肩は重くなったり、軽くなったり
(寝落ちするなんて久しぶりだな。大学生の気分だ)
(Cũng lâu rồi mình mới lại ngủ quên khi đang nhắn tin thế này. Cứ như cảm giác thời còn là sinh viên đại học vậy.)
翌朝になって、まずシャワーを浴びた。狭いユニットバスの浴槽の中で大きく伸びをする。昨夜は僕の眠気が限界に達して会話は途切れた。濡れた髪をドライヤーで乾かしながら、カーテン越しの朝日に目を細める。
Sáng hôm sau, việc đầu tiên tôi làm là đi tắm. Tôi vươn vai một cái thật dài trong bồn tắm chật hẹp của căn phòng unit bath. Đêm qua, vì cơn buồn ngủ đã chạm ngưỡng giới hạn nên cuộc trò chuyện của chúng tôi bị ngắt quãng. Vừa dùng máy sấy làm khô mái tóc ướt, tôi vừa nheo mắt nhìn ánh nắng sớm len qua tấm rèm cửa.
「ごめん、寝てた。おはよう!」
「Xin lỗi nhé, hôm qua anh ngủ quên mất. Chào buổi sáng!」
時刻は7時ちょうど。
白々しい言い訳と朝の挨拶を送信しながら、賞味期限の近いヨーグルトの蓋に手を掛ける。そして力加減を豪快に間違えて、飛び散った白濁の乳製品をティッシュで黙々と拭う。これがコーンフレークなら、こんな思いしなくて済んだのに。
Lúc đó là đúng 7 giờ sáng.
Vừa gửi đi một lời xin lỗi vụng về kèm lời chào buổi sáng, tôi vừa đưa tay mở nắp hộp sữa chua sắp hết hạn. Và rồi, tôi đã dùng lực quá tay một cách "hào phóng", khiến những giọt sữa trắng đục bắn tung tóe. Tôi lẳng lặng dùng khăn giấy lau sạch mớ hỗn độn đó. Nếu đây là ngũ cốc thì có lẽ tôi đã không phải nếm trải cảm giác này rồi.
やっと床の掃除を終えて、僕はスプーンを八つ当たりのように強く握りしめた。その体積を半分に減らしたヨーグルトが静かに佇んでいる。責任を取る覚悟は決まっているようだ。
Cuối cùng cũng dọn xong sàn nhà, tôi siết chặt chiếc thìa trong tay. Hộp sữa chua giờ chỉ còn lại một nửa thể tích đang nằm im lìm như thể đã chuẩn bị sẵn tâm thế để chịu trách nhiệm cho lỗi lầm của mình.
「眠かったのか。しゃべりすぎたねww」
「Em buồn ngủ à? Tại mình nói chuyện nhiều quá mà ww」
ウーさんからの返信は8時過ぎだった。
少し膨らんだお腹をなぞりながら、充電が完了したスマホを手に取る。通勤や通学のない自由で満ち足りた朝の空気を胸一杯に吸い込んだ。
Tin nhắn phản hồi của chị Ước đến vào lúc hơn 8 giờ sáng.
Vừa xoa cái bụng hơi căng lên, tôi vừa cầm lấy chiếc điện thoại đã sạc đầy pin. Tôi hít một hơi thật sâu bầu không khí buổi sáng đầy tự do và mãn nguyện, khi mà hôm nay không phải vội vã đi làm hay đi học.
「ウーさん、もう朝ごはん食べた?」
「Chị Ước đã ăn sáng chưa?」
「うん、いっぱい食べたよ。今日何する?」
「Ừm, chị ăn no căng rồi. Hôm nay em làm gì?」
「今日は18時から"とば寿司"でバイト」
「Hôm nay 18 giờ tôi có ca làm ở "Toba Sushi".」
「ああ、聞いた。昼休み寝る?」
「À, chị nghe nói rồi. Thế buổi trưa có đi ngủ bù không?」.
僕は苦笑した。昨夜、たくさんのベトナムの魅力に翻弄されたおかげで良い夢が見れた気がする。
Tôi khẽ cười khổ. Nhờ việc bị mê hoặc bởi hàng loạt sức hút của Việt Nam đêm qua, tôi cảm thấy như mình đã có một giấc mơ thật đẹp.
「お昼寝はしないよ。いっぱい寝たから」
「Tôi không ngủ trưa đâu. Vì tôi ngủ đủ rồi mà.」
「そうね、小説書く?ああ、あなたの小説読んでみたよ。よく分からない漢字が多かったね……」
「Vậy à, em sẽ viết tiểu thuyết chứ? À, chị đã đọc thử tiểu thuyết của em rồi đấy. Có nhiều chữ Hán chị không biết quá……」
まぁ、僕の小説を外国人のウーさんが読解するのは難しいと思う。日本の大学生と社会人の恋愛模様を感情任せに書き殴った作品であるし、登場人物の名前も"粉城"や"餅宮"など独創性を意識した漢字を使っているから。
Cũng phải thôi, việc chị Ước — một người nước ngoài — có thể đọc hiểu tiểu thuyết của tôi là một thử thách thực sự. Đó là một tác phẩm tôi viết bằng tất cả cảm xúc về chuyện tình cảm giữa những sinh viên đại học và những người đã đi làm tại Nhật Bản. Thêm vào đó, tên của các nhân vật như "Konagi" (Phấn Thành) hay "Mochimiya" (Bánh Cung) đều dùng những chữ Hán được tôi chọn lọc kỹ lưỡng để tạo sự độc đáo.
創作でオリジナリティを発揮しようとすると、お洒落で凝った漢字を使いたくなるのは小説家としての習性だと思う。それで読みにくいのなら本末転倒だが。
Tôi nghĩ việc muốn dùng những chữ Hán cầu kỳ, trau chuốt khi cố gắng phát huy tính sáng tạo là bản năng của một tiểu thuyết gia. Dù rằng nếu điều đó khiến tác phẩm trở nên khó đọc thì đúng là "gậy ông đập lưng ông".
「そうだよね。難しかった?」
「Đúng vậy nhỉ. Nó có khó quá không chị?」
「うん、知らない言葉多い。翻訳を使った。でも面白いと思ったよ。そんな内容は初めて読んだからww」
「Ừm, nhiều từ chị chưa thấy bao giờ. Chị đã phải dùng máy dịch đấy. Nhưng chị thấy nó thú vị. Vì đây là lần đầu chị được đọc một nội dung như thế ww」
僕は微笑んだ。
何万字にも及ぶ言葉の世界に、彼女が全身全霊で飛び込もうとしてくれたんだ。がっかりなんてする訳がない。
Tôi khẽ mỉm cười.
Chị ấy đã dốc hết tâm sức để dấn thân vào thế giới của hàng vạn con chữ mà tôi tạo ra. Làm sao tôi có thể thấy thất vọng được cơ chứ?
「日本の大学生を知らないと難しいかも。飲み会の雰囲気とか」
「Có lẽ nếu không biết về cuộc sống của sinh viên Nhật Bản thì sẽ hơi khó hiểu chị nhỉ. Chẳng hạn như không khí của mấy buổi tiệc tùng ấy.」
「そうね、でもアニメ見たから大丈夫。あなたのアイデアすごいと思う。本当よ」
「Đúng thế, nhưng chị xem anime rồi nên cũng ổn. Chị nghĩ ý tưởng của em tuyệt lắm. Thật đấy.」
健気な日本語が積み重ねられる。彼女の優しい感想が心に染み渡った。大学生の時も、同級生に自分の小説を読んでもらったことがある。デッサンと形は違えど、同じ創作に通ずるもの。たくさんの感想や指摘をもらった。
Những dòng tiếng Nhật đầy sự chân thành cứ thế hiện lên. Những lời cảm nhận dịu dàng của chị thấm đẫm vào tim tôi. Hồi còn đại học, tôi cũng từng nhờ bạn cùng khóa đọc tiểu thuyết của mình. Dù hình thức có khác với hội họa, nhưng chúng đều có điểm chung là sự sáng tạo. Tôi đã nhận được rất nhiều lời nhận xét và góp ý khi đó.
あの時と同じ、じわっと胸の奥から暖かくなる感覚。大学を卒業して社会人になったら、もう同年代に気軽に自分の小説を読んでもらうこともないだろう、と心のどこかで諦めていたような感覚。独りぼっちの小舟で波に揺られながら、ついに灯台を見つけたような感覚。
Cảm giác này…… nó giống hệt như lúc đó. Một sự ấm áp lan tỏa từ tận sâu trong lồng ngực. Một cảm giác mà tôi đã từng âm thầm từ bỏ ở đâu đó trong lòng, rằng sau khi tốt nghiệp và đi làm, mình sẽ chẳng còn cơ hội để ai đó cùng lứa tuổi thoải mái đọc tiểu thuyết của mình nữa. Cảm giác ấy giống như một con thuyền nhỏ đơn độc đang dập dềnh trên sóng nước, cuối cùng cũng đã tìm thấy ánh sáng từ một ngọn hải đăng.
「ふふふ、ウーさんに褒められて嬉しい。短い話だったら分かりやすいかな?」
「Hì hì, được chị Ước khen tôi vui lắm. Nếu là một câu chuyện ngắn thì chắc sẽ dễ hiểu hơn chị nhỉ?」
「うん、ストーリー面白いよ!」
「Ừm, cốt truyện thú vị lắm em!」
その素直な言葉が創作の原動力となる。
僕はスケッチブックを取り出して、さらさらっとペンを動かした。ラフに表情を描き込むだけなら得意分野だ。繊細な描き込みは苦手だったが、ラフで全体像を捉える速度は同級生にも褒めてもらったことがある。
Lời khen chân thành đó đã trở thành động lực sáng tác cho tôi.
Tôi lấy cuốn sổ phác thảo ra, cây bút trên tay bắt đầu đưa những nét thoăn thoắt. Nếu chỉ là vẽ phác biểu cảm gương mặt thì đó vốn là sở trường của tôi. Dù không giỏi vẽ chi tiết tỉ mỉ, nhưng tốc độ bắt trọn bố cục tổng thể qua những nét phác thảo của tôi từng được bạn bè cùng khóa khen ngợi.
(画面の分割は上中下の三分割で読みやすく、話の流れも分かりやすく、少しだけ言葉遊びも入れてみるか)
(Bố cục chia làm ba phần trên-giữa-dưới cho dễ đọc, luồng truyện cũng phải thật dễ hiểu, và mình sẽ lồng ghép một chút chơi chữ vào xem sao.)
絵も、小説も、想いを書き殴っている時間が楽しい。
Dù là vẽ hay viết lách, khoảng thời gian được trút hết tâm tư lên mặt giấy luôn là lúc tôi thấy hạnh phúc nhất.
"ついに恋人ができた"とあどけなく微笑む女の子。それに対して"おめでとう"と返しながらも、切なげな表情で俯いてしまう少年。そして、彼は意を決したかのように女の子を抱きしめてしまう。"どうしたの"と女の子は戸惑いながらも少年の肩に顎を乗せて、そっと相手の頭を撫でようとする。"そうか、肩が重いから、片思いなんだ"と震える心の独白を少女が知ることはないのだ。
Một cô gái mỉm cười ngây ngô: "Cuối cùng tớ cũng có người yêu rồi". Đáp lại câu nói đó là một chàng trai vừa nói "Chúc mừng nhé" vừa cúi mặt với vẻ đượm buồn. Rồi như đã quyết tâm, cậu ấy bất ngờ ôm chầm lấy cô gái. Cô gái bối rối hỏi "Sao thế?", nhưng vẫn đặt cằm lên vai cậu và khẽ đưa tay định xoa đầu đối phương. "Ra vậy, vì đôi vai trĩu nặng (kataomoi), nên mới gọi là yêu đơn phương (kataomoi)" – lời độc thoại run rẩy từ tận đáy lòng của cậu thiếu niên, cô gái ấy sẽ chẳng bao giờ thấu được.
(よし、軽く手直ししたら完成だ)
(Được rồi, chỉnh sửa nhẹ một chút là hoàn thành.)
約10分をかけて、少女漫画を彷彿とさせるラフ画が完成した。即興で考えたにしては、我ながら完成度が高い失恋のストーリーだと思う。僕はスマホのカメラを起動した。
Mất khoảng 10 phút, một bản phác thảo mang hơi hướng truyện tranh thiếu nữ đã xong. Dù là nghĩ ra tức thời nhưng chính tôi cũng thấy đây là một câu chuyện thất tình có độ hoàn thiện khá cao. Tôi bật camera điện thoại lên.
「短い漫画を描いてみたよ」
「Tôi vừa vẽ thử một đoạn truyện ngắn này.」
「わぁ、表情がいいね。あと読みやすいよ!」
「Oa, biểu cảm hay quá. Lại còn rất dễ đọc nữa!」
好評な反応が返ってきて、つい解説したくなった。
Nhận được phản hồi tích cực, tôi bỗng thấy muốn giải thích thêm một chút.
「"肩重い"だからカタオモイ。"片思い"だからカタオモイ。これは同じ読み方になるんだよ」
「Vì "vai nặng" đọc là "Kataomoi". Mà "yêu đơn phương" cũng đọc là "Kataomoi". Hai từ này có cách phát âm giống hệt nhau đấy.」
「なるほど。あなたは周りのこと観察するのが上手でしょう?」
「Ra là vậy. Em chắc là người rất giỏi quan sát mọi thứ xung quanh đúng không?」
「うん、得意だね」
「Vâng, đó là sở trường của tôi mà.」
「いいね、あなたプロになると思うよ!」
「Hay lắm, chị nghĩ chắc chắn em sẽ trở thành nhà văn chuyên nghiệp thôi!」
自分の表情が固くなったことに気付く。
プロ作家としてのデビュー。ウーさんの素敵な言葉を、どこか素直に受け止められなかった。漫画を描くにしても1ページのラフ画止まり、小説にしてもネットに投稿した作品に商業化の話が来たことはない。僕が積み上げてきた枚数や経験はあまりにも乏しいばかりで。
Tôi nhận ra gương mặt mình bỗng trở nên cứng nhắc.
Việc ra mắt với tư cách là một tác giả chuyên nghiệp. Tôi không thể đón nhận những lời tốt đẹp của chị Ước một cách thật lòng. Dù là vẽ tranh thì cũng chỉ dừng lại ở bản phác thảo một trang, còn tiểu thuyết đăng trên mạng thì chưa bao giờ nhận được lời mời thương mại hóa nào. Số lượng tác phẩm và kinh nghiệm mà tôi tích lũy được vẫn còn quá ít ỏi.
こんな時の無力感に耐えるべく、僕は日々の努力を積み重ねている。それでも努力することで見えてしまう現実もあって。僕は一人でも生きていけるからこそ、理想で飾り付けられた夢を直視できなかった。
Để chịu đựng được cảm giác bất lực trong những lúc thế này, tôi vẫn luôn nỗ lực từng ngày. Thế nhưng, chính sự nỗ lực ấy lại khiến tôi nhìn rõ thực tại hơn. Chính vì tôi là người có thể sống một mình, nên tôi lại càng không thể đối diện trực tiếp với giấc mơ vốn được tô điểm bằng những lý tưởng.
(本当は自信がないんだ)
(Thực ra, mình chẳng có chút tự tin nào cả.)
一生を夢に捧げたとして、夢が叶わなかった人生に意味はあるのか。ずっと自分で自分を責めている。小説家という目標は家族や友人にも打ち明け済みだ。誰も僕の生き方を否定しない。僕の周りは優しい人間でいっぱいだ。それでも誰かに責められてしまいたくなる。
外面では夢を追うにふさわしい強い生き方を確立しているように見せかけても、内心では己の在り方に悩む自分を慰められない。大学を卒業したのに就職しないことは幼稚だという価値観を振り払えず、無意味な自問自答を繰り返してしまうのが僕という生き物だ。
Nếu dành cả đời cho giấc mơ mà nó không thành hiện thực, liệu cuộc đời đó có ý nghĩa gì không? Tôi vẫn luôn tự trách mình như thế. Tôi đã thổ lộ mục tiêu trở thành tiểu thuyết gia với gia đình và bạn bè. Không ai phủ nhận cách sống của tôi cả. Xung quanh tôi toàn là những người tử tế. Thế nhưng, đôi khi tôi lại muốn có ai đó trách mắng mình.
Dù bên ngoài tôi luôn tỏ ra mình có một lối sống mạnh mẽ, xứng đáng với kẻ đang theo đuổi ước mơ, nhưng thâm tâm tôi lại không thể vỗ về một bản thân đang trăn trở về chính sự tồn tại của mình. Tôi không thể rũ bỏ quan niệm rằng việc tốt nghiệp đại học mà không đi làm là sự ấu trĩ, để rồi cứ mãi lặp lại những câu hỏi tự vấn vô nghĩa.
(プロか……ベトナム人にとってはどんな意味なのかな)
(Chuyên nghiệp à... không biết với người Việt Nam, từ đó có ý nghĩa gì nhỉ.)
どんな表情で打ち込んでくれたのだろう。そして僕は、どんな表情を浮かべたらいいのだろう。
Không biết khi gõ những dòng đó, chị đã biểu cảm thế nào. Và tôi, nên mang gương mặt ra sao đây.
「ありがとう、頑張ってみるね」
「Cảm ơn chị, anh sẽ cố gắng.」
「うん。ちょっと休んでね。夜バイトだから」
「Ừm. Nghỉ ngơi chút đi nhé. Tối nay còn đi làm thêm nữa mà.」
しばらく繋ぎの話題が浮かばなくて、返信はせずに既読も付けなかった。そうしているうちに出勤時間が近づいてくる。なんだか空が曇り出したなと思えば、あっという間に雨粒が窓ガラスを叩くような豪雨になった。この季節は梅雨が意気揚々としている。僕はスマホを掴み取った。
Một lúc lâu tôi không nghĩ ra được chủ đề gì để nối tiếp, nên tôi đã không trả lời cũng như không xem tin nhắn. Trong lúc đó, giờ đi làm cũng đã cận kề. Vừa thấy bầu trời bỗng chốc sầm sì, những hạt mưa nặng hạt đã bắt đầu quất sầm sập vào cửa kính. Mùa này, những cơn mưa tướt mướp của mùa mưa đang đắc thắng. Tôi chộp lấy điện thoại.
「ウーさん、雨が降ってきたよ……」
「Chị Ước ơi, trời mưa rồi……」
「私も雨好きじゃない。大変。頑張ってね」
「Chị cũng không thích mưa đâu. Vất vả nhỉ. Cố gắng lên nhé!」
「いってきます、またねー!」
「Tôi đi đây, hẹn gặp lại chị sau nhé!」
僕は傘立てから紺色の傘を引き抜いた。
アスファルトの地面から跳ねる水滴が煩わしい。それならせめて、この後ろめたさや不安を洗い流してくれないだろうか。
Tôi rút chiếc ô màu xanh thẫm ra khỏi giá để ô.
Những giọt nước bắn lên từ mặt đất thật phiền toái. Nếu đã vậy, giá mà cơn mưa này có thể gột rửa sạch cả nỗi mặc cảm lẫn những bất an đang bủa vây lấy tôi thì tốt biết mấy.
18時、本日の労働が始まった。
18 giờ, ca làm việc hôm nay bắt đầu.
「お客さまお会計です!」
「Quý khách thanh toán ạ!」
「「「ありがとうございます!」」」
「「「Xin cảm ơn quý khách!」」」
フロア全員で声を揃えて、一斉にお辞儀する。
今夜は平日かつ雨天の営業にしては忙しかった。濃い緑色に汚れたダスターを握った片桐さんと視線が合う。テーブルに粉末緑茶をぶちまけた客の対応を終えたばかりで、ベテランの彼女も疲弊しているようだった。
Tất cả nhân viên dưới sảnh đồng loạt cúi chào.
Đêm nay, dù trời mưa và là ngày thường nhưng quán khá đông khách. Tôi khẽ chạm ánh mắt với em Katagiri đang cầm chiếc khăn lau bẩn màu xanh đậm. Em ấy trông có vẻ kiệt sức sau khi vừa xử lý xong sự cố một vị khách làm đổ trà xanh bột ra bàn. Em đúng là một người dày dạn kinh nghiệm.
「ごめん、レジいける?」
「Xin lỗi nhé, anh đứng quầy thu ngân giúp em được không?」
「OK」
「OK」
僕は苦笑しながら、親指と人差し指で輪を作った。
もう二ヶ月以上も一緒に働いていれば、お互いに気心も知れた仲というか。学生が多い夜のフロアでは年上の立場となる僕だが、ほぼ全員が遠慮せずにタメ口で話しかけてくれるようになっていた。昨日は岡原さんともバレーの話題で打ち解けることができた。大学を中退している木澤くんの存在もあって、フリーターという存在に過度な偏見の目がないことも良い影響を及ぼしているのだと思う。
Tôi khẽ cười, ra hiệu bằng tay cho chị yên tâm.
Đã làm việc cùng nhau hơn hai tháng, chúng tôi dường như đã quá hiểu ý nhau. Dù ở độ tuổi của tôi, tôi được coi là "đàn anh" so với đám sinh viên làm ca đêm, nhưng hầu như mọi người đều nói chuyện với tôi một cách thoải mái, không câu nệ. Hôm qua, tôi cũng đã bắt chuyện được với chị Okahara về chủ đề bóng chuyền. Có lẽ sự hiện diện của cậu Kizawa, một người đã bỏ học đại học, cũng góp phần tạo nên một môi trường không có định kiến quá mức về những người làm tự do (freeter) như tôi.
(しばらく忙しくなりそう。今回のコラボはいつまで続くのかな。あとで確認しておこう)
(Có vẻ sẽ còn bận rộn dài dài. Không biết đợt hợp tác lần này kéo dài đến bao giờ nhỉ? Tẹo nữa phải kiểm tra mới được.)
僕は足早にレジへと向かった。
Tôi rảo bước về phía quầy thu ngân.
とば寿司は二ヶ月に一回ほどの頻度で"ふっとば星コラボ"というキャンペーンを実施する。
Toba Sushi cứ khoảng hai tháng một lần lại tổ chức chiến dịch mang tên "Futtoba Sei Collab".
日本には"ちいかわ"や"サンリオ"といった可愛いキャラクターや、"名探偵コナン"や"僕のヒーローアカデミア"といった国民的な人気を誇るアニメや漫画がたくさん存在する。ウーさんも日本のアニメを観ていると言っていた。
Ở Nhật Bản có rất nhiều nhân vật đáng yêu như "Chiikawa" hay "Sanrio", và cả những bộ anime, manga quốc dân như "Thám tử lừng danh Conan" hay "Học viện anh hùng". Chị Ước cũng từng nói chị có xem anime Nhật Bản.
そういう有名な作品と"とば寿司"のコラボグッズを期間限定で配布するキャンペーンだ。とば寿司で食事したり、お持ち帰り商品を注文することで"ふっとば星"という独自のポイントを入手できる。客は、とば寿司での会計額が2500円を超えるごとに、一つずつ"ふっとば星"を獲得できる。その獲得した星をコラボグッズとレジで引き換えする仕組みだ。もちろんグッズの在庫にも限りがあるので、キャンペーンの初日は客がレジ前に集中することになる。
Đây là chiến dịch phân phối các vật phẩm giới hạn kết hợp với những tác phẩm nổi tiếng đó. Bằng cách ăn tại Toba Sushi hoặc mua đồ mang về, khách hàng có thể tích lũy điểm thưởng riêng gọi là "Futtoba Sei" (Sao vụt bay). Cứ mỗi hóa đơn trên 2500 yên, khách sẽ nhận được một "Ngôi sao". Những ngôi sao này dùng để đổi lấy quà tặng tại quầy. Tất nhiên quà có hạn, nên vào ngày đầu tiên, khách thường tập trung rất đông trước quầy thu ngân.
「すいません、このコラボグッズください」
「Xin lỗi, cho tôi đổi món đồ này.」
「ありがとうございます、レシート確認させてください。7500円を超える会計なので"ふっとば星"が三つですね。こちらから3つのグッズをお選びください」
「Cảm ơn quý khách, để tôi kiểm tra hóa đơn ạ. Với hóa đơn trên 7500 yên, quý khách có 3 Ngôi sao. Mời quý khách chọn 3 món quà trong số này.」
「えー、どの子にしようかな……」
「Ê…… chọn bạn nào bây giờ ta……」
お客さんが目の前で悩み出したので、僕は微笑みながら待機する。今回のコラボグッズは全8種類のクッションチャームだった。
Vị khách bắt đầu phân vân, tôi mỉm cười kiên nhẫn đợi. Quà lần này là các móc khóa gối nhỏ với 8 nhân vật khác nhau.
これを手に入れるために回転寿司で7500円も食事するのは大家族でないと厳しい印象がある。目の前で悩み続けるのは一見普通のOL。しかし、どうやら一人で7500円もの寿司皿を完食した様子の彼女に対して、僕は畏怖の念を抱いた。社会人が趣味に捧げる熱量は計り知れない。
Để đổi được món này mà phải ăn hết 7500 yên ở quán sushi băng chuyền thì đúng là khó nếu không đi theo gia đình lớn. Vị khách đang đứng phân vân trước mặt tôi trông như một nữ nhân viên văn phòng bình thường. Thế nhưng, khi nghĩ đến việc cô ấy đã một mình đánh chén hết số sushi trị giá 7500 yên, tôi bỗng thấy nể phục xen lẫn chút khiếp sợ. Nhiệt huyết mà những người đi làm dành cho sở thích của mình thật sự không thể đong đếm được.
自分の好きなものにお金や時間を使える人が、スゥっと息を吸い込める世界だったらいいに決まっている。誰かの呼吸を羨むことはない。そんな自由を眺めることで僕も安心できるから。
Thế giới mà ở đó mọi người có thể tự do dành tiền bạc và thời gian cho những thứ mình yêu thích chắc chắn là một thế giới tuyệt vời, nơi họ có thể hít thở một cách nhẹ nhõm. Chẳng cần phải ghen tị với hơi thở của bất kỳ ai. Bởi khi ngắm nhìn sự tự do ấy, chính bản thân tôi cũng cảm thấy an lòng.
「じゃあ、この子にします!」
「Vậy tôi lấy bạn này ạ!」
「はい、どうぞ。またお越しくださいませ!」
「Vâng, của quý khách đây. Chào mừng quý khách lần sau lại ghé thăm!」
「ありがとうございます!」
「Cảm ơn anh!」
どうやら長考の末に決まったようだ。
熱いOLの戦士に対して、僕は深々と頭を下げた。
いつのまにかレジに列が出来ていた。僕はレシートの確認とコラボグッズの配布に集中することにした。しばらくレジから離れることはできないだろう。
Sau một hồi suy nghĩ kỹ càng, cô ấy cũng đã chọn xong.
Tôi cúi đầu thật sâu tiễn đưa "nữ chiến binh" đầy nhiệt huyết ấy.
Chẳng mấy chốc, một hàng dài đã xếp trước quầy. Tôi tập trung vào việc kiểm tra hóa đơn và phát quà. Chắc chắn tôi sẽ phải đứng đây một lúc lâu nữa.
「すいません、レジありがとうございます。キャンペーンの初日だから大変ですよね」
「Xin lỗi nhé, cảm ơn anh đã đứng quầy giúp em. Ngày đầu chiến dịch nên vất vả quá nhỉ.」
「どういたしまして。そっちもお疲れ様」
「Không có gì. Em cũng vất vả rồi.」
気にしないでね、と片桐さんに軽く手を振る。彼女たちもテーブルの片付けや、客からの呼び出しに奔走しているのだから、気に止む必要はない。
特にキャンペーン初日はコラボ用の新メニューが提供されるので、必然的に厨房のミスも増えていく。どこに居ても皆が自分の仕事で精一杯なのだ。
Tôi khẽ xua tay với em Katagiri như muốn nói "Đừng bận tâm". Các em cũng đang phải chạy đôn chạy đáo dọn bàn và hỗ trợ khách hàng, nên không việc gì phải áy náy.
Đặc biệt là ngày đầu chiến dịch thường có menu mới, sai sót trong nhà bếp là điều không tránh khỏi. Dù ở vị trí nào, ai cũng đang nỗ lực hết mình.
「お客さん、少なくなりましたね」
「Khách bắt đầu thưa dần rồi nhỉ.」
「なんだか珍しいね」
「Lạ thật đấy.」
その後のフロアも忙しかったが、雨足が強まってきたのもあってか、この日のラスト作業は順調に終わった。コラボ初日にしては珍しい終わり方だ。
強風に傘が持っていかれそうになる豪雨の中、僕は足早に帰路に着いた。素足に靴下が張り付く不快な感覚がする。
時刻はぴったり23時、ずぶ濡れになりながらの帰宅だ
った。
Khoảng thời gian sau đó dù bận rộn nhưng có lẽ do mưa nặng hạt, các công việc dọn dẹp cuối ca diễn ra khá suôn sẻ. Một kết thúc hiếm thấy cho ngày đầu tiên của một đợt collab.
Giữa cơn mưa xối xả như muốn cuốn bay cả chiếc ô, tôi vội vã lên đường về nhà. Cảm giác đôi tất ướt nhẹp dính chặt vào bàn chân thật khó chịu.
Đúng 23 giờ, tôi về đến nhà trong tình trạng ướt như chuột lột.
「お疲れ様。たくさん食べて休んでね」
「Vất vả cho em rồi. Ăn thật nhiều rồi nghỉ ngơi nhé.」
タオルで雨に濡れた髪を乾かしていると、ポンっとスマホから通知音が鳴った。相手を確認するとウーさんだった。仕事の終わり際を予想して、労いの言葉を打ち込んでくれたのだろう。じわっと心が暖かくなっていく。
Trong lúc tôi đang dùng khăn lau khô mái tóc ướt nước mưa, điện thoại bỗng vang lên tiếng thông báo "tưng". Người gửi là chị Ước. Có lẽ chị đã căn giờ tôi tan làm để gửi lời hỏi thăm. Lòng tôi bỗng chốc thấy ấm áp lạ thường.
「ただいま。今日のラストは早めに終わったよ!」
「Tôi về rồi đây. Ca cuối hôm nay kết thúc sớm hơn mọi khi!」
「いいね、私たちのラストはいつも23時を超えるよ」
「Hay quá nhỉ, ca cuối của bọn chị lúc nào cũng quá 23 giờ mới xong.」
「今日のフロアは楽だった」
「Sảnh hôm nay khá nhàn.」
「大変じゃなかったね。土日だけ大変かも」
「Không vất vả mấy nhỉ. Chắc chỉ có thứ Bảy, Chủ Nhật mới mệt thôi.」
「土日はお客さんが帰ってくれないね。ノーゲスト」
「Cuối tuần thì khách chẳng chịu về cho. No Guest (Không còn khách) luôn.」
ノーゲスト、と復唱した。
とば寿司に伝わる日本人とベトナム人の合言葉。
Tôi lặp lại cụm từ "No Guest".
Đó là từ lóng chung của người Nhật và người Việt làm việc tại Toba Sushi.
「そうね、英語みたい。"No Guest"?」
「Đúng thế, giống tiếng Anh nhỉ. 'No Guest'?」
「よく分かったね、正解だよ!」
「Chị đoán chuẩn thế, chính xác luôn!」
「日本人は英語勉強しないね。ベトナム人は英語勉強しないと。でも少しだけ、でも日本のカタカナは英語みたい」
「Người Nhật không học tiếng Anh mấy nhỉ. Người Việt thì phải học tiếng Anh đấy. Nhưng có một chút, Katakana của Nhật trông cũng giống tiếng Anh.」
「日本人はカタカナの英語をアニメなどで覚えるから。例えば、スパイファミリー(スパイの家族)みたいに」
「Vì người Nhật nhớ tiếng Anh qua Katakana trong anime mà. Ví dụ như 'Spy Family' (Gia đình điệp viên) ấy.」
「アニメの英語、面白いねww」
「Tiếng Anh trong anime thú vị thật đấy ww」
僕が送信してからウーさんが返信するまで、数分から数十分の心地よい空白の時間が生まれる。最近は少し長めの文章を送り合うようになった。その都度、優しい彼女は日本語の慣れない翻訳を頑張ってくれているのだろう。
Giữa những lúc tôi gửi tin đi và chị Ước phản hồi, luôn có một khoảng lặng dễ chịu kéo dài từ vài phút đến vài chục phút. Dạo gần đây, chúng tôi bắt đầu gửi cho nhau những đoạn tin nhắn dài hơn. Chắc hẳn mỗi lần như vậy, người con gái dịu dàng ấy đã phải nỗ lực rất nhiều để dịch sang tiếng Nhật.
LINEの合間にシャワーで労働の汗を流して、化粧水を使った洗顔や寝る前の歯磨きを済ませていく。二日連続で寝落ちするのは勘弁したい。
Tranh thủ lúc chờ tin nhắn, tôi đi tắm để gột rửa mồ hôi sau ca làm, rồi dùng sữa rửa mặt, nước hoa hồng và đánh răng trước khi ngủ. Tôi không muốn lặp lại việc ngủ quên hai ngày liên tiếp đâu.
「明日、学校で漢字テストある。勉強もう疲れたww」
「Mai chị có bài kiểm tra Hán tự ở trường. Học mệt quá đi mất ww」
「お疲れ様、どんな漢字が現れるんだろうねw」
「Vất vả cho chị quá, không biết những chữ Hán nào sẽ xuất hiện đây nhỉ w」
ウーさんがノートの画像を送ってくれた。丁寧な板書に彼女の性格が窺える。漢字の書き取りを一生懸命に行なっている姿を想像して微笑ましくなった。
Chị Ước gửi cho tôi ảnh chụp cuốn vở của mình. Những dòng chữ ngay ngắn cho thấy tính cách cẩn thận của chị. Hình ảnh chị đang miệt mài tập viết từng nét chữ Hán khiến tôi không khỏi mỉm cười một cách trìu mến.
「読み方大丈夫だが、書き方やばいかもww」
「Đọc thì không sao nhưng viết thì chắc hỏng bét quá ww」
「際、案、両、替、喫、郵、懐かしいな。僕も学生の時に勉強した漢字だ」
「Tế, Án, Lưỡng, Thế, Khiết, Bưu... Hoài niệm thật đấy. Toàn là những chữ Hán anh cũng từng học thời còn đi học.」
本当に懐かしい。あの頃から僕は日本語が好きだった。
Thực sự rất hoài niệm. Từ hồi đó, tôi đã vốn yêu thích tiếng Nhật rồi.
「そうか、ベトナム人は漢字がよくない」
「Ra vậy, người Việt Nam không giỏi chữ Hán cho lắm.」
「日本人もベトナム語はよくない。一緒だね」
「Người Nhật cũng không giỏi tiếng Việt mà. Giống nhau cả thôi.」
まだ窓を叩く雨音は強いけれど、この部屋の中には確かな安らぎが満ちていた。先刻まで冷えていた指先が充分に温まったら、今日という一日を締めくくろう。
Dù tiếng mưa quất vào cửa sổ vẫn còn mạnh, nhưng trong căn phòng này đang tràn ngập một sự an yên rõ rệt. Khi những đầu ngón tay đã đủ ấm, tôi quyết định khép lại một ngày dài.
「そうね。遅くなったから休んでね。あなたはテストないけどww」
「Đúng thế nhỉ. Muộn rồi, em nghỉ ngơi đi nhé. Dù em không phải đi thi ww」
「うん、おやすみ!」
「Vâng, chúc chị ngủ ngon!」
「おやすみ、今日の話はちょっと短いねww」
「Ngủ ngon nhé, hôm nay chuyện hơi ngắn nhỉ ww」
(えっ、最後にそんなこと送るのは反則だって……もっと話したいと思ってくれたのかな。いや、深読みしたらダメだ。もう僕は大人なんだから……)
(Hả, gửi cái câu cuối cùng như thế thì đúng là "phạm quy" rồi…… Chẳng lẽ chị ấy cũng muốn nói chuyện nhiều hơn sao? Không được, không được suy diễn lung tung. Mình là người lớn rồi mà……)
外の豪雨に負けないくらい、僕の心臓が跳ねる。
この日は悶々としながら眠りについた。
まるで……片思いする少年のようだった。
Trái tim tôi đập thình thịch, như muốn át đi cả tiếng mưa xối xả ngoài kia.
Đêm đó, tôi chìm vào giấc ngủ với biết bao trăn trở ngổn ngang.
Cứ như thể…… tôi là một cậu thiếu niên đang biết yêu đơn phương vậy.




