăn vỉa hè rất được ưa chuộng đó. Ngày nào cũng đông nghịt khách luôn.」


 それは興味深い。

 僕の意識は今、柏のワンルームを飛び越えて、バイクのエンジン音が響き渡り、賑やかな笑い声が溢れるベトナムの喧騒の中へと、ゆっくりと漕ぎ出そうとしている。

 Điều đó thật thú vị.

 Ý thức của tôi lúc này như đang bay bổng ra khỏi căn phòng trọ ở Kashiwa, vượt qua cả tiếng động cơ xe máy ồn ã để từ từ chèo lái con thuyền tâm trí tiến vào sự náo nhiệt của Việt Nam, nơi tràn ngập tiếng cười nói vui vẻ.

 

「屋台は美味しい?」

「Quán vỉa hè ăn ngon không chị?」

 

「ベトナム人は朝は外食するよ。めっちゃ美味しいね!」

「Người Việt Nam thường ăn sáng ở ngoài đấy. Ngon lắm luôn!」

 

「朝から外食!?何が食べられるの?」

「Ăn ngoài từ sáng sớm á!? Có món gì ăn được vậy ạ?」

 

「朝ごはんだけよ。いろんな食べ物ある店は多い」

「Chỉ là đồ ăn sáng thôi mà. Có nhiều quán bán đủ thứ món lắm.」


 第2ラウンドの開始だ。

 色鮮やかなベトナム料理の画像が送られてきた。エビ、タコ、イカなどのシーフードヌードル。こんがりと小麦色に焼かれたパイ生地のような何か。その傍にはこんもりと盛られたパクチーと真っ赤な見た目のソース。エビや香草などの包まれている具材がほんのりと透けている生春巻きに胃袋が刺激される。

 Hiệp hai bắt đầu.

 Một loạt ảnh đồ ăn Việt Nam đầy màu sắc được gửi đến. Nào là mì hải sản với tôm, bạch tuộc, mực... Nào là một món gì đó có lớp vỏ bánh nướng vàng ươm như bánh nướng. Cạnh đó là một nắm rau mùi (ngò rí) tươi rói và nước sốt đỏ rực. Rồi cả món gỏi cuốn với tôm và rau thơm ẩn hiện sau lớp vỏ mỏng tang khiến cái bụng tôi bắt đầu biểu tình.

 

「毎日違う朝ごはんも食べられるよ。すごいよ」

「Ngày nào cũng có thể ăn món sáng khác nhau đấy. Đỉnh lắm.」

 

「お腹いっぱいになりそう!」

「Chắc là no căng bụng luôn tôi nhỉ!」

 

「そうね、間物も美味しい。これが有名だよ」

「Đúng thế, đồ ăn vặt cũng ngon nữa. Món này nổi tiếng lắm này.」


 ウーさんは"間物"の良さを伝えたいようだった。

 異国の美味しそうな誘惑、何枚もの食欲をそそる画像が襲ってくる。もう22時を過ぎているのにお腹が空いてきた。

 Chị Ước có vẻ như rất muốn truyền đạt cái hay của "đồ ăn vặt".

 Sự cám dỗ đầy hương vị từ xứ lạ, hàng loạt tấm ảnh kích thích vị giác cứ thế dồn dập kéo đến. Đã 22 giờ đêm rồi mà tôi lại thấy đói cồn cào.

 

「ゆで卵とかつおぶし?」

「Trứng luộc và cá bào (katsuobushi) hả chị?」

 

「マンゴーだよ、かつおじゃない。甘酸っぱい味」

「Là xoài đấy, không phải cá đâu. Vị chua chua ngọt ngọt.」

 

「これ、マンゴーなんだ。卵と果物の料理って不思議な組み合わせだね」

「Hóa ra là xoài à. Sự kết hợp giữa trứng và hoa quả nghe lạ lẫm thật đấy.」

 

「そう、でも間物だけ」

「Đúng thế, nhưng đây chỉ là đồ ăn vặt thôi.」


 ところで、ウーさんは"間物"をどんな意味で使っているのだろう。素直に尋ねてみることにした。

 Mà này, không biết chị Ước dùng từ "Kan-mono" (đồ ăn vặt) với ý nghĩa gì nhỉ. Tôi quyết định hỏi thẳng cho xong.

 

「あの、間物って何のこと?」

「À mà, 'Kan-mono' nghĩa là gì vậy chị?」

 

「スナックみたいな」

「Giống như đồ ăn nhẹ (snack) ấy.」


 文末で猫の絵文字が号泣していた。

 僕の理解力が乏しくて申し訳ない。

 Cuối câu là biểu tượng một con mèo đang khóc nức nở.

 Thật xin lỗi vì khả năng thấu hiểu của tôi còn kém cỏi.

 

「歯で噛むご飯のことかな、パリパリって」

「Có phải là đồ ăn kiểu phải dùng răng nhai giòn rụm không chị, kiểu 'pari-pari' ấy?」

 

「ごめん、説明難しいww」

「Xin lỗi em, giải thích khó quá đi mất ww」

 

「大丈夫だよ、伝わったから!」

「Không sao đâu, tôi hiểu rồi mà!」

 

「ありがとうね。ああ、ベトナムのコーヒーは外国人に有名だよ。ミルクコーヒーも有名ね」

「Cảm ơn em nhé. À, cà phê Việt Nam rất nổi tiếng với người nước ngoài đó. Cà phê sữa cũng cực kỳ nổi tiếng luôn.」

 

「僕もミルクコーヒーは好き。とっても甘いから」

「Tôi cũng thích cà phê sữa. Vì nó rất ngọt.」


 カフェオレとミルクコーヒーは違う飲み物らしい。子供の頃にそんな話を聞いたことがある。カフェオレはコーヒーとミルクを同じ比率で合わせたもの。ミルクコーヒーは砂糖などで甘さを強調した乳飲料を指すことが多い。

 僕は甘党なので後者の方がお気に入りだ。

 Hình như Cafe au lait và Cà phê sữa là hai loại đồ uống khác nhau. Hồi nhỏ tôi từng nghe kể thế. Cafe au lait là cà phê và sữa pha theo tỉ lệ bằng nhau. Còn Cà phê sữa thường là đồ uống nhấn mạnh vào độ ngọt từ đường hay sữa đặc.

 Vì là người hảo ngọt nên tôi thích loại sau hơn.

 

「私はミルクコーヒーしか飲まない。母も毎日飲んでいるよ」

「Chị chỉ uống cà phê sữa thôi. Mẹ chị ngày nào cũng uống hết.」

 

「ウーさん、休憩中に牛乳も飲んでるよね」

「Chị Ước lúc nghỉ giải lao cũng hay uống sữa nhỉ.」

 

「うん、牛乳大好き」

「Vâng, chị cực kỳ thích sữa.」

 

「いいね、僕はコーンフレークが好き」

「Hay quá, tôi thì thích ngũ cốc (corn flakes).」

 

「へぇ、お菓子?」

「Hể, là bánh kẹo hả?」

 

「朝ごはんかも。牛乳をかけて食べるデザートみたいな」

「Có thể coi là đồ ăn sáng. Giống như món tráng miệng đổ thêm sữa vào ăn ấy.」


 僕はコーンフレークの画像を検索した。出来るだけ画質が良くて、美味しそうな映りの写真を探し出す。

 Tôi tìm kiếm hình ảnh ngũ cốc. Cố chọn tấm hình nào chất lượng tốt và trông ngon mắt nhất.


「これ知ってる。ベトナムで食べたよ、美味しい」

「Món này chị biết. Chị từng ăn ở Việt Nam rồi, ngon lắm.」

 

「子供の頃、よく食べていた。美味しいよね!」

「Hồi nhỏ tôi hay ăn suốt. Ngon thật sự nhỉ!」

 

「うん、写真見たから食べたいよww」

「Vâng, nhìn ảnh là chị muốn ăn luôn rồi đây ww」

 

「僕も食べたくなった!」

「Tôi cũng muốn ăn quá!」


 結局、僕らの会話が落ち着いたのは23時過ぎだった。

 風呂も、睡眠も、明日の予定も。

 ウーさんが差し出したベトナムの魅力という贈り物の前では、全てが後回しになっていく。

 Cuối cùng, cuộc trò chuyện của chúng tôi cũng tạm lắng xuống khi đã quá 23 giờ.

 Tắm rửa, ngủ nghê, hay dự định cho ngày mai.

 Đứng trước món quà mang tên "sức hút của Việt Nam" mà chị Ước trao tặng, tất cả đều phải lùi lại phía sau.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ