表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
13/15

お天気お兄さん

 7月も後半に差し掛かり、猛暑日が増えた。

 僕は会話の糸口が見つからない時、その日の天気の話題でアプローチするようになった。

 お天気キャスターならぬ、お天気フリーターだ。

 Đã bước sang nửa cuối tháng Bảy, những ngày nắng nóng cực điểm bắt đầu tăng dần.

 Mỗi khi không tìm được manh mối để bắt đầu câu chuyện, tôi lại dùng chủ đề thời tiết để tiếp cận chị.

 Thay vì là một biên tập viên dự báo thời tiết, tôi trở thành một "anh chàng freeter dự báo thời tiết".

 

「おはよう、今日は暑いから熱中症に気を付けてね」

「Chào buổi sáng, hôm nay trời nóng lắm nên chị nhớ cẩn thận đừng để bị say nắng nhé.」

 

「うん、ありがとう。今日は何をする?」

「Ừm, cảm ơn em. Hôm nay em làm gì?」


 僕は公園のベンチに座っていた。ちょうど日陰になっていて涼しい場所だ。

 Tôi đang ngồi trên băng ghế ở công viên. Đó là một chỗ râm mát và khá mát mẻ.

 

「僕は散歩しているよ。とても暑いねww」

「Tôi đang đi dạo. Trời nóng thật đấy ww」

 

「そうか、楽しそうでいいな。でも気をつけてねww」

「Vậy à, vui thế thì tốt rồi. Nhưng mà nhớ cẩn thận nhé ww」

 

 こんな感じで他愛のないLINEを送り合っていた。なかなかシフトが被らなくても、ほぼ毎日のようにお互いの国の話や近況報告をするようになった。ささやかな談笑でも、僕の仕事の疲れを癒すには充分な効果だった。お互いの距離が縮んでいく気がした。

 Chúng tôi cứ thế gửi cho nhau những dòng tin nhắn không đâu vào đâu như vậy. Dù lịch làm việc không trùng nhau, nhưng gần như ngày nào chúng tôi cũng kể cho nhau nghe về đất nước của mình hay tình hình dạo này thế này. Những lời tán gẫu nhỏ bé ấy là quá đủ để chữa lành những mệt mỏi trong công việc của tôi. Tôi cảm thấy khoảng cách giữa hai người đang dần thu hẹp lại.


 もちろん、ウーさんと職場で偶然にも出会ったら、その度に笑顔で話しかけていた。急にすれ違うと話題が思いつかない。そこで大抵は天気の話をすることにした。

 Tất nhiên, mỗi khi tình cờ gặp chị Ước ở nơi làm việc, tôi đều mỉm cười chào chị. Nếu bất chợt lướt qua nhau mà chưa nghĩ ra chủ đề gì, tôi thường mang chuyện thời tiết ra nói.

 

「あっ、ウーさんだ。お疲れ様」

「A, chị Ước. Vất vả cho chị rồi.」

 

「お疲れさま、私はまだ仕事あるよ、もう疲れたね」

「Vất vả rồi, chị vẫn còn việc phải làm, mệt quá đi mất.」


 ウーさんはマスクを手で押さえながら、ふわぁっと小さく欠伸した。とろんとした目の眠そうな表情だ。

 Chị Ước vừa lấy tay ấn nhẹ chiếc khẩu trang, vừa khẽ ngáp một cái thật nhỏ. Đôi mắt chị trông lờ đờ vì buồn ngủ.


「うわぁ、頑張って。そろそろ雨が降りそうだったから、自転車で帰る時は気を付けてね。じゃあね!」

「Uầy, cố lên nhé. Hình như sắp mưa đấy, chị về bằng xe đạp nhớ cẩn thận nhé. Hẹn gặp lại!」

 

「ふふっ、ありがとうね。あなたも気をつけて!」

「Hì hì, cảm ơn em nhé. Em cũng cẩn thận đấy!」

 

 厨房の従業員は仕事中に空模様を確認できない。フロアの従業員は窓の外を眺める余裕がある。帰りの天気が悪くなりそうだったら、それを自転車で通勤するウーさんに伝えることにしていた。このやり取りに効果があったかは知らない。ほんの少しでも挨拶に情報を加えたかった。

 Nhân viên nhà bếp không thể xem được tình hình bầu trời khi đang làm việc. Còn nhân viên sảnh như tôi lại có thời gian rảnh để nhìn ra cửa sổ. Nếu thấy thời tiết lúc về có vẻ xấu, tôi quyết định sẽ báo cho chị Ước — người đi làm bằng xe đạp. Tôi không biết liệu việc này có ích gì không, nhưng tôi chỉ muốn thêm chút thông tin vào lời chào hỏi của mình.


 (あっ、ウーさんだ。一人でお寿司握ってる……)

 (A, chị Ước kìa. Chị ấy đang đứng nắm sushi một mình……)

 

 たまに厨房の様子を眺めていた。

 ウーさんが僕以外の日本人と親しく話している光景はあまり見なかった。それに少しばかりの優越感を抱いて、すぐに鉄の自制心を働かせた。彼女と日本語で会話する時間を僕だけが独占したい訳ではない。話し言葉一つを取っても、それぞれの個性が出るものだから。僕としては、彼女と仲の良い日本人が増えることを応援するべきなのだ。

 Thi thoảng tôi lại lén nhìn về phía nhà bếp.

 Tôi hiếm khi thấy chị Ước trò chuyện thân thiết với những người Nhật khác ngoài tôi. Cảm giác ưu việt nhỏ nhoi trỗi dậy, nhưng ngay lập tức tôi phải dùng sự tự kiềm chế sắt đá của mình để dập tắt nó. Tôi không muốn độc chiếm thời gian trò chuyện bằng tiếng Nhật với chị. Bởi lẽ, ngay cả trong cách nói chuyện, mỗi người đều có cá tính riêng. Về phần mình, tôi nên ủng hộ việc chị có thêm nhiều người bạn Nhật thân thiết hơn.


 (僕、何様のつもりなんだろうな)

 (Mình đang tự cho mình là ai thế này?)


 そんな葛藤を知らず、ウーさんは無邪気だった。

 とととっ、と僕の姿を視認して近寄ってくる彼女は、自由気ままな猫が懐いてくるような印象を抱かせた。本当に可愛らしくてマイペースな女の子だった。

 いつも未熟な独占欲を抱いては、この人にそんな仄暗い感情を向けたくないと、自分で自分を戒めていた。

 Chẳng hề hay biết về những mâu thuẫn đó trong tôi, chị Ước vẫn rất hồn nhiên.

 Cứ mỗi khi thấy bóng dáng tôi là chị lại lăng xăng chạy lại gần, tạo cho tôi cảm giác như một chú mèo tự do đang quấn quýt lấy chủ. Chị thật sự là một cô gái đáng yêu và luôn sống theo nhịp điệu của riêng mình.

 Mỗi khi nảy sinh lòng độc chiếm ích kỷ, tôi lại tự răn đe bản thân rằng không được hướng những cảm xúc đen tối đó về phía con người này.


「あっ、ウーさん!」

「A, chị Ước!」


 その日は金曜日だが、祝日のシフトだった。

 あと数分で出勤の時間となる。僕がメモ帳やボールペンを窮屈なポケットに押し込んでいると、紺色のはっぴを羽織ったウーさんが更衣室の中から現れた。僕の存在に気付いて、ふわっとした笑顔で手を振ってくれる。こっちも負けじと手を振り返した。

 Hôm đó là thứ Sáu, nhưng lại vào ca làm của ngày lễ.

 Chỉ còn vài phút nữa là đến giờ vào làm. Trong lúc tôi đang cố nhét cuốn sổ tay và cây bút bi vào chiếc túi quần chật chội, chị Ước trong bộ áo Happi màu xanh thẫm bước ra từ phòng thay đồ. Nhận ra sự hiện diện của tôi, chị nở một nụ cười rạng rỡ và vẫy tay chào. Tôi cũng không chịu thua kém mà vẫy tay đáp lại.


「ふふっ、おはようございます」

「Hì hì, chào buổi sáng nhé.」

 

「おはよう、ウーさん。今日はシフトの時間一緒だね」

「Chào buổi sáng chị Ước. Hôm nay ca làm của mình trùng nhau nhỉ.」

 

「うん。珍しいね」

「Ừm. Hiếm khi mới thế này đấy.」


 ウーさんがヘアゴムで長い髪を後頭部に括り、青い帽子と黒いヘアネットを取り出す。あとは真っ白な新品のマスクをするだけで彼女が厨房に向かう準備は万端だ。

 僕も着替えなくては。半袖シャツの上から紺色のはっぴを羽織り、黒いヘアネットを被ろうとした時だった。

 Chị Ước dùng dây thun buộc mái tóc dài ra sau gáy, rồi lấy chiếc mũ xanh và lưới bao tóc màu đen ra. Giờ chỉ cần đeo chiếc khẩu trang mới tinh vào là chị đã sẵn sàng tiến vào nhà bếp.

 Tôi cũng phải thay đồ thôi. Vừa khoác chiếc áo Happi bên ngoài chiếc áo thun ngắn tay và định đội lưới bao tóc lên thì.


「あっ、ちょっと動かないでね」

「A, đứng yên một chút nào.」

 

「ん、ウーさんっ!?」

「Hả, chị Ước!?」

 

 小さな手がこっちに向かって伸ばされる。普段ならウーさんとの間には身長差があるのだが、今の僕は少しだけ屈んでいる体勢だった。咄嗟に避けることもできず、今さら振り払うこともできず、彼女にされるがままとなった。

 つぅっとしなやかな指先に頭頂部を梳かれて、むず痒い感覚が頭から爪先にまで走った。ほんの数秒が永遠のように長く感じる。

 Một bàn tay nhỏ nhắn đưa về phía tôi. Bình thường thì giữa tôi và chị có một khoảng cách về chiều cao, nhưng lúc này tôi đang ở tư thế hơi cúi người. Chẳng kịp tránh mà cũng chẳng thể gạt ra, tôi đành đứng yên mặc cho chị muốn làm gì thì làm.

 Đầu ngón tay thon thả của chị lướt nhẹ trên đỉnh đầu tôi, một cảm giác nhồn nhột chạy dọc từ đầu xuống tận ngón chân. Vài giây ngắn ngủi đó mà tôi ngỡ như dài vô tận.


「はい、もう大丈夫よ。小さいゴミがついていたから取った」

「Rồi, xong rồi đấy. Có mẩu rác nhỏ dính trên đầu em nên chị lấy ra giúp thôi.」

 

 ウーさんの小さな手が離れたのを確認して、ゆっくりと顔を上げる。

 Xác nhận bàn tay nhỏ nhắn của chị đã rời đi, tôi mới từ từ ngẩng mặt lên.


「……ありがとう。全然気付かなかったよ」

「……Cảm ơn chị. Tôi chẳng nhận ra là có gì dính trên đầu cả.」

 

「ふふっ、さっきまで寝てたね?」

「Hì hì, vừa nãy em mới ngủ dậy đúng không?」


 ウーさんが糸くずをつまんで見せてきた。確かに彼女が仰る通り、家を出る直前まで寝台の上でゴロゴロと寝返りを打っていたのは事実だ。どうやら僕の後頭部にシーツの毛玉がくっついていたらしい。寝起きで油断していた。

 僕は曖昧に微笑んで気恥ずかしさを誤魔化した。

 Chị Ước đưa mẩu chỉ vụn ra trước mặt tôi. Đúng như chị nói, sự thật là ngay trước khi ra khỏi nhà, tôi vẫn còn nằm lăn lộn trên giường. Có vẻ như một mẩu xơ vải từ tấm ga trải giường đã dính vào sau gáy tôi. Tôi đã quá chủ quan sau khi vừa ngủ dậy.

 Tôi nở một nụ cười ngượng ngùng để che giấu sự bối rối.


「バレちゃったか。そう、お昼寝してたんだよ」

「Bị chị phát hiện mất rồi. Đúng thế, lúc nãy anh có ngủ trưa một chút.」

 

「もう、ちゃんと起きてね」

「Thật là, dậy hẳn hoi đi chứ.」

 

「はいはい」

「Vâng vâng.」


 はいは一回まで、とベトナム人の彼女が教わることはあるのだろうか。どうでもいいことが気になった。

 Liệu có bao giờ một cô gái người Việt như chị ấy được dạy rằng "Chỉ được trả lời "Vâng" một lần duy nhất" không nhỉ? Tôi bỗng thắc mắc về một điều chẳng đâu vào đâu như thế.


 ぱしっとウーさんに背中を軽く叩かれる。事務所のドアノブを捻って、手洗い場までの狭い通路を二人で歩く。その途中でゴミ箱に糸くずがぽいっと放り込まれるのを視界の端に捉えた。なんだか格好がつかない。

 Chị Ước vỗ nhẹ vào lưng tôi một cái "bốp". Tôi vặn nắm cửa văn phòng, hai đứa cùng đi bộ dọc theo lối hành lang hẹp dẫn đến bồn rửa tay. Liếc mắt qua, tôi thấy chị tiện tay ném mẩu chỉ vào thùng rác. Trông tôi lúc này chẳng ra dáng vẻ gì cả.


「ねぇ、今日ラスト?」

「Này, hôm nay em làm ca cuối à?」

 

「僕はラストだよ、ウーさんは?」

「Vâng, tôi làm ca cuối, còn chị thì sao?」

 

「私も一緒ね。でも朝から学校に行って疲れてる。今日は漢字テストがあったね。私の点数よくない」

「Chị cũng thế. Nhưng sáng nay chị đi học ở trường nên mệt quá. Hôm nay có bài kiểm tra Hán tự, điểm của chị không tốt lắm.」


 その報われない努力に思いを馳せた。僕も同じだ。

 Tôi thầm nghĩ về những nỗ lực chưa được đền đáp của chị. Tôi cũng giống chị vậy thôi.

 

「そっか、疲れちゃったね」

「Vậy à, chắc chị mệt lắm nhỉ.」

 

「本当にそう」

「Thực sự là mệt lắm luôn.」


 むぅっと形の良い眉を顰めるウーさん。僕が相槌を打っていると、顔認証用の端末の前に到着した。ここで出勤の打刻をすることで各従業員のタイムカードが記録される。

 一歩だけ後ろに下がった。

 Chị Ước khẽ cau đôi lông mày thanh tú. Trong lúc tôi đang gật đầu đồng cảm thì cả hai đã đến trước máy nhận diện khuôn mặt. Việc điểm danh tại đây sẽ ghi lại thẻ chấm công của mỗi nhân viên.

 Tôi lùi lại một bước.


「お先にどうぞ、ここってレディファーストだから」

「Mời chị trước, ở đây ưu tiên phụ nữ mà.」

 

「ふふっ、私はレディじゃない。でも、ありがとうね」

「Hì hì, chị không phải quý bà đâu. Nhưng mà cảm ơn em nhé.」


 僕たちは順番に打刻を終えて、石鹸とアルコールで手を消毒する。厨房で働くウーさんは同じ手洗いの工程を二回も繰り返さなくてはいけない。僕はフロアなので手洗いは一回だけで充分だ。冷たい流水が心地よい。

 Chúng tôi lần lượt điểm danh xong, rồi sát khuẩn tay bằng xà phòng và cồn. Chị Ước làm ở bếp nên phải lặp lại quy trình rửa tay hai lần. Tôi làm ở sảnh nên chỉ cần rửa một lần là đủ. Dòng nước mát lạnh khiến tôi thấy thật sảng khoái.


「じゃあ、厨房で頑張ってね」

「Vậy thì, cố gắng làm việc trong bếp nhé.」

 

「うん、フロアも頑張って」

「Ừm, ngoài sảnh cũng cố lên nhé.」


 二回目の手洗いに入ったウーさんを尻目に、フロアへと歩みを進めた。今は暇な時間なのか、顔馴染みの同僚たちは小厨房で雑談中のようだった。僕が静かに近付く気配を察してか、こっちの方へ彼らの視線が集まる。

 Để chị Ước lại phía sau khi chị đang bắt đầu lượt rửa tay thứ hai, tôi tiến bước ra phía sảnh. Có vẻ lúc này đang là khung giờ rảnh rỗi, những đồng nghiệp quen mặt đang tụ tập tán gẫu trong khu tiểu quy (khu vực chuẩn bị đồ của sảnh). Dường như nhận ra sự hiện diện của tôi khi tôi lặng lẽ tiến lại gần, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía này.


「おはよう、今は暇な感じ?」

「Chào mọi người, giờ đang rảnh à?」


 僕が話しかけると、木澤くんが片手を振った。

 Tôi vừa cất lời thì cậu Kizawa vẫy tay.

 

「あっ、おはよう。めっちゃ暇すぎるわ」

「A, chào anh. Đang rảnh rỗi phát điên đây này.」


 そこに高校生の声も重なってくる。

 Ngay lập tức, giọng của cậu học sinh cấp ba cũng xen vào.

 

「やっほー。そうだ、先輩の夏の予定も知りたくね?」

「Hế lô anh. Mà này, mọi người cũng muốn biết dự định mùa hè của tiền bối đúng không?」

 

「確かに気になるかも、先輩は何するんですか!」

「Chuẩn luôn, em cũng tò mò lắm. Anh định làm gì thế tiền bối!」


 祝日の金曜日、いつもよりフロアの空気も浮き足立っている。お客さんの目が届かない小厨房は、僕たちにとって自由な日陰の場所だ。

 Ngày thứ Sáu của kỳ nghỉ lễ, bầu không khí ngoài sảnh dường như cũng hào hứng hơn mọi khi. Khu vực tiểu quy nằm ngoài tầm mắt của khách hàng chính là "vùng bóng râm" tự do của chúng tôi.

 

 くつろいだ様子で壁に寄りかかって談笑している男の子が二人と、手慣れた様子で洗い物をしながら彼らの会話に加わる女の子が一人。すっかりラスト作業の顔馴染みとなった木澤くんと、高校三年生の成田くんと高校二年生の岡原さんだ。今日も楽しそうで何よりだ。

 Hai cậu nhóc đang tựa lưng vào tường tán gẫu đầy thong thả, và một cô bé đang thoăn thoắt rửa bát trong khi vẫn góp vui vào câu chuyện. Đó là cậu Kizawa và cậu Narita (học sinh lớp 12) cùng cô bé Okahara (lớp 11) những gương mặt đã quá quen thuộc trong các ca cuối. Hôm nay trông họ vẫn vui vẻ như mọi khi.

 

 最近の仕事中、僕は名前ではなく先輩と呼ばれるようになっていた。いつからそうなったかは覚えていないが、彼らの発言がきっかけだったような朧げな記憶がある。

 Dạo gần đây khi làm việc, tôi không còn được gọi bằng tên nữa mà thay vào đó là "tiền bối" (Senpai). Tôi cũng chẳng nhớ mình bắt đầu bị gọi như thế từ bao giờ, chỉ nhớ mang máng là do một lời nói bộc phát nào đó của họ.


「なぁ、せんぱい。夏休みって何するー?」

「Này senpai, nghỉ hè anh định làm gì thế?」

 

「僕は先輩じゃありません。それよりフロアに誰もいないとかじゃないよね?」

「Tôi không phải tiền bối của mấy đứa đâu nhé. Mà ngoài sảnh không có ai trực à?」


 僕は首を傾げた。ずっと日陰でたむろする訳にもいかない。

 Tôi nghiêng đầu hỏi. Không thể cứ tụ tập mãi trong "vùng bóng râm" này được.

 

「心配すんなよ、丸林さんがいるからさ。今夜のシフトは全員で六人だってさ。もう勝ち確演出じゃん!」

「Anh đừng lo, có chị Marubayashi ở ngoài đó rồi. Ca tối nay có tất cả 6 người, coi như nắm chắc phần thắng (Kachikaku) rồi còn gì!」


「「そうだそうだ!!!」」

「「Đúng đấy, đúng đấy!!!」」


 この狭い小厨房に大人数で居座って、フロアの仕事を放置していると、後々になって面倒な事になる。サボりたくなる雰囲気に屈せず、雑談や馴れ合いはやるべき仕事を終わらせてから。ちゃんと大人としての価値基準を保つ。それがフリーターであれど、年長者としての在り方だ。

 Việc cả đám đông cứ đứng lỳ trong khu tiểu quy chật hẹp này mà bỏ mặc công việc ngoài sảnh sớm muộn gì cũng gây rắc rối. Phải cưỡng lại cái bầu không khí muốn lười biếng này, chuyện phiếm hay xã giao thì cũng phải đợi sau khi xong việc đã. Phải giữ vững tiêu chuẩn của một người lớn. Dù có là Freeter đi chăng nữa, đó vẫn là phong thái cần có của một người nhiều tuổi hơn.

 

 僕より三歳年上の丸林さんの顔を思い出す。彼女も若者の雰囲気に流される事なく、フロアの均衡を保ってくれる頼もしい大人の存在だ。今もバランスを取るために、フロアに一人で残ってくれているのだろう。

 Tôi nhớ đến gương mặt của chị Marubayashi, người hơn tôi ba tuổi. Chị ấy cũng là một người lớn đáng tin cậy, không bị cuốn theo sự ham vui của đám trẻ mà luôn giữ vững sự cân bằng cho sảnh. Chắc hẳn lúc này chị đang một mình cáng đáng ngoài kia để giữ cho mọi thứ ổn định.


「丸林さんがいるのか。それなら安心したかも」

「Có chị Marubayashi à. Vậy thì tôi cũng yên tâm phần nào.」


 僕は心の中で丸林さんに手を合わせた。

 Tôi thầm chắp tay xin lỗi chị trong lòng.

 

 (ごめんなさい。少しだけ雑談に付き合ったら、すぐにでもフロアの仕事を手伝いに行きますので)

 (Xin lỗi chị nhé. Tôi sẽ tham gia tán gẫu một chút thôi rồi sẽ ra phụ giúp sảnh ngay đây.)

 

「先輩は心配性だな、俺らが仕事できるの知ってるでしょ。本当にヤバくなったら本気出すし」

「Senpai lo xa quá, anh biết bọn em làm việc đỉnh thế nào mà. Lúc nào thực sự gay go bọn em mới tung hết công lực chứ.」

 

「そうですよ!」

「Đúng vậy ạ!」

 

「はいはい、いつも助かってるよ」

「Rồi rồi, lúc nào cũng nhờ mấy đứa cả.」


 これは本心である。

 Đó là lời nói thật lòng của tôi.

 

 とても喧しい連中だが、ここにいる僕以外の全員がとば寿司でのバイトを二年以上は経験している猛者だ。フロアでの接客は経験こそが物を言う。お札や小銭がセルフレジに詰まった時の対処、複数のテーブルやカウンターにおける会計の合算、レーンに皿が詰まった時の客席へのフォローや厨房にいる責任者への報告、トイレやテーブルで嘔吐してしまった客への気遣いと事後処理。

 Dù là một lũ ồn ào, nhưng ngoại trừ tôi ra thì tất cả những người ở đây đều là những tay lão luyện với ít nhất hai năm kinh nghiệm làm thêm tại Toba Sushi. Làm việc ở sảnh thì kinh nghiệm chính là chìa khóa. Từ việc xử lý khi máy thanh toán tự động bị kẹt tiền, gộp hóa đơn cho nhiều bàn, hỗ trợ khách khi đĩa bị kẹt trên băng chuyền cho đến việc báo cáo với quản lý trong bếp hay xử lý hậu quả khi khách nôn mửa tại bàn hoặc nhà vệ sinh.

 

 その場に応じた適切な判断が、フロアで働く従業員には求められている。僕はフリーターという立場を活かして週五日のシフトを組んでいるため、この三ヶ月弱という短期間で多岐にわたる接客対応の経験値を積む事ができた。

 それでも彼らとの経験の差は実感している。呑み込みが早くて助かると彼らは言ってくれるが、決して満足せずに食らいつく所存だ。こんな歳上の僕にも物怖じせず、グイグイと懐いてくれる彼らに早く追い付きたい。

 Mỗi tình huống đều đòi hỏi sự phán đoán nhanh nhạy và phù hợp. Nhờ tận dụng vị trí Freeter để đăng ký ca làm 5 buổi một tuần, tôi đã tích lũy được lượng kinh nghiệm phục vụ đa dạng chỉ trong chưa đầy ba tháng qua.

 Tuy nhiên, tôi vẫn cảm nhận rõ sự cách biệt về kinh nghiệm giữa mình và họ. Dù họ khen tôi tiếp thu nhanh khiến họ thấy nhẹ nhõm, nhưng tôi không cho phép mình tự mãn mà sẽ quyết tâm bám đuổi đến cùng. Tôi muốn nhanh chóng đuổi kịp đám trẻ này – những người chẳng hề e dè tuổi tác của tôi mà cứ thế nhiệt tình tiến gần hơn.


「どうしたんすか、急に黙り込んじゃって」

「Sao thế anh, tự nhiên lại im lặng vậy?」

 

「きっと先輩は疲れてんだよ。どうせ、大人のデートとかしてたんでしょ?」

「Chắc senpai đang mệt rồi. Chắc là mới đi hẹn hò kiểu người lớn về chứ gì?」

 

「うわっ、マジか。いいなぁ!」

「Uầy, thật á? Ghen tị quá đi!」

 

「今日はずっと家にいたよ、夏の予定も特に決めてない」

「Hôm nay tôi chỉ ở nhà thôi, dự định mùa hè cũng chưa có gì cả.」


 でも本当に喧しい。このまま騒がしくしていると、流石に温厚な店長にも注意されてしまうかもしれない。ここは若者の好奇心を満たしてあげる方が良さそうだ。僕は降参の意を示して、彼らの雑談に加わった。

 Nhưng mà thật sự là ồn ào quá. Cứ đà này chắc đến cả ông quản lý hiền lành cũng sẽ phải ra nhắc nhở mất. Có lẽ tốt nhất là nên thỏa mãn trí tò mò của đám trẻ này một chút. Tôi quyết định đầu hàng và tham gia vào câu chuyện phiếm của họ.


「というか、俺らはフリーターだから毎日が夏休みみたいなもんだよな。先輩もジャグラー打たね?」

「Mà nói chứ, bọn mình là dân Freeter nên ngày nào chẳng giống như đang nghỉ hè. Tiền bối cũng chơi thử máy đánh bạc (Juggler) đi chứ?」

 

「いや、絶対やらない」

「Không, tuyệt đối không nhé.」


 僕が首を横に振ると、岡原さんがシンクから振り返った。

 Trong lúc tôi lắc đầu từ chối, cô em Okahara quay lại từ phía bồn rửa bát.

 

「木澤くん、先輩を悪の道に誘わないで!」

「Anh Kizawa, đừng có lôi kéo tiền bối vào con đường tội lỗi thế chứ!」

 

「えぇ、別にいいじゃん。岡原さんもジャグラーやろうぜ」

「Ơ kìa, có sao đâu. Okahara cũng chơi Juggler đi!」

 

「まだ高校生です!」

「Em vẫn còn là học sinh cấp ba đấy!」

 

 騒がしい二人は放っておいて、僕は成田くんに話しかける。よく日焼けした浅黒い肌が健康的で、マイボールを持つほどボーリングに情熱を注いでいる男の子だ。とば寿司を辞めたらボーリングセンターで働きたいと常日頃から口にしている。

 Mặc kệ hai đứa đang chí choé, tôi bắt chuyện với Narita. Cậu nhóc có làn da rám nắng khỏe khoắn và dành trọn niềm đam mê cho môn Bowling đến mức sở hữu cả bóng riêng. Cậu ấy vẫn luôn miệng nói rằng sau khi nghỉ việc ở Toba Sushi, cậu muốn vào làm tại một trung tâm Bowling.

 

「それで成田くんは夏の予定決まってるの?」

「Vậy còn Narita, nghỉ hè em có kế hoạch gì chưa?」

 

「俺も特に決めてないけど、高校の友達と花火大会は行こうかなって。店長が嘆いてたよ、その日のシフトは人が少ないから大変だって。それでも花火が優先だわ」

「Em cũng chưa có gì cụ thể, nhưng chắc là sẽ đi xem pháo hoa với mấy đứa bạn cùng trường. Ông quản lý đang than vãn lắm đấy, vì hôm đó ít người đăng ký ca làm nên chắc sẽ vất vả lắm. Nhưng mà pháo hoa vẫn là ưu tiên hàng đầu của em.」


 成田くんが愉快そうに笑う。彼の真っ白な歯がキラリと光った。7月28日は柏市の花火大会が開催される日だ。

 Narita cười một cách khoái chí, hàm răng trắng bóc của cậu lấp lánh. Ngày 28 tháng 7 là ngày tổ chức lễ hội pháo hoa của thành phố Kashiwa.


「その日はシフト入ってなかった気がする。たぶん六連勤になっちゃうんだよ。でも今年の花火はいいかな」

 Hình như ngày đó anh không có lịch làm. Nếu vào làm chắc anh sẽ phải làm 6 ngày liên tục mất. Nhưng mà chắc năm nay anh thôi không xem pháo hoa đâu.

 

「えー、先輩も花火見ようぜ」

「Ê, tiền bối cũng đi xem pháo hoa đi chứ!」

 

「混んでるのは苦手なんだ」

「Tôi không giỏi chịu đựng chỗ đông người.」


 去年までは、日本三大花火大会の一つと言われる長岡の花火をマンションの3階という特等席から眺めていた。信濃川の河岸から打ち上げられる100発以上の花火は圧巻の一言だ。ベランダで頬杖をつき、手すりの冷たさを剥き出しの腕に感じながら、花火会場まで歩く通行人を見下ろす優越感。花火の音は一時間以上も続いた。

 Cho đến năm ngoái, tôi vẫn thường ngắm nhìn pháo hoa Nagaoka – một trong ba lễ hội pháo hoa lớn nhất Nhật Bản – từ "vị trí đặc quyền" là tầng 3 của căn hộ mình ở. Hơn 100 phát pháo hoa được bắn lên từ bờ sông Shinano chỉ có thể dùng hai chữ "mãn nhãn" để mô tả. Cảm giác chống cằm bên ban công, để cái lạnh của thanh lan can chạm vào cánh tay trần, và nhìn xuống dòng người đang rồng rắn kéo nhau đến điểm xem pháo hoa…… đó là một sự ưu việt khó tả. Tiếng pháo hoa nổ vang rền kéo dài hơn cả tiếng đồng hồ.

 

 あれを経験してしまうと、わざわざ群衆に揉まれてまで花火会場まで足を運びたいとは思えなかった。

 Sau khi đã trải nghiệm điều đó, tôi chẳng còn thiết tha gì việc phải len lỏi giữa đám đông để đến tận nơi xem nữa.


「花火大会行かないなら、俺と一緒にシフト入れようぜ!」

「Nếu tiền bối không đi xem pháo hoa thì đăng ký làm cùng bọn em đi!」


 木澤くんが目を輝かせる。僕は溜息を吐いた。

 Đôi mắt Kizawa sáng rực lên. Tôi khẽ thở dài.

 

「だから六連勤になるんだって」

「Đã bảo là như thế tôi sẽ phải làm 6 ngày liên tiếp mà.」

 

「関係ないって、一緒に稼ごうぜ。先輩がいるとラストの仕事が楽になるんだよ」

「Có sao đâu anh, cùng nhau kiếm tiền đi. Có tiền bối ở đây thì công việc dọn dẹp cuối ca nhàn hơn bao nhiêu.」

 

「本当に木澤くんはブレないね」

「Thật là, Kizawa đúng là trước sau như một nhỉ.」

 

「まぁな、楽に仕事するためならブレるつもりはない!」

「Tất nhiên rồi, để được làm việc nhàn hạ thì em sẽ không bao giờ thay đổi lập trường đâu!」


 木澤くんは照れ臭そうに笑った。別に褒めてない。

 そろそろフロアに顔を出す頃合いだろう。

 Kizawa cười có chút ngượng nghịu. Mà tôi có khen cậu ấy đâu.

 Cũng đã đến lúc phải ra ngoài sảnh rồi.


「じゃあ、今日も一緒にラストまで頑張ろうね。僕は丸林さんに挨拶してくるよ。忙しくなったらフロアに来てね」

「Vậy thì, hôm nay cùng nhau cố gắng đến cuối ca nhé. Tôi đi chào chị Marubayashi đây. Nếu đông khách quá thì ra phụ sảnh nhé.」

 

「おう、俺らも仕事するか。洗い物と湯呑みとお持ち帰りの対応のどれをするか、じゃんけんで決めようぜ」

「OK, bọn em cũng bắt đầu làm thôi. Oẳn tù tì xem ai rửa bát, ai chuẩn bị trà, ai tiếp khách mua mang về nào.」

 

「「OK、最初はグーっ!」」

「「OK, oẳn tù tì……!」」


 ちゃんとオンとオフの切り替えを出来る子たちだ。こうしてエンジンを一度かけてしまえば、年相応でありながらもベテランとしての雰囲気を漂わせてくれる。

 Bọn trẻ này thật biết cách tách biệt giữa lúc chơi và lúc làm. Một khi đã bắt tay vào việc, chúng sẽ rũ bỏ vẻ trẻ con để toát ra phong thái của những người làm lâu năm.

 

「ばいばい」

「Tạm biệt nhé.」

 

 僕は小厨房とフロアを隔てる暖簾をくぐった。その瞬間に夏の熱気が伝わってくる。

 暇すぎるという木澤くんの言葉は正しかったようで、丸林さんは店内をぼんやりと眺めていた。手持ち無沙汰な様子の彼女に向かって小さく手を振る。

 Tôi bước qua tấm rèm ngăn cách giữa khu tiểu quy và sảnh. Ngay lập tức, cái không khí nóng hầm hập của mùa hè ập đến.

 Có vẻ như lời của Kizawa nói "rảnh quá mức" là đúng, chị Marubayashi đang thẩn thơ nhìn quanh quán. Tôi khẽ vẫy tay chào chị khi thấy dáng vẻ đang không có việc gì làm của chị.

 

「おはようございます、だね。先輩」

「Chào buổi sáng nhé, "tiền bối".」

 

「もう、丸林さんまでそんなこと言うんですね。おはようございます」

「Trời ạ, đến cả chị Marubayashi cũng trêu tôi thế sao. Chào buổi sáng chị.」

 

 悪戯っぽく微笑む丸林さん。僕はマスクの下で頬を膨らませた。

 Chị Marubayashi mỉm cười đầy tinh quái. Tôi khẽ phồng má sau lớp khẩu trang.

 

「うーん、でもさ。先輩呼びされるの満更じゃなさそうだよ。なんだか雰囲気も柔らかくなった気がするし。あっ、彼女でも出来たんじゃない?」

「Ừm, nhưng mà chị thấy em có vẻ cũng không ghét việc được gọi là tiền bối đâu. Cảm giác bầu không khí quanh em cũng trở nên mềm mỏng hơn rồi. À…… hay là em có bạn gái rồi?」

 

「っ、い、いないですって。元々こんな感じですよ?」

「Hả, k-không có chuyện đó đâu ạ. Vốn dĩ tôi vẫn thế này mà?」

 

「はいはーい。そんなに動揺しないでよ。イジりやすくて可愛いなぁ。高校生と距離が近いのも納得って感じ」

「Rồi rồi. Đừng có cuống lên thế chứ. Trông em lúc bị trêu thật là đáng yêu. Hèn gì đám học sinh cấp ba lại thích bám lấy em thế.」


 ゆったりと間延びした声が返ってくる。僕は図星を突かれて視線を逸らした。丸林さんはマスクを手で押さえてコロコロと楽しそうに笑っている。25歳の彼女からすれば、まだ22歳の僕も幼い子供に見えているのだろう。

 Giọng nói của chị ấy cứ thong thả và kéo dài. Tôi bị nói trúng tim đen nên vội đánh mắt đi chỗ khác. Chị Marubayashi lấy tay che miệng cười khúc khích. Có lẽ trong mắt người phụ nữ 25 tuổi này, một cậu nhóc 22 tuổi như tôi vẫn còn trẻ con lắm.


「いや、君は大人でしょ」

「Không đâu, chị thấy em đã là một người lớn rồi mà.」

 

「もう……人の心を読まないでくださいよ」

「Thôi mà…… chị đừng có đọc suy nghĩ của tôi như thế chứ.」

 

「ごめんごめん、分かりやすいからさ」

「Xin lỗi, xin lỗi nha, tại vì em dễ đoán quá mà.」

 

 賑やかな後輩に囲まれ、その言動に翻弄されながらも、どこか心地よさを感じているのは認めざるを得ない。

 Dù bị đám hậu bối ồn ào vây quanh và trêu chọc, tôi phải thừa nhận rằng mình cảm thấy khá dễ chịu.

 

「でも、丸林さんの言う通りですね。こんなにフロアの子と打ち解けられて嬉しいです」

「Nhưng đúng như chị Marubayashi nói đấy ạ. Tôi thấy rất vui vì có thể hòa nhập được với đám trẻ ngoài sảnh.」

 

「君はイジられキャラの雰囲気があるからね。それでいて優しいから話しやすいんだよ」

「Vì em có tố chất của một người 'dễ bị trêu' mà. Lại còn hiền lành nên mọi người rất dễ bắt chuyện.」

 

 いくら歳上であろうと、経験豊富な彼らに敬意を払い、早く追い付こうと真剣に仕事へと向き合う姿。大人のプライベートを詮索されてタジタジになる姿。そのギャップこそが、彼らが僕に懐く最大の理由なのだろう。

 軽く自己分析しておいた。

 完璧な自分を装い続けないことも大人になる証なのかもしれないと考えるようになった。周りを萎縮させないように、こっそりと気を遣って話すこと。語尾や間の取り方、ふわっとした一つ一つの工夫が、僕の話す日本語を優しくしていく。

 Việc tôi luôn giữ thái độ tôn trọng với những người dày dạn kinh nghiệm dù họ ít tuổi hơn, việc tôi nghiêm túc nỗ lực để theo kịp công việc, và cả dáng vẻ lúng túng khi bị soi mói chuyện đời tư…… Chính cái sự tương phản (gap) đó là lý do lớn nhất khiến họ quý mến tôi.

 Tôi thầm tự phân tích bản thân như vậy.

 Tôi bắt đầu nghĩ rằng việc không cần cố gồng mình để trở nên hoàn hảo cũng là một minh chứng của sự trưởng thành. Khéo léo để ý để không làm người xung quanh thấy e dè, trau chuốt từng lời ăn tiếng nói để tiếng Nhật mình phát ra trở nên dịu dàng hơn.


「なんだか大人同士で話すのもいいですね。僕と丸林さんが同じシフトの時って大抵が忙しいので、ゆっくり話すのって初めてな気がします」

「Nói chuyện kiểu người lớn với nhau thế này cũng hay thật đấy ạ. Thường thì mỗi khi tôi và chị cùng ca thì quán đều rất bận, nên đây có lẽ là lần đầu tiên mình có thể thong thả tán gẫu thế này.」

 

「本当にねぇ。せっかくだし世間話でもしようか。最近は小説の進捗はどうなの?」

「Đúng thế thật. Tiện đây thì buôn chuyện chút đi. Dạo này việc viết tiểu thuyết của em thế nào rồi?」

 

「ぼちぼちですね、アイデアは浮かんでくるんですが」

「Cũng tàm tạm ạ, em bắt đầu có vài ý tưởng rồi.」

 

「へぇ、どんなアイデア?」

「Ồ, ý tưởng gì thế?」


 僕は胸を張った。創作の話をするのは好きだ。

 Tôi ưỡn ngực đầy tự hào. Tôi vốn thích nói về chuyện sáng tác.

 

「例えば、ロボットがお客として来る回転寿司ですかね。シャリはネジで、醤油はオイルで。寿司ネタはロボットが欲しいパーツって感じで。ロボットは自分のカスタマイズのために来店する感じです。そこで働く従業員はロボットと人間の二種族で、両者の間にはちょっとした壁があるってコンセプトのストーリーですね」

「Ví dụ như, một tiệm sushi băng chuyền nơi khách hàng là những người máy. Cơm sushi là ốc vít, nước tương là dầu máy. Các món sushi là những linh kiện mà robot muốn có để nâng cấp bản thân. Câu chuyện xoay quanh việc nhân viên ở đó gồm cả robot và con người, và giữa hai chủng tộc này luôn tồn tại một bức tường ngăn cách nhất định.」


 最後まで聞き終えて、丸林さんが目を細めた。

 Sau khi nghe xong, chị Marubayashi nheo mắt cười.

 

「めっちゃ面白いね。やっぱり、この店で働いてる経験が小説のアイデアにも影響しているの?」

「Thú vị thật đấy. Có phải trải nghiệm làm việc tại tiệm này đã ảnh hưởng đến ý tưởng tiểu thuyết của em không?」

 

「バレました。そうですね、あれだけの人数のベトナム人と同じ職場っていうのは影響を受けますよ」

「Chị đoán trúng rồi ạ. Đúng vậy, việc làm việc cùng với rất nhiều người Việt Nam đã truyền cảm hứng cho tôi.」


 そこで丸林さんは首を傾げた。

 Đến lúc này, chị Marubayashi khẽ nghiêng đầu hỏi.


「そういえばさ、君と仲良くしてるベトナム人の女の子がいるよね」

「Nhắc mới nhớ, có một cô bé người Việt khá thân thiết với em đúng không?」

 

「はい、一人いますね」

「Vâng, có một người ạ.」


 その言葉に一瞬だけ、事務所での冷たい指先の感触が蘇ってくる。シーツの毛玉を取ってくれたウーさんとの秘密の時間。それを誰かに自慢するつもりはないので、微かな表情の変化を聡い彼女が見逃すことを願う。

 Trong khoảnh khắc, cảm giác về những đầu ngón tay thon thả của chị Ước trên đỉnh đầu tôi trong văn phòng bỗng ùa về. Khoảng thời gian bí mật khi chị lấy mẩu chỉ vụn cho tôi. Tôi không định khoe khoang với bất kỳ ai, nên chỉ hy vọng người phụ nữ nhạy bén này không nhận ra sự thay đổi nhỏ trên nét mặt mình.


 丸林さんの質問は予想外のものだった。

 Câu hỏi của chị Marubayashi nằm ngoài dự tính của tôi.


「あの子って統括のジョンさんの彼女?」

「Cô bé đó là bạn gái của anh quản lý John hả?」

 

「いや、その子とは違いますよ。かなり似ていますけどね」

「Dạ không, là người khác chị ạ. Dù đúng là hai người trông khá giống nhau.」

 

 このとば寿司新柏店には社内恋愛を特に制限するような規則はない。統括のジョンさんはゴックさんという可愛い女の子と付き合っているし、厨房の菰田くんという大学生はタインさんというベトナム人と国境を越えた恋人関係にある。

 ちなみにフロアの恋愛事情に言及すると、片桐さんと丸林さんには彼氏がいて、それ以外の人は現状フリーである。最近の木澤くんと成田くんの口癖は"恋人が欲しい"だった。

 Ở chi nhánh Toba Sushi Shin-Kashiwa này không có quy định nào cấm cản việc yêu đương trong công ty. Anh quản lý John đang hẹn hò với một cô gái rất dễ thương tên là Ngọc, còn cậu sinh viên Komoda ở bếp thì đang có mối quan hệ xuyên quốc gia với một chị người Việt tên là Thanh.

 Tiện thể nói về chuyện tình cảm phía sảnh, em Katagiri và chị Marubayashi đều đã có bạn trai, những người còn lại hiện vẫn đang độc thân. Câu cửa miệng gần đây của Kizawa và Nảita là "Tao muốn có người yêu quá".

 

「その子は別人ですね。ジョンさんの彼女の名前はゴックさんです。僕と仲良しなのはウーさんです」

「Đó là hai người khác nhau chị ạ. Bạn gái anh John tên là Ngọc. Còn người thân thiết với em là chị Ước.」


 僕はウーさんとゴックさんの顔を思い浮かべた。二人とも背丈が同じくらいの小柄な女の子で、パッチリとした大きな目とスゥっと通った鼻筋が特徴的だ。今の僕なら彼女たちを簡単に見分けられるけど、パッと見ただけで二人をマスク越しに判別するのは確かに難しい。きっと丸林さんもそうなのだろう。

 Tôi hình dung ra gương mặt của chị Ước và Ngọc. Cả hai đều là những cô gái nhỏ nhắn với chiều cao tương đương, đặc điểm nổi bật là đôi mắt to tròn và sống mũi cao thanh tú. Bây giờ thì tôi có thể dễ dàng phân biệt được họ, nhưng đúng là nếu chỉ nhìn thoáng qua sau lớp khẩu trang thì rất khó để nhận diện. Chắc chị Marubayashi cũng vậy.

 

 僕はウーさんに良い印象を与えたいから、厨房にいるベトナム人の名前は全て暗記済みだ。カタカナの百人一首のようなものだと思えば、彼らの顔と名前を一致させるのも簡単だった。むしろ、名札の表記が漢字である日本人の方が名前を覚えるのは難しかったかもしれない。

 Vì muốn tạo ấn tượng tốt với chị Ước nên tôi đã học thuộc lòng tên của tất cả người Việt làm trong bếp. Cứ coi đó như một bộ bài "Hyakunin Isshu" phiên bản Katakana thì việc ghi nhớ mặt và tên của họ trở nên thật đơn giản. Ngược lại, những người Nhật có bảng tên ghi bằng chữ Hán đôi khi còn khó nhớ hơn.

 

 丸林さんが安心したかのように笑った。

 Chị Marubayashi cười như thể vừa trút bỏ được gánh nặng.

 

「そっかそっか、見分けが付かないからさ。君がジョンさんとの修羅場に巻き込まれてないなら良かったよ。フロアと厨房で戦争が始まるところだった」

「Hóa ra là vậy, tại chị không phân biệt được mà. Em không bị cuốn vào mớ bòng bong với anh John là tốt rồi. Suýt chút nữa thì có chiến tranh giữa sảnh và bếp xảy ra đấy.」

 

「……その場合は僕が修羅場の原因なんですけどね。誰も味方になってくれないと思いますよ」

「……Nếu vậy thì tôi chính là nguyên nhân của mớ bòng bong đó rồi. Chắc chẳng ai thèm đứng về phía tôi đâu.」

 

「ううん、正しさとか関係なくフロアは君の味方だから。それが略奪愛だとしても、私たちは応援するからね」

「Không đâu, bất kể đúng sai, sảnh sẽ luôn đứng về phía em. Kể cả đó có là một cuộc tình tranh đoạt đi nữa, bọn chị vẫn sẽ ủng hộ hết mình.」

 

「あははっ……それは絶対にやめてください」

「A ha ha…… Chị đừng nói thế, đáng sợ lắm.」


 乾いた笑いが出る。狭いコミュニティで泥沼化する戦争を引き起こしたくないし、それにウーさんを巻き込むのも絶対に嫌だ。せっかく男女の友情が成立するかもしれない相手と出会えたのだ。この関係は大切にしたい。

 Tôi bật cười khô khốc. Tôi không muốn gây ra một cuộc chiến đẫm máu trong cái cộng đồng nhỏ hẹp này, và tuyệt đối không muốn kéo chị Ước vào đó. Tôi rất trân trọng mối quan hệ này – người mà tôi có thể thiết lập một tình bạn nam nữ thực sự.


 (もしかしたら言わないだけで、実はウーさんにも恋人とかいるのだろうか。まぁ、あれだけ可愛くて、初対面の相手にバナナを渡すような優しさも持ち合わせている素敵な女の子だ。普通に彼氏がいても納得だな)

 (Nhưng mà, biết đâu chị Ước đã có người yêu rồi mà không nói ra nhỉ? Một cô gái đáng yêu như thế, lại còn dịu dàng đến mức tặng chuối cho người mới gặp lần đầu, nếu có bạn trai thì cũng là chuyện thường tình thôi.)


 そんな思いを巡らしていると、楽しそうな表情の丸林さんに顔を覗き込まれた。

 Trong lúc tôi còn đang mải suy nghĩ, chị Marubayashi với vẻ mặt đầy thích thú bỗng ghé sát nhìn tôi.


「ねぇねぇ、そのウーさんとは付き合いたいとか思ったりしないの。今は恋人もいないんでしょ?」

「Này này, thế em có muốn hẹn hò với chị Ước đó không? Hiện tại em cũng đâu có người yêu đúng không?」

 

「ただの友達ですよ。まだ一緒に遊んだこともないです」

「Chỉ là bạn bè thôi chị ạ. Bọn tôi còn chưa đi chơi riêng lần nào cả.」


 ウーさんに限らず、千葉で仲良くなった人たちを遊びに誘ってみたい気持ちはある。ただ雪国で4年間を過ごしていると、どうしても家に篭りたくなってしまう。ちょっとした散歩や買い物は苦ではないが、どこかに遠出するのは億劫に感じてしまう。今は自分の車も無いことだし。

 Không chỉ riêng chị Ước, tôi cũng muốn rủ những người bạn mới quen ở Chiba đi chơi. Nhưng sau 4 năm sống ở vùng xứ tuyết, tôi dần có thói quen chỉ muốn quanh quẩn trong nhà. Đi dạo hay mua sắm nhẹ nhàng thì không sao, chứ đi đâu xa là tôi lại thấy ngại. Hơn nữa giờ tôi cũng không có xe riêng.

 

 僕とウーさんの間で積み上がっている信頼が希薄なまま、この友情を維持しなくてはいけないという強迫観念に駆られて、彼女を遊びに誘うのは自分勝手なことだ。

 日頃の積極性が乏しいと、こうした夏のイベントにかこつけて変な行動力が湧き上がってきたりする。次の関係性を維持する土台がないのに、花火の雰囲気に呑まれて告白するなんて愚の骨頂だ。しかし、男は恋に拗れてしまうと愚か者になってしまう哀しい生き物なのだ。

 僕も例外でなく、いつ愚者になるかは分からない。

 Nếu niềm tin giữa tôi và chị Ước vẫn còn mong manh mà tôi đã vội vàng rủ chị đi chơi chỉ vì sự thôi thúc ích kỷ của bản thân thì thật không nên.

 Khi sự chủ động thường ngày bị thiếu hụt, con người ta dễ nảy sinh những hành động bộc phát nhân danh các sự kiện mùa hè. Khi chưa có nền móng vững chắc cho mối quan hệ tiếp theo mà đã mượn không khí của pháo hoa để tỏ tình thì đúng là đỉnh cao của sự ngu ngốc. Thế nhưng, đàn ông khi đã vướng vào lưới tình thì lại là những sinh vật tội nghiệp dễ trở nên khờ dại.

 Tôi cũng không ngoại lệ, chẳng biết khi nào mình sẽ biến thành một gã khờ như thế.

 

「そっか、進展があったら教えてね」

「Vậy à, khi nào có tiến triển gì thì nhớ kể chị nghe nhé.」

 

「フロアの子には秘密にしてくれるならいいですよ」

「Nếu chị hứa giữ bí mật với mọi người ngoài sảnh thì được ạ.」

 

「もちろん、私は大人ですから」

「Tất nhiên rồi, chị là người lớn mà.」


 確かに丸林さんは信頼に値する大人だ。

 Đúng vậy, chị Marubayashi quả là một người lớn đáng tin cậy.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ