やっぱり先輩でいいです
「あっ、呼び出しですね」
「A, có tiếng chuông gọi khách kìa.」
「本当だ。それも二つ同時に」
「Đúng thế. Lại còn hai bàn cùng lúc nữa.」
僕が丸林さんと談笑していると、フロアの壁に嵌め込まれた電光掲示板に二つの数字が赤色で点滅した。これは、その番号のテーブルにフロアの従業員が呼び出されている合図だ。それが二つ同時に点滅したということは。
丸林さんと顔を見合わせる。
Trong lúc tôi đang tán gẫu với chị Marubayashi, hai con số trên bảng điện tử gắn trên tường sảnh bắt đầu nhấp nháy đỏ. Đó là tín hiệu cho thấy nhân viên sảnh đang được gọi đến những bàn đó. Việc hai số nháy cùng lúc có nghĩa là……
Tôi và chị Marubayashi nhìn nhau.
「流し間違いかな。私は3番のテーブルに行くね」
「Chắc là bếp để nhầm đĩa rồi. Chị sẽ ra bàn số 3 nhé.」
「はい、僕は20番に行きます」
「Vâng, tôi sẽ ra bàn số 20.」
たぶん3番テーブルと20番テーブル、それぞれで注文した寿司が入れ替わって、それぞれのレーンに流されてしまったのだろう。これは厨房へのオーダーが多くなってきた証拠だ。そろそろ気合いを入れなくてはいけない。
Có lẽ bàn số 3 và bàn số 20 đã gọi món nhưng bị tráo đổi đĩa khi đặt lên băng chuyền. Đây là minh chứng cho thấy đơn hàng trong bếp bắt đầu dồn dập. Đã đến lúc phải tập trung cao độ rồi.
「ただいまお伺いします!」
「Dạ, tôi đến ngay đây ạ!」
僕は20番テーブルに向かって歩き出した。
Tôi rảo bước về phía bàn số 20.
「すいません、この商品は頼んでないんですが。あと頼んだはずのオニオンサーモンが届いてなくて」
「Xin lỗi anh, món này nhà tôi không gọi. Với cả hình như món cá hồi hành tây (Onion Salmon) nhà tôi gọi vẫn chưa thấy tới.」
「大変申し訳ありません。こちらお下げいたします。ただいま責任者に確認いたしますので、少々お待ちください」
「Thành thật xin lỗi quý khách. Tôi xin phép thu hồi đĩa này. Tôi sẽ kiểm tra lại với quản lý ngay, xin quý khách vui lòng đợi một chút ạ.」
「はい、ありがとうございます!」
「Vâng, cảm ơn anh!」
今回のお客さんは優しい方だった。こういう丁寧な人が相手だと、こちらとしても誠心誠意を込めた謝罪を声に乗せやすくなる。20番テーブルに間違って届いた寿司皿を回収して、僕は丸林さんと合流した。
Vị khách này thật tử tế. Khi gặp những người lịch sự như vậy, tôi càng cảm thấy dễ dàng hơn khi gửi gắm sự chân thành vào lời xin lỗi của mình. Sau khi thu hồi đĩa sushi bị đưa nhầm, tôi hội quân với chị Marubayashi.
「とろサーモンとオニオンサーモンが入れ替わったみたいだね」
「Hình như là cá hồi Toro và cá hồi hành tây bị tráo đổi cho nhau rồi.」
「とろサーモンが3番テーブル、オニオンサーモンが20番テーブルですね。僕がまとめてやっておきます」
「Cá hồi Toro ở bàn số 3, còn cá hồi hành tây ở bàn số 20 nhỉ. Để tôi xử lý gộp cho.」
「ありがとう」
「Cảm ơn em.」
こういった場合、フロアの従業員が勝手に皿を取り替えて、お客さんに正しい寿司を届けてはいけない。間違って届いた商品は廃棄する決まりとなっている。僕は二つの寿司皿を持って、小厨房に急いで戻った。
Trong những trường hợp này, nhân viên sảnh không được phép tự ý đổi đĩa rồi đưa lại cho khách. Quy định là những món đã đưa nhầm đều phải đem đi hủy. Tôi cầm hai đĩa sushi nhanh chóng quay lại khu tiểu quy.
「おっ、流し間違い?」
「Ơ, nhầm đĩa à?」
「そうだね。サーモンで間違えたみたい」
「Ừ, chắc là nhầm giữa mấy loại cá hồi với nhau.」
シンクの片隅に二つのサーモンを廃棄する。木澤くんと成田くんの間をすり抜けて、厨房の店長に各テーブルの状況を伝える。あとは責任者が正しい寿司皿をそれぞれのテーブルまで持っていくだけだ。
Tôi bỏ hai đĩa cá hồi vào góc bồn rửa để chờ hủy. Lách qua khe hở giữa Kizawa và Narita, tôi thông báo tình hình các bàn cho quản lý trong bếp. Giờ thì chỉ việc đợi quản lý mang đĩa sushi đúng ra từng bàn là xong.
「そろそろ俺らも行くか。もう少し待ってな」
「Bọn tôi cũng chuẩn bị ra sảnh đây. Đợi thêm tí nhé.」
「おっ、助かるよ」
「Ồ, cứu tinh đến rồi.」
備品を補充している木澤くんとすれ違い、僕はフロアに戻った。すぐにダスターを手にして、お客さんが帰ったテーブルの清掃を始める。丸林さんの姿は見えないが、店内のどこかで同じようにテーブルを片付けているはずだ。
Lướt qua Kizawa đang bổ sung đồ dùng, tôi quay lại sảnh. Ngay lập tức, tôi cầm lấy chiếc khăn lau và bắt đầu dọn dẹp những bàn khách vừa về. Dù không thấy bóng dáng chị Marubayashi đâu, nhưng tôi biết chị cũng đang tất bật dọn bàn ở góc nào đó trong quán.
「お待たせ、先輩。だいぶ忙しくなってきたな」
「Để mọi người đợi lâu rồi, senpai. Bắt đầu bận rộn rồi đấy.」
「後は任せろってな」
「Cứ tin tưởng ở bọn em nhé.」
その数分後、木澤くんと成田くんがフロアの仕事に加わった。店内は盛況ながらも、片付けなくてはいけないテーブルの数は着実に減っていった。祝日にしては順調な滑り出しである。いつも通りに作業も分担できそうだ。
Vài phút sau, Kizawa và Narita cũng gia nhập đội ngũ ngoài sảnh. Dù quán đang rất đông khách nhưng số lượng bàn cần dọn dẹp đã giảm đi đáng kể. Đây là một khởi đầu khá suôn sẻ cho ngày lễ. Việc phân chia công việc vẫn diễn ra nhịp nhàng như mọi khi.
「すいません」
「Xin lỗi anh.」
「はい!」
「Vâng, tôi đây ạ!」
カウンターの片付けをしていると、背後からお客さんに呼び止められた。今している作業を中断して、レジに向かう。僕より少し歳上くらいの若い女性だった。
Đang dọn dẹp quầy counter thì tôi bị gọi từ phía sau. Tôi tạm dừng công việc hiện tại để đi về phía quầy thu ngân. Đó là một cô gái trẻ, trông chừng tầm tuổi tôi.
「すいません、もうコラボチャームってないですよね?」
「Xin lỗi, cho tôi hỏi là còn móc khóa quà tặng (collab charm) không ạ?」
「申し訳ありません。現在、配布終了となっております」
「Thành thật xin lỗi quý khách. Hiện tại chúng tôi đã hết quà rồi ạ.」
「そうですか。教えてくれてありがとうございます」
「Vậy à. Cảm ơn anh đã báo nhé.」
店の入り口に配布終了の張り紙は貼られているが、どうしても確認したかったのだろう。その気持ちも分かる。
Dù ngoài cửa đã dán thông báo hết quà, nhưng có lẽ cô ấy vẫn muốn xác nhận lại cho chắc. Tôi hiểu cảm giác đó.
気落ちした表情のお客さんを見送るのは、少しばかり心が痛むものがある。それでも彼女は最後まで丁寧な態度だった。とても立派なことだと思う。
Nhìn vị khách rời đi với vẻ mặt thất vọng, lòng tôi cũng thấy hơi chạnh lòng. Dù vậy, cô ấy vẫn giữ thái độ rất lịch sự đến tận phút cuối. Thật là một điều đáng trân trọng.
「すまん、兄ちゃん。こっちのレジも見てくれや。ここから画面が進まなくてな」
「Làm phiền cậu một chút, xem giúp tôi cái máy này với. Màn hình nó cứ đứng yên không chạy tiếp được.」
息継ぎする間もなく、次の声が掛けられる。セルフレジの前で操作に手間取っている様子の老人男性だった。このお客さんも立派だ。自分ではセルフレジへの理解が及ばないと判断して、すぐに近くの店員へと助けを求めている。
僕は笑顔でレジの画面を覗き込んだ。
Chưa kịp thở phào, một tiếng gọi khác lại vang lên. Đó là một cụ ông đang lúng túng trước máy thanh toán tự động. Cụ cũng thật đáng nể. Cụ biết rõ khả năng công nghệ của mình đến đâu nên đã chủ động nhờ nhân viên giúp đỡ ngay lập tức.
Tôi mỉm cười nhìn vào màn hình.
「はい、お会計ですね。お支払い方法は現金か、クレジットカードか、バーコードの何になさいますか?」
「Dạ, cụ muốn thanh toán ạ. Cụ muốn trả bằng tiền mặt, thẻ tín dụng hay quét mã vạch ạ?」
「クレジットで頼むわ、ありがとう!」
「Thẻ tín dụng nhé, cảm ơn cháu!」
立て続けに気持ちの良い感謝をもらった。今夜の僕には仕事への余裕がある。叶わない願いを持つ気持ちを雑に扱わない。高齢者の機械への弱さを馬鹿にしない。
Những lời cảm ơn liên tiếp khiến tôi thấy thật ấm lòng. Tối nay, tôi làm việc với một tâm thế khá thoải mái. Không xem nhẹ những mong muốn nhỏ nhoi không thành, cũng chẳng chê cười sự chậm chạp với máy móc của người già.
優しい人の近くに優しい人が集まるのは、その人の生き方が優しさを反射しているからだ。類は友を呼ぶって言葉が当てはまるなら、良い意味で当てはまりたいと思う。
余裕がある時くらい善人ぶれなかったら、もう大人とは言えないだろう。
Những người tử tế thường sẽ thu hút những người tử tế, bởi vì cách sống của họ luôn phản chiếu sự dịu dàng. Nếu câu nói "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã" là đúng, tôi hy vọng mình sẽ thuộc về phía những điều tốt đẹp.
Nếu ngay cả những lúc rảnh tay thế này mà không thể tỏ ra là một người tốt, thì chẳng thể gọi mình là người lớn được nữa.
ひとしきりレジの列を捌いて、やり残していたカウンターの清掃に戻る。現在の予約状況を確認して、ウェイティング(案内待ちの客)を確実に減らしていく。あっという間に時間は過ぎていった。
Sau khi giải quyết xong hàng dài chờ ở quầy thu ngân, tôi quay lại dọn dẹp nốt quầy counter còn dang dở. Kiểm tra tình trạng đặt bàn và nhanh chóng giảm bớt số khách đang chờ (waiting). Thời gian cứ thế trôi đi vùn vụt.
「ごめん、夜の売り上げを出してほしい」
「Phiền em xuất báo cáo doanh thu tối nay giúp anh.」
「分かりました」
「Vâng, tôi làm ngay ạ.」
店長に次の仕事を任される。
セルフレジの前が空いたタイミングで、売り上げ報告用のレシートを出していると、ゴミでいっぱいになったビーカーを持った木澤くんが歩いてきた。
Anh quản lý giao cho tôi nhiệm vụ tiếp theo.
Nhân lúc quầy thu ngân đang trống, tôi đang xuất hóa đơn báo cáo doanh thu thì Kizawa đi tới với chiếc khay đầy rác.
「今、なんか仕事中か。そろそろ休憩回そうぜ」
「Đang bận việc à? Đến lúc xoay vòng nghỉ giải lao rồi đấy.」
「ちょうど売り上げを出したところ。木澤くん、先に行ってもいいよ」
「Tôi vừa xuất báo cáo xong. Kizawa đi trước đi cũng được.」
「サンキュー、お先に行かせてもらうわ!」
「Ok, cảm ơn nhé, em đi trước đây!」
笑顔になった木澤くんが視界から消える。
21時半になったら帰宅を余儀なくされる高校生に休憩はないが、ラストを行う大人は各自の休憩時間を取らなくてはいけない。ウェイティング(空席待ちの客)の様子を窺いながら、最初に木澤くん、次に丸林さん、と各々の休憩を回していく。
Kizawa cười hớn hở rồi biến mất khỏi tầm mắt.
Học sinh cấp ba buộc phải về lúc 21 giờ 30 nên không có giờ nghỉ, nhưng những người lớn làm ca cuối như chúng tôi thì phải thay phiên nhau nghỉ giải lao. Tôi vừa quan sát lượng khách chờ vừa lần lượt sắp xếp: đầu tiên là Kizawa, sau đó đến chị Marubayashi.
そして僕が休憩する番になった。
Và cuối cùng, đã đến lượt tôi.
「じゃあ休憩に行ってくるね」
「Vậy tôi đi nghỉ đây ạ.」
「いってらっしゃい!」
「Nghỉ ngơi tốt nhé!」
「おう!」
「Ok!」
ピッと顔認証の音が鳴る。
僕が休憩のタイムカードを打刻していると、ウーさんが疲れ切った様子で近付いてきた。
最近は何だか知らないが、お互いに休憩するタイミングが合う。この嬉しさは隠せないから、素直な感情を乗せて話しかけた。
Tiếng máy nhận diện khuôn mặt vang lên "tít".
Trong lúc tôi đang điểm danh bắt đầu giờ nghỉ giải lao thì chị Ước tiến lại gần với vẻ mặt mệt phờ.
Chẳng biết vì sao mà dạo gần đây, giờ nghỉ của chúng tôi rất hay trùng nhau. Không thể giấu nổi niềm vui sướng này, tôi cất lời chào chị bằng tất cả sự chân thành của mình.
「お疲れ様、ウーさんっ!」
「Vất vả cho chị rồi, chị Ước ơi!」
「ああ、今日は疲れたね……もう無理よ」
「Ôi, hôm nay mệt quá…… Chị không chịu nổi nữa rồi.」
「疲れてるのに頑張ってて偉い、偉いっ!」
「Mệt mà vẫn cố gắng làm việc là giỏi lắm, giỏi lắm luôn!」
ウーさんが俯いている。彼女を元気付ける勢いで、僕は事務所のドアを率先して開けた。はっぴと帽子を脱いで、私服の姿になったら、また事務所のドアを開ける。
Chị Ước khẽ cúi đầu. Để khích lệ tinh thần chị, tôi hăng hái tiên phong mở cửa văn phòng. Sau khi trút bỏ bộ áo Happi và mũ làm việc để trở về với trang phục thường ngày, tôi lại mở cửa văn phòng một lần nữa.
とば寿司新柏店は二階建てショッピングモールの二階に出店している飲食店であり、この建物の一階の殆どはスーパーマーケットが占有している。一階の片隅にマクドナルドやクリーニング店が控えめに並んでいるイメージだ。
Toba Sushi chi nhánh Shin-Kashiwa nằm ở tầng hai của một trung tâm thương mại. Hầu hết tầng một là khu vực siêu thị, với một góc nhỏ dành cho McDonald's và tiệm giặt là đứng khiêm tốn bên cạnh.
ウーさんが首を傾げる。まだ彼女は私服姿に着替えていなかった。
Chị Ước khẽ nghiêng đầu nhìn tôi, lúc này chị vẫn chưa thay đồ.
「あなた、下で買い物する?」
「Em xuống dưới mua đồ à?」
「うん。また後でね、ウーさんっ!」
「Vâng. Tẹo nữa gặp lại nhé chị Ước!」
「そうか、いってらっしゃい」
「Vậy à, em đi đi.」
僕はスーパーへの階段を駆け降りた。
タイムカードを押した時刻は20時ちょうど。この時間に弁当や惣菜のコーナーを覗くと、割引シールを貼られたばかりの商品が顔を出す。普段から自炊で食費を節約している僕からすると喉から手が出るほどの一品だ。手作りの弁当を持参するのも一度は試したが、仕事で疲労した後の洗い物まで考えると手間なのだ。
Tôi chạy nhanh xuống cầu thang dẫn tới siêu thị.
Lúc đó đúng 20 giờ. Vào giờ này, ở khu vực cơm hộp và đồ ăn sẵn, những món hàng vừa được dán tem giảm giá bắt đầu xuất hiện. Với một người luôn tự nấu ăn để tiết kiệm như tôi thì đây đúng là những món hời không thể bỏ qua. Tôi đã từng thử mang cơm hộp tự làm, nhưng nghĩ đến việc phải rửa bát sau một ngày làm việc mệt mỏi thì thật quá phiền phức.
「ウーさん、ドア開けてー」
「Chị Ước ơi, mở cửa cho tôi với……」
「はーい」
「Đây đây.」
焼き肉カルビ弁当と唐揚げ弁当の二つで約500円。
Một suất cơm thịt nướng Karubi và một suất cơm gà rán tổng cộng chỉ khoảng 500 yên.
半額の弁当を二つも抱えて、僕は事務所のドアを手の甲でノックした。すぐにウーさんが食い意地で両手の塞がった馬鹿な男の代わりにドアを開けてくれる。
Tay ôm khư khư hai hộp cơm giảm giá nửa giá, tôi lấy mu bàn tay gõ nhẹ vào cửa văn phòng. Ngay lập tức, chị Ước mở cửa giúp cho cái gã ngốc đang bị cơn ham ăn làm cho vướng víu cả hai tay.
「ふふっ、今日もたくさん買ったね」
「Hì hì, hôm nay cũng mua nhiều quá nhỉ.」
「うん、お腹が空いたから!」
「Vâng, vì tôi đang đói bụng lắm!」
「私はパンだけでいい。たくさん食べられない……」
「Chị thì chỉ cần bánh mì thôi. Chị không ăn được nhiều đâu……」
床に座ったウーさんが、せっせと菓子パンを小さな口で頬張っている。僕は二つの弁当を重ねて持って、彼女の隣にそっと静かに腰を下ろした。お互いの肩が触れ合う距離だが、ベトナム人にとっては特別に意識する距離感でもないらしい。僕も最初は隣に座るだけで緊張していたが、次第に自然体で弁当を食べ切れるようになっていた。この空腹の前では余計な邪念など消え去ってしまう。
Chị Ước đang ngồi bệt dưới sàn, đôi môi nhỏ nhắn chậm rãi nhấm nháp chiếc bánh ngọt. Tôi cầm hai hộp cơm chồng lên nhau rồi khẽ khàng ngồi xuống cạnh chị. Khoảng cách gần đến mức vai chúng tôi có thể chạm vào nhau, nhưng với người Việt Nam, dường như đây không phải là khoảng cách gì quá đặc biệt để phải để ý. Lúc đầu tôi cũng thấy căng thẳng khi ngồi cạnh như vậy, nhưng dần dần tôi đã có thể tự nhiên ăn hết hộp cơm của mình. Đứng trước cơn đói, mọi tạp niệm dường như tan biến hết.
「あっ、これ美味しくないね」
「Ơ, cái này không ngon nhỉ.」
「どうしたの。それって新発売のジュース?」
「Sao thế ạ? Đó là nước mới ra hả chị?」
ナタデココという文字が目に入った。
Tôi nhìn thấy dòng chữ Thạch dừa.
「うん、私、これ苦手かもね。あなたも飲んでみて」
「Ừm, chắc là chị không thích cái này rồi. Em uống thử xem.」
「ありがとう、もらうよ」
「Cảm ơn chị, tôi xin nhé.」
ウーさんが口を尖らせて、飲みかけのペットボトルを僕の手に握らせてくる。ナタデココ入りの乳酸菌飲料は彼女の口には合わなかったようだ。半透明の果肉が遺憾の意を示すように揺れている。これは人助けの一環なので、僕が邪念を持ち合わせるようなことはない。もう間接キスに意識するような年齢でもない。
ゴクっと一口だけ味わった。普通に美味しいと思う。
Chị Ước khẽ bĩu môi, rồi đưa chai nước đang uống dở vào tay tôi. Có vẻ món đồ uống sữa chua có thạch dừa này không hợp khẩu vị của chị. Những miếng thạch dừa trắng đục đung đưa trong chai như đang thể hiện sự hối lỗi. Đây là một hành động giúp đỡ bạn bè, nên tôi chẳng hề có chút tạp niệm nào. Tôi cũng đâu còn ở cái tuổi phải bận tâm về chuyện "hôn gián tiếp" nữa.
Tôi uống thử một ngụm. Thấy cũng ngon đấy chứ.
「うーん、僕は好きな味かも」
「Ừm, tôi thấy vị này cũng được mà.」
「えっ。それなら私の代わりに飲んでくれない?」
「Thật á? Vậy em uống hộ chị luôn được không?」
「……もう、飲んでる」
「…… Tôi đang uống rồi đây.」
ゴクっと一気に飲み干した。パチパチと隣で盛大に拍手してくれるウーさん。グッと親指を立てる僕。ヒューッと口笛を吹いてくれる周りのベトナム人。別にやましい事をしている訳でもないので、僕は堂々と空のペットボトルを天に振りかざした。ヒューッ、ヒューッと追い風が吹く。
Tôi uống cạn luôn một hơi. Chị Ước ngồi bên cạnh vỗ tay tán thưởng nhiệt tình. Tôi giơ ngón tay cái ra hiệu "Ok". Đám người Việt xung quanh cũng hùa vào huýt sáo trêu chọc. Chẳng làm gì khuất tất nên tôi đường hoàng giơ cao cái chai rỗng lên trời. Những tiếng huýt sáo cổ vũ cứ thế vang lên.
(なんか、この感じも慣れちゃったんだよな)
(Nghĩ lại thì, mình cũng đã quen với cái bầu không khí này rồi nhỉ.)
そう。フロアは少数精鋭なので休憩に行くにしても一人ずつだが。夜の厨房は十五人ほどの大所帯なので二、三人が同時に休憩することも多々ある。こうして、複数のベトナム人と事務所で過ごすことにも慣れてしまった。
Đúng vậy. Phía sảnh vì ít người nên thường chỉ từng người một đi nghỉ, nhưng phía bếp ca đêm có tới mười lăm người nên việc hai, ba người cùng nghỉ một lúc là chuyện thường tình. Tôi đã quen với việc ngồi trong văn phòng cùng với nhiều người Việt Nam như thế này.
もしフロアの同僚に見られていたら恥ずかしいが、もうベトナム人の前では特に羞恥心を感じることはない。きっと彼ら全体の感覚として、ご飯を一緒に食べたり、一本のジュースを回し飲みする事は冷やかす対象にならないのだろう。それなら日本人の感覚で恥ずかしがるのも馬鹿らしい。ここはアウェーの利を生かすべきだ。
Nếu để đồng nghiệp ngoài sảnh nhìn thấy thì chắc là ngượng lắm, nhưng trước mặt người Việt thì tôi chẳng thấy xấu hổ chút nào nữa. Có lẽ trong quan niệm của họ, việc cùng nhau ăn uống hay uống chung một chai nước không phải là chuyện gì để châm chọc. Vậy thì một người Nhật như tôi mà cứ tỏ ra ngại ngùng thì thật ngớ ngẩn. Phải tận dụng lợi thế khi đang ở "sân khách" chứ.
「あなた、パンも食べる?」
「Em ăn thêm bánh mì không?」
「ウーさんの食べる分がなくなっちゃうよ?」
「Ăn thế thì chị chẳng còn gì để ăn mất?」
「ううん、私はお腹いっぱいね」
「Không sao, chị no rồi.」
値引きシールの付いた菓子パンが残り二つ。ウーさんが剥がした包装の残骸も二つ。彼女にパンをお裾分けされるのは今日に限った話ではない。
Còn lại hai chiếc bánh ngọt có dán tem giảm giá. Những mẩu bao bì chị đã bóc ra cũng có hai cái. Việc chị nhường bánh cho tôi không phải là chuyện ngày một ngày hai.
(いつも少食なのに……なんで菓子パンをこんなに持ってくるのだろう。これもベトナムの習慣なのかな?)
(Chị ấy vốn ăn ít…… vậy mà sao lúc nào cũng mang theo nhiều bánh thế nhỉ? Liệu đây có phải là thói quen của người Việt không?)
「ふふっ、いっぱい食べてね。ラストは大変だから」
「Hì hì, ăn nhiều vào nhé. Ca cuối vất vả lắm đấy.」
「っ……ありがとうね」
「Vâng…… cảm ơn chị nhé.」
「ふふふっ、よかったぁ」
「Hì hì hì, tốt quá rồi.」
ふにゃっと安心し切った無防備な笑顔を直視する。
そんな微笑みで差し出されたら断れない。僕の胃が悲鳴を上げるより先に情緒が不安定になってしまう。
Tôi nhìn thẳng vào nụ cười rạng rỡ, đầy tin cậy và không chút phòng bị của chị.
Được mời bằng một nụ cười như thế thì làm sao mà từ chối cho được. Trước khi dạ dày của tôi kịp lên tiếng biểu tình vì quá no, thì cảm xúc của tôi đã bắt đầu trở nên mất kiểm soát.
(平常心、平常心を保つんだ。これくらいベトナムだと普通、この笑顔が普通なんだから意識するな!)
(Giữ bình tĩnh, phải giữ bình tĩnh. Ở Việt Nam chuyện này là bình thường, nụ cười này cũng là bình thường thôi, đừng có mà suy diễn lung tung!)
男女の友情は成立するのか、否か。
この手の話が永遠に議論されている理由も分かる。がぶっと菓子パンを齧った。小説を書く習慣のおかげで、自分や相手の行動を言語化して客観視できている。そうでなかったら、とっくに惚れていた。今は友人として相手を深く知るフェーズなのだ。
Liệu tình bạn giữa nam và nữ có tồn tại hay không?
Giờ thì tôi đã hiểu vì sao chủ đề này lại luôn được tranh luận mãi không thôi. Tôi cắn một miếng bánh lớn. Nhờ thói quen viết tiểu thuyết mà tôi có thể ngôn ngữ hóa và nhìn nhận khách quan hành động của bản thân cũng như đối phương. Nếu không, chắc là tôi đã đổ gục trước chị từ lâu rồi. Hiện tại, chúng tôi vẫn đang ở giai đoạn tìm hiểu sâu sắc hơn về nhau với tư cách là những người bạn.
「ウ、ウーさんっ、ベトナムの話を聞きたいな!」
「Ư-Ước ơi, kể cho tôi nghe về Việt Nam đi!」
上擦った声を取り繕う余裕はなかった。
Tôi chẳng còn tâm trí đâu mà sửa lại cái giọng đang run lên vì bối rối của mình nữa.
「いいよ。たくさん写真ある、見てみたい?」
「Được chứ. Chị có nhiều ảnh lắm, em muốn xem không?」
「うん!」
「Dạ có!」
ウーさんが地元で撮った写真だろうか。ネットの海から拾った画像ではないようだった。僕に料理の紹介をしながら、一定のリズムでカメラロールが動いていく。ほうれん草のような緑色の野菜。皮を剥かれた栗とにんにく。大きな焼き魚。紅い唐辛子の入ったスープ。黄色いお好み焼きのようなもの。最後の画像に目が惹きつけられた。
Đó dường như là những bức ảnh chị chụp ở quê nhà, không phải là những tấm hình nhặt nhạnh trên mạng. Cuộn phim cứ thế trôi qua theo một nhịp độ nhất định trong khi chị giới thiệu cho tôi từng món ăn. Nào là loại rau xanh mướt như rau chân vịt, nào là hạt dẻ đã bóc vỏ và tỏi, rồi một con cá nướng thật lớn, hay bát canh có những lát ớt đỏ tươi. Và cả một món trông vàng ươm như bánh xèo Nhật Bản. Ánh mắt tôi dừng lại ở bức ảnh cuối cùng.
「これ、美味しそうだね。お好み焼きに似てる」
「Món này nhìn ngon quá. Trông giống Okonomiyaki (bánh xèo Nhật) nhỉ.」
「おこのみやき?」
「Okonomiyaki?」
「日本の料理だよ、まだ食べたことない?」
「Là món ăn của Nhật đó, chị chưa ăn bao giờ ạ?」
ウーさんは首を横に振った。
Chị Ước lắc đầu.
「そうか、これはバインセオと言うよ。米粉で作った薄い生地にターメリックを混ぜる。そうすると黄色になるね。この中にはエビや豚肉、もやしが入っているよ」
「Thế à. Cái này gọi là Bánh Xèo. Vỏ bánh mỏng làm từ bột gạo pha với bột nghệ nên mới có màu vàng như vậy. Bên trong có tôm, thịt lợn và giá đỗ nữa.」
「すごいね、いつか食べてみたい!」
「Tuyệt quá, nhất định tôi phải ăn thử mới được!」
「ふふっ、あなたは食べるのが本当に好きだね」
「Hì hì, em đúng là người có tâm hồn ăn uống nhỉ.」
ウーさんは目を細めて笑った。僕も苦笑した。
Chị Ước nheo mắt cười, tôi cũng chỉ biết cười trừ.
「バインセオは作れないけど、たまに日本でもベトナムの料理は作るよ。これは昨日のスペアリブね!」
「Chị không biết làm bánh xèo, nhưng thỉnh thoảng ở Nhật chị vẫn nấu đồ Việt Nam đấy. Đây là món sườn rim chị nấu hôm qua này!」
「ウーさんは料理が上手だね。どんな味だった?」
「Chị Ước nấu ăn giỏi thật đấy. Vị của nó thế nào ạ?」
焦げ茶色のゴロっとした骨付きの豚肉が平皿に盛られている。その隣には白菜とネギの野菜スープが入ったお椀が添えられていた。お世辞ではなく、普段から自炊を繰り返している者にしか出せない雰囲気が伝わってくる。
Những miếng sườn lợn màu nâu cánh gián đậm đà được xếp đầy trên đĩa. Cạnh đó là một bát canh rau cải trắng với hành lá. Không phải nịnh nọt đâu, nhưng nhìn qua là biết ngay cái "thần thái" của một người thường xuyên vào bếp. Đó là kiểu món ăn mà chỉ những người tự nấu nướng hàng ngày mới làm ra được.
「味は……しょっぱくて、辛くて、甘いね。ふふふっ!」
「Vị của nó là…… mằn mặn, cay cay và ngòn ngọt. Hì hì hì!」
「わぁ、舌の上で爆発しそう!」
「Oa, nghe như một sự bùng nổ hương vị trên đầu lưỡi ấy!」
「それは大丈夫よ、あまり辛くないから。この色は砂糖から作った色ね」
「Không sao đâu, không cay lắm đâu mà. Cái màu này là màu từ đường đấy.」
自慢じゃないが、僕は自炊で砂糖を調味料として使ったことはない。味付けする時は塩胡椒くらいしか使わない。
だから、砂糖で料理を色付けしているだけでも、僕がウーさんの料理スキルを尊敬するのは当然だった。
Chẳng phải khoe khoang gì, nhưng tôi chưa bao giờ dùng đường làm gia vị khi tự nấu ăn. Bình thường tôi chỉ dùng muối và hạt tiêu là cùng. Vì thế, chỉ riêng việc chị biết dùng đường để tạo màu (nước hàng) thôi cũng đủ để tôi vô cùng ngưỡng mộ kỹ năng nấu nướng của chị rồi.
「すごい、砂糖が入っているんだね。だから甘い味もするんだ」
「Giỏi thật đấy, có cả đường bên trong nên mới có vị ngọt nữa. Khéo léo thật.」
「そう、でも少ない。色を作るだけ」
「Ừ, nhưng cho ít thôi. Chủ yếu là để tạo màu.」
「料理の見た目も意識し……料理の見た目も頑張ってるんだね。お肉からエネルギーが伝わってくる!」
「Chị chăm chút cho cả vẻ ngoài của món ăn nữa nhỉ. Nhìn miếng thịt thôi cũng thấy tràn đầy năng lượng rồi!」
僕は熱弁した。ウーさんを褒めちぎりたかった。
Tôi hào hứng thuyết minh, chỉ muốn dành thật nhiều lời khen ngợi cho chị.
「ふふっ、いつもは簡単な料理を作る。すぐに食べたいから。でも時々、この料理を作りたくなるね」
「Hì hì, bình thường chị cũng chỉ nấu món đơn giản thôi vì muốn được ăn ngay. Nhưng thỉnh thoảng chị lại rất muốn nấu món này.」
「ウーさんは学校があるから忙しいよね。あまり料理する時間もないでしょ」
「Chị bận việc học ở trường mà, chắc cũng không có nhiều thời gian nấu nướng đâu nhỉ.」
「うん、朝から勉強で夜もバイト。ベトナムで母に料理を作ってもらったことを思い出す……」
「Ừ, từ sáng đã đi học, tối lại đi làm thêm. Những lúc nấu ăn chị lại nhớ hồi ở Việt Nam được mẹ nấu cho……」
どんなレストランも母の手料理は代替できない。
Dù là nhà hàng cao cấp đến đâu cũng không thể thay thế được hương vị cơm mẹ nấu.
「そっか、たまに僕も懐かしくなるよ。親に料理を作ってもらったこと」
「Tôi hiểu mà, thỉnh thoảng em cũng thấy nhớ những món bố mẹ nấu cho ăn.」
「でも社会人になって面白いね。自立して、いろんな経験するから。あなたも私と同じ気持ち?」
「Nhưng trở thành người đi làm cũng thú vị mà. Mình được tự lập, được trải nghiệm nhiều thứ. Em cũng thấy giống chị chứ?」
ウーさんが首を傾げた。僕も頷き返す。
Chị Ước khẽ nghiêng đầu hỏi. Tôi cũng gật đầu đáp lại.
「そうだね。実家で暮らしていたら、ウーさんと夜遅くまでLINEはしてなかったな。社会人になって良かった」
「Đúng vậy ạ. Nếu còn ở với bố mẹ, chắc tôi đã chẳng thể nhắn tin LINE với chị đến tận khuya thế này. Đi làm rồi cũng có cái hay của nó.」
「そう。早く寝なさいと母に叱られてたかも?」
「Đúng thế. Nếu không thì đã bị mẹ mắng là lo mà đi ngủ sớm đi rồi nhỉ?」
ふふっと二人で顔を見合わせて笑った。外の暑さも、仕事の喧騒も届かない場所で、穏やかな時間が流れていく。
ずっとこんな時間が続けばいいのに。
Hai chúng tôi nhìn nhau cười khúc khích. Ở nơi mà cái nóng nực và sự ồn ào của công việc không thể chạm tới, một khoảng thời gian êm đềm đang nhẹ nhàng trôi qua.
Ước gì khoảnh khắc này cứ kéo dài mãi.
「そろそろ仕事に戻らないと」
「Đến giờ phải quay lại làm việc rồi.」
「そうね、私も。あっ、そのゴミはここに入れてね」
「Ừ nhỉ, chị cũng thế. À, rác thì em cho vào đây nhé.」
「いつもありがとう」
「Lúc nào cũng cảm ơn chị.」
ウーさんが空になったレジ袋を差し出してくる。僕たちは弁当や菓子パンのゴミを片付けて、はっぴ姿に着替え直してから、事務所を後にした。
Chị Ước đưa cho tôi cái túi nilon rỗng. Chúng tôi dọn dẹp đống vỏ hộp cơm và túi bánh, thay lại bộ áo Happi rồi cùng nhau rời khỏi văn phòng.
「ねぇ、ウーさん」
「Này, chị Ước ơi.」
「なぁに?」
「Hả?」
僕は軽く握った拳を突き出した。その意図が彼女にも伝わったようで、きゅっと握った小さな拳が出てくる。
コツン、と戦友へのエールを贈った。
Tôi khẽ đưa nắm đấm tay ra phía trước. Chị dường như hiểu ngay ý định đó, cũng đưa nắm tay nhỏ nhắn của mình ra.
"Cộp", hai nắm tay chạm vào nhau như một lời cổ vũ dành cho người đồng đội.
「じゃあ、頑張ってね」
「Vậy nhé, cố gắng lên chị nha.」
「うん、頑張ろう!」
「Ừm, cùng cố gắng nào!」
僕たちはお互いの持ち場に戻った。
どうやら休憩中にピークは過ぎていたようで、岡原さんと成田くんがシンクで一緒に洗い物をしながら談笑していた。二人に軽く手を振って挨拶した後、フロアで仕事しているであろう木澤くんと丸林さんを探すことにした。
Chúng tôi quay trở lại vị trí làm việc của mình.
Có vẻ như trong lúc tôi nghỉ ngơi, giờ cao điểm đã trôi qua. Chị Okahara và Narita đang vừa cùng nhau rửa bát ở bồn vừa tán gẫu vui vẻ. Sau khi vẫy tay chào hai người họ, tôi bắt đầu đi tìm Kizawa và chị Marubayashi – những người chắc hẳn đang làm việc ngoài sảnh.
「あっ、お帰りなさい」
「A, mừng anh quay lại.」
「おう、お帰り!」
「Ồ, về rồi đấy à!」
「ただいま、お客さん少なくなったね」
「Tôi về rồi đây. Khách vắng đi nhiều rồi nhỉ.」
もうすぐ21時半となる。
高校生が帰った後は、この三人でラスト作業を回すことになる。僕を含め全員の顔に疲労は見られなかった。これなら順調に帰宅できるだろう。僕は緊張の糸を緩めた。
Gần lúc 21 giờ 30 tối rồi.
Sau khi các em học sinh cấp ba ra về, ba người chúng tôi sẽ đảm nhận công việc ca cuối. Bao gồm cả tôi, gương mặt mọi người đều không lộ vẻ mệt mỏi. Với đà này, có lẽ chúng tôi sẽ được về nhà đúng giờ. Tôi khẽ nới lỏng sự căng thẳng trong lòng.
「そういや、店長に商品ポップの切り替えを頼まれてたの忘れてた。あれ、どこに置いたんだっけな」
「À mà suýt nữa thì quên, quản lý có nhờ tôi thay mấy cái biển quảng cáo (Pop) món ăn. Không biết tôi để chúng ở đâu rồi nhỉ.」
木澤くんが肩をすくめた。
Kizawa nhún vai vẻ lúng túng.
「もう1番から15番テーブルは案内停止しといた。そしてこれが新しいポップだよ。小厨房に置いてあったから持ってきた」
「Tôi đã khóa các bàn từ số 1 đến số 15 rồi. Còn đây là các tấm Pop mới đây. Tôi thấy chúng ở khu tiểu quy nên đã mang ra luôn.」
「ナイス。客がいないテーブルから始めてくか」
「Hay quá. Vậy mình bắt đầu từ những bàn không có khách nhé.」
後ろ手に持っていた商品ポップを見せる。小厨房に放置されていたので念の為に持ってきておいたのだ。
二人の枚数が均等になるよう、ポップ用紙の束を二つに分けていると、くすっと丸林さんが笑みを零した。その反応に僕と木澤くんが首を傾げる。
Tôi đưa ra xấp biển quảng cáo đang cầm sau lưng. Vì thấy chúng bị bỏ không ở khu tiểu quy nên tôi đã chủ động cầm theo đề phòng trường hợp cần đến.
Trong lúc tôi đang chia xấp giấy ra làm hai phần bằng nhau để đưa cho hai người họ, chị Marubayashi khẽ mỉm cười. Phản ứng đó khiến tôi và Kizawa đều ngơ ngác không hiểu chuyện gì.
「ふふっ、先輩ってこんなに気が利くんだね。それに木澤くんの反応もあっさりしすぎでしょ。もっと感謝した方がいいって。こんな先輩は滅多に現れないんだから」
「Hì hì, không ngờ senpai lại tâm lý đến thế đấy. Còn Kizawa thì phản ứng hời hợt quá rồi. Em phải cảm ơn anh ấy nhiều vào chứ. Hiếm có người tiền bối nào chu đáo được như thế này lắm đấy.」
僕の気配りを丸林さんが褒めてくれた。やっぱり大人は着眼点が違う。木澤くんには響いていないようだったが。
Sự quan tâm của tôi đã được chị Marubayashi khen ngợi. Đúng là người lớn có cách nhìn nhận thật khác biệt. Dù dường như những lời đó vẫn chưa thấm thía được vào đầu Kizawa cho lắm.
「いやいや、俺の先輩はいつもこんな感じっすよ。なんか良く分からんけど、一緒のシフトだと仕事しやすいんす」
「Dạ không, senpai của em lúc nào chẳng vậy ạ. Chẳng biết giải thích sao nhưng cứ làm cùng ca với anh ấy là em thấy công việc trôi chảy lắm.」
「いつか分かるといいね、あと先輩じゃな……」
「Hy vọng sau này em sẽ hiểu. Với cả, gọi là senpai thì cũng không hẳ……」
少しだけ思うところがあって、声が詰まった。
Có một chút suy nghĩ thoáng qua khiến giọng tôi nghẹn lại.
僕は本来なら社会人として就職しているべき年齢だ。僕の気配りが評価されているのは、大人が学生の中に混じっているからに過ぎない。
ただ、もうこの道で生きると決めたのだ。その過程で自己肯定感を高められるのならば、多少の胸の疼きは呑み込もう。先輩という言葉の響きに腐るのではなく、バイト先にいる素敵な成人男性として彼らの記憶に名を残そう。自分は気が利くのだと胸を張ろう。
Ở độ tuổi của tôi, lẽ ra tôi phải đang làm việc chính thức tại một công ty nào đó với tư cách là một nhân viên xã hội. Việc sự chu đáo của tôi được đánh giá cao chẳng qua là vì tôi là một người lớn đang làm việc lẫn trong đám học sinh sinh viên mà thôi.
Thế nhưng, tôi đã quyết định chọn con đường này rồi. Nếu trong quá trình đó, tôi có thể nâng cao được giá trị bản thân thì chút nhói lòng này tôi sẽ cam lòng chấp nhận. Thay vì buồn phiền vì danh xưng "senpai", tôi sẽ để lại dấu ấn trong ký ức của họ như một người đàn ông trưởng thành tuyệt vời tại nơi làm thêm này. Tôi sẽ tự hào rằng mình là một người biết quan tâm đến người khác.
(ウーさんにも言ったからな。社会人になってから毎日が楽しいって。僕と同年齢の子が異国の地で頑張っているんだ。本当に真っ直ぐに努力している女の子だ)
(Mình cũng đã nói với chị Ước rồi mà. Rằng từ khi đi làm, ngày nào mình cũng thấy vui. Một cô gái bằng tuổi mình đang nỗ lực hết mình nơi đất khách quê người. Chị ấy thực sự là một người con gái luôn nỗ lực một cách ngay thẳng.)
願わくば、彼女の目に映る僕もそうでありたい。
Tôi cũng muốn mình trở nên như vậy trong mắt chị.
「……やっぱり先輩でいいです」
「……Mà thôi, cứ gọi là senpai cũng được ạ.」
ぽつりと呟く。
Tôi lẩm bẩm.
「えっ、どうしたの。君ってツンデレだったの?」
「Ơ, sao thế? Em là kiểu 'Tsundere' đấy à?」
「まさか先輩がデレたのか!?」
「Không lẽ senpai vừa mới tỏ vẻ đáng yêu đấy sao!?」
「うるさい、早く仕事しますよ。ほら、木澤くんはポップを持って」
「Im lặng đi, lo làm việc nhanh lên. Này Kizawa, cầm lấy xấp Pop này.」
ツンデレはプイッと顔を逸らした。
まぁ、親しみやすい大人に一歩近付いたってことで。
"Gã Tsundere" là tôi quay mặt đi chỗ khác.
Mà thôi, coi như mình đã tiến thêm một bước để trở thành một người lớn dễ gần rồi vậy.




