思春期と食い逃げ犯
「ふわぁぁっ、よく寝た」
「Phù... ngủ ngon quá.」
翌朝、今日も窓辺から日差しが差し込む良い天気だ。
今日のシフトは17時からの出勤なので遅起きでもいい。僕が目を覚ましたのは11時過ぎだった。モゾモゾと寝台の上で体を丸める。もう少しだけ微睡みの中を漂ってから、朝食と昼食を兼ねたご飯を食べるつもりだった。
Sáng hôm sau, vẫn là một ngày đẹp trời với ánh nắng sớm mai len lỏi qua khung cửa sổ.
Ca làm việc hôm nay của tôi bắt đầu từ 17 giờ nên tôi có thể dậy muộn một chút. Lúc tôi mở mắt đã là hơn 11 giờ trưa. Tôi cựa mình, cuộn tròn trong chăn thêm một lúc. Tôi định sẽ thả mình trong cơn mơ màng thêm chút nữa trước khi dậy ăn bữa cơm gộp cả sáng lẫn trưa.
(ウーさんに何かLINEしたいな。でも話題が思いつかないな。もう一眠りしたら思いつくかもなぁ……眠いなぁ)
(Mình muốn nhắn tin LINE cho chị Ước quá. Nhưng mà chẳng nghĩ ra chủ đề gì để nói cả. Có khi ngủ thêm giấc nữa là nghĩ ra cũng nên…… Buồn ngủ quá.)
その時、LINEではなく電話の着信音が鳴った。
大学生の時を思い返すと、ネット回線の乗り換えやウォーターサーバーの契約を結ばせようとするセールス電話が煩わしかったり、大学の学務課や職場の店長からの着信にビクッと身構えてしまったり。あまり電話越しの応答には良い記憶がない。LINEの通話とは根幹から違うのだ。
Đúng lúc đó, không phải là tiếng chuông LINE mà là tiếng chuông điện thoại vang lên.
Nhớ lại hồi đại học, tôi thường cảm thấy phiền phức với những cuộc gọi mời chào chuyển đổi mạng internet hay ký hợp đồng máy lọc nước; hoặc đôi khi lại giật mình lo lắng khi thấy cuộc gọi từ phòng đào tạo hay từ quản lý cửa hàng. Tôi không có nhiều ký ức tốt đẹp với việc trả lời điện thoại cho lắm. Nó mang một cảm giác khác hẳn so với việc gọi qua ứng dụng LINE.
「はい、もしもし」
「Alo, tôi nghe ạ.」
「おはようございます、とば寿司の中島です」
「Chào em, anh Nakajima ở Toba Sushi đây.」
「あっ、店長。おはようございます」
「A, chào anh. Chào buổi sáng anh ạ.」
僕が億劫な気持ちで電話に出ると、中島店長の切羽詰まったような声があった。いつも優しい店長には世話になっているし、シャキッとベッドの上で背筋を伸ばす。
Tôi nhấc máy với tâm trạng hơi uể oải, nhưng đầu dây bên kia là giọng nói có vẻ rất gấp gáp của quản lý Nakajima. Vì anh ấy luôn đối xử tốt và giúp đỡ tôi rất nhiều, nên tôi vội vàng ngồi bật dậy, chỉnh đốn lại tư thế trên giường.
「ごめん、今日って早めに出勤できる?」
「Xin lỗi em, hôm nay em có thể đi làm sớm hơn được không?」
「もちろん大丈夫ですよ」
「Dạ vâng, tất nhiên là được ạ.」
「ありがとう。今日、急に欠員が出てね。お昼のアイドリング(忙しいピーク終わりの落ち着いた時間)が回りそうにないんだ。予定より早いけど、12時半からの出勤をお願いしてもいいかな?」
「Cảm ơn em nhiều nhé. Hôm nay có người đột ngột xin nghỉ. Anh e là ca Idling (khoảng thời gian vắng khách sau giờ cao điểm trưa) sẽ không xoay xở kịp mất. Dù hơi sớm so với dự kiến, nhưng em có thể đến lúc 12 giờ 30 được không?」
店長はいつもより早口だった。自分より焦っている人を相手にすると、なんだか心が静かに落ち着いてくる。
Anh quản lý nói nhanh hơn mọi khi. Khi đối diện với một người đang cuống cuồng hơn cả mình, tự nhiên lòng tôi lại thấy bình tĩnh đến lạ.
「分かりました、12時半からラストですね」
「Tôi hiểu rồi ạ. Vậy tôi sẽ làm từ 12 giờ 30 cho đến hết ca cuối nhé.」
「いつも本当に助かるよ。それでは失礼します」
「Lúc nào em cũng giúp anh nhiệt tình như vậy, cảm ơn em nhiều lắm. Chào em nhé.」
「はい、失礼します」
「Dạ vâng, chào anh.」
寝起きの会話にしては男前な返事ができた。
これも信頼というか、僕が中島店長の頼みを断ったことは基本的にない。そう意識して振る舞っている。彼がバイト相手に無茶振りをするような人ではないと理解しているからだ。そう理解していると、こちらも態度で示さなくては大人といえない。僕は寝台から床に降りて、ぐちゃぐちゃになったシーツを手直しした。
Đối với một cuộc hội thoại vừa mới ngủ dậy, tôi thấy mình đã trả lời rất bản lĩnh.
Đây có thể coi là sự tin tưởng, vì về cơ bản tôi chưa từng từ chối lời nhờ vả nào của anh Nakajima. Tôi luôn có ý thức hành động như vậy. Bởi tôi hiểu anh không phải là kiểu người đưa ra những yêu cầu vô lý với nhân viên làm thêm. Khi đã hiểu rõ điều đó, nếu tôi không thể hiện lại bằng thái độ tích cực thì không thể gọi mình là người trưởng thành được. Tôi bước xuống giường và bắt đầu thu dọn lại bộ ga giường đang rối tung.
「店長から呼び出されちゃった。12時半からの出勤……」
「Anh quản lý vừa gọi tôi đi làm sớm. Tôi sẽ đi từ 12 giờ 30……」
ウーさんにLINEを送ると、すぐに返信が返ってきた。
Tôi gửi tin nhắn cho chị Ước, và chị trả lời ngay lập tức.
「へぇ、店員足りない?」
「Hế, thiếu nhân viên hả em?」
「一人が急に休んだみたいだね。行ってきます。ウーさんはシフト入ってる?」
「Hình như có một người đột ngột nghỉ chị ạ. Tôi đi đây. Hôm nay chị có ca không?」
「シフトないよ。今日は私の友達の誕生日だから。一緒に遊ぶね」
「Chị không có ca. Hôm nay là sinh nhật bạn chị nên bọn chị đi chơi với nhau.」
僕は目を閉じて、返信の文章を考えた。
Tôi nhắm mắt lại, cân nhắc câu chữ để trả lời.
「いいね、楽しい一日を過ごしてね!」
「Hay quá, chúc chị có một ngày thật vui vẻ nhé!」
「ありがとう、またね!」
「Cảm ơn em, hẹn gặp lại nhé!」
あっという間に会話が終わった。
こういう些細な連絡が実は好きだったりする。ただ、あまりにも頻繁に近況報告を重ねすぎると、相手に面倒だと思われてしまうことも理解している。さらに女の子の友達が相手だと、SNSの距離感で現実でも距離を詰めてしまうことへのリスクがあることも理解している。
Cuộc trò chuyện kết thúc chớp nhoáng.
Thực ra tôi khá thích những kiểu liên lạc vụn vặt như thế này. Tuy nhiên, tôi cũng hiểu rằng nếu cứ dồn dập báo cáo tình hình hiện tại quá mức thì sẽ khiến đối phương cảm thấy phiền phức. Hơn nữa, khi đối phương là một người bạn gái, tôi ý thức được rủi ro của việc cố tình rút ngắn khoảng cách ngoài đời thực thông qua sự thân mật trên mạng xã hội.
(いつまで続くのかな。こういう初々しいやり取り)
(Những cuộc trò chuyện ngây ngô thế này. Không biết sẽ kéo dài được bao lâu nhỉ?)
冷蔵庫から麦茶を取り出し、ゴクっと喉の渇きを潤す。
僕が思春期だった日々を思い返した。
Tôi lấy bình trà lúa mạch từ trong tủ lạnh ra, uống một hơi thật dài cho đã cơn khát.
Ký ức về những ngày tháng thời thanh xuân nổi loạn chợt ùa về trong tâm trí.
高校生の時、気になる女の子にLINEを使ったやり取りだけで私生活の深掘りをしようとした。バレー部のマネージャーをしていて、笑った時のえくぼが可愛らしい子だった。せっかく同じクラスだったのに、気恥ずかしくて教室では上手く話せなかった。ずっと意識しすぎだった。
Hồi còn là học sinh cấp ba, tôi đã từng cố gắng tìm hiểu sâu vào cuộc sống riêng tư của một cô gái mình thầm thích chỉ qua những dòng tin nhắn LINE. Cô ấy là quản lý của câu lạc bộ bóng chuyền, một cô gái có má lúm đồng tiền cực kỳ đáng yêu mỗi khi cười. Dù học cùng lớp, nhưng vì quá ngại ngùng nên tôi chẳng thể nào nói chuyện tự nhiên với cô ấy ở trên lớp được. Tôi đã luôn để tâm đến cô ấy quá mức.
スマホの画面越しでは口達者なのに、教室ではモジモジと話しかけてこない男。SNSと現実の齟齬が負の効果をもたらして、彼女は徐々に僕を避けるようになった。ゆっくりとLINEの返信も返ってこなくなった。
Một gã trai "múa rìu qua mắt thợ" trên màn hình điện thoại, nhưng ở lớp lại cứ lúng ta lúng túng không dám mở lời. Sự khác biệt giữa mạng xã hội và thực tế đã mang lại tác dụng ngược, khiến cô ấy dần dần né tránh tôi. Những tin nhắn LINE cũng thưa thớt dần rồi mất hẳn.
僕との関係が気まずくなってからも、生徒同士で小テストの採点をしたり、グループワークの時には普通に接してくれていた。最後まで優しく誠実な子だったと思う。SNSの交流が途絶えてしまったのはその子の優しさが消えたのではなく、僕が彼女の優しさに甘え過ぎた結果だ。
Ngay cả khi mọi chuyện trở nên gượng gạo, cô ấy vẫn đối xử bình thường với tôi khi cùng chấm điểm bài kiểm tra nhỏ hay khi làm việc nhóm. Đến tận cuối cùng, tôi vẫn thấy cô ấy là một người hiền lành và chân thành. Việc chúng tôi cắt đứt liên lạc trên mạng xã hội không phải vì sự tử tế của cô ấy biến mất, mà là kết quả của việc tôi đã quá ỷ lại vào sự tử tế đó.
僕の距離の詰め方が不器用だった事実を、若気の至りというありふれた言葉で飾りたくはない。
Tôi không muốn dùng cụm từ sáo rỗng "sai lầm của tuổi trẻ" để bào chữa cho sự vụng về trong cách rút ngắn khoảng cách của mình khi ấy.
その数ヶ月後、放課後の教室。
Vài tháng sau, tại lớp học sau giờ tan trường.
「そういえば噂は聞いたよ。バレー部のマネージャーの子と気まずくなったんでしょ?」
「À này, tớ nghe đồn rồi nhé. Cậu với bạn quản lý bên bóng chuyền đang gượng gạo với nhau đúng không?」
「そう、僕のアプローチが下手すぎてさ。人見知りだから上手く話せなかったんだよ」
「Ừ, tại cách tiếp cận của tớ kém quá mà. Tớ lại còn nhát gái nên chẳng nói chuyện ra hồn được.」
「えー、君が人見知りなの意外だって。私とは普通に話せているのに?」
「Hể, không ngờ cậu lại nhát đấy. Chẳng phải cậu vẫn nói chuyện bình thường với tớ sao?」
その言葉を待っていた。
Tôi đã chờ đợi câu nói đó.
「どうしてだろうね。なんか話しやすいんだよな」
「Chẳng biết nữa. Cảm giác nói chuyện với cậu thoải mái thật đấy.」
「えぇ、嬉しいこと言ってくれるじゃんー」
「Ê, cậu nói làm tớ vui đấy nhé.」
過去の失敗談を引きずることなく、周囲の同級生にイジられる弱点として公にしていた。それが功を奏したのか、新しい女友達と良い感じの雰囲気になった。距離の詰め方が下手というレッテルを、不器用で人見知りという自分にとって都合の良い言葉で上書きした。
Không để bản thân chìm đắm trong thất bại quá khứ, tôi đã công khai nó như một điểm yếu để bạn bè trêu chọc. Có vẻ như điều đó đã phát huy tác dụng, tôi và một người bạn gái mới bắt đầu có không khí khá tốt. Tôi đã dùng cụm từ "vụng về và nhát" – những từ ngữ có lợi cho bản thân – để ghi đè lên cái mác "kẻ kém cỏi trong việc rút ngắn khoảng cách".
「そういえば彼氏できたんだー」
「À đúng rồi, tớ có bạn trai rồi đấy.」
「おお、おめでとう」
「Ồ, chúc mừng cậu nhé.」
「ありがとう、そっちも彼女できるといいね?」
「Cảm ơn nha, chúc cậu cũng sớm có bạn gái nhé?」
「ふふっ、余計なお世話だって」
「Hì hì, lo xa quá rồi đấy.」
その子と僕が付き合うことはなく、お互いに恋人ができたタイミングで疎遠になった。それでも異性の友達としての時間は魅力が溢れるものだった。
Tôi và cô bạn đó không yêu nhau, và chúng tôi dần xa cách khi mỗi người đều có người yêu riêng. Dù vậy, khoảng thời gian làm bạn khác giới vẫn là một kỷ niệm đầy sức hút.
僕は見栄や意地を張らないことの大切さを高校生の時点で知った。ただ、LINEのやり取りで乙女心を掴む方法は分からないままだった。対面でのトークスキルを磨くという発想に至らないのが内弁慶な証拠だった。
Tôi đã học được tầm quan trọng của việc không phô trương hay cố chấp ngay từ khi còn là học sinh cấp ba. Tuy nhiên, tôi vẫn chẳng thể hiểu nổi cách để chiếm trọn trái tim thiếu nữ qua những dòng tin nhắn LINE. Việc không nghĩ đến chuyện rèn luyện kỹ năng nói chuyện trực tiếp chính là minh chứng cho việc tôi chỉ là một kẻ "anh hùng bàn phím" mà thôi.
麦茶を飲み切り、使用済みのコップを流しへと運んだ。
思春期と大人の狭間でもがいた日々を思い出す。
Uống cạn ly trà lúa mạch, tôi mang chiếc ly đã dùng ra bồn rửa.
Ký ức về những ngày tháng vật lộn giữa ranh giới của tuổi dậy thì và sự trưởng thành lại ùa về.
大学生の時、僕が通うプロダクトデザイン学部はクラスの八割が女の子という環境だった。男女比が釣り合っていない魔境に馴染むため、迅速に人付き合いの戦略を練る必要があった。
Hồi đại học, tôi theo học khoa Thiết kế Sản phẩm, nơi mà 80% sinh viên trong lớp là nữ. Để hòa nhập vào cái "ma cảnh" chênh lệch giới tính ấy, tôi cần phải nhanh chóng vạch ra chiến lược giao tiếp cho riêng mình.
幸いなことに、最初の半年はコロナ禍でオンライン授業が主流だった。おかげで外行きの自分を形作る準備には余裕を持てた。
May mắn thay, nửa năm đầu tiên do ảnh hưởng của dịch Covid nên các tiết học trực tuyến là chủ yếu. Nhờ đó mà tôi có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc xây dựng một "vẻ ngoài" hoàn hảo khi ra ngoài.
「プロダクトデザイン学部の一年生です。よろしくお願いします」
「Chào mọi người, mình là sinh viên năm nhất khoa Thiết kế Sản phẩm. Rất mong được mọi người giúp đỡ.」
あえてLINEやDMでは軽く塩対応のような素っ気ない返信をして、大学の構内で顔を合わせる時は過剰なまでに愛想良く振る舞ってみせる意識をした。思春期の失敗から、SNSで相手を深掘りすることに拒否感を持っていた。相手を深く知りたいなら素顔を合わせた方が効果的だ。
Tôi cố tình chọn cách trả lời có phần hời hợt, lạnh lùng trên LINE hay DM, nhưng khi đối mặt trực tiếp tại trường, tôi lại cư xử niềm nở đến mức thái quá. Tôi có một sự bài trừ đối với việc tìm hiểu sâu về đối phương qua màn hình điện thoại. Nếu muốn biết rõ về ai đó, việc gặp mặt trực tiếp sẽ hiệu quả hơn nhiều.
「あっ、おはようっ!」
「A, chào buổi sáng!」
「う、うん、おはよう。君ってそんなキャラだったのね」
「Ừ, ừm, chào buổi sáng. Hóa ra cậu lại là kiểu người như thế này à.」
その意識をする相手は老若男女問わず。同じ学部の生徒から教授や学務課の職員にさえ、ことある毎に自分の素直さと無邪気さをアピールした。コロナ禍による空白に焦るのではなく、徐々に印象を上げていくという効果を狙っていた。デッサンと同じで、理想の人間関係を描く時にも余白は大切に残すべきなのだ。
Tôi áp dụng chiến lược đó với tất cả mọi người, không phân biệt già trẻ lớn bé. Từ sinh viên cùng khoa cho đến các giáo sư hay nhân viên văn phòng, hễ có dịp là tôi lại thể hiện sự thành thật và ngây ngô của mình. Tôi không nôn nóng trước khoảng trống do dịch bệnh tạo ra, mà nhắm tới hiệu ứng nâng cao ấn tượng một cách dần dần. Giống như khi vẽ tranh, những khoảng trắng luôn cần được để lại một cách tinh tế.
「なんか実際に話してみたらさ、君って意外とよく笑うタイプだよね。もっと無表情で冷たい人だと思ってたよ」
「Này, trực tiếp nói chuyện mới thấy cậu hóa ra là kiểu người hay cười nhỉ. Tớ cứ tưởng cậu là người lạnh lùng, không cảm xúc cơ.」
その言葉を待っていた。
Tôi đã chờ đợi câu nói đó.
「えっ、何でだろう。あ、でも、僕は人見知りだからさ。LINEとかDMだと上手く話せないんだよね」
「Ơ, sao thế nhỉ. À, nhưng mà tại tớ nhát lắm. Trên LINE hay DM tớ chẳng biết nói gì cả.」
「えー、何それ、かわいいじゃん!」
「Hể, gì vậy trời, đáng yêu thế!」
その甲斐あって、コロナ禍の騒ぎが収束した後の講義室では"直接話してみたら、実は人懐っこい男の子"というイメージを獲得することに成功した。僕の計算高い一面は誰にも明かさなかった。お互いにメリットがあるなら騙してもいいだろう。
Nhờ những nỗ lực đó, sau khi cơn sốt dịch bệnh lắng xuống, tôi đã thành công trong việc xây dựng hình ảnh "một chàng trai thực ra rất thân thiện khi tiếp xúc trực tiếp" trong phòng học. Tôi không bao giờ tiết lộ khía cạnh tính toán này của mình cho bất kỳ ai. Miễn là cả hai bên đều thấy có lợi, thì một chút "lừa dối" cũng chẳng sao.
骨まで凍えるような冬の通学。ふるふるっと頭を揺らして、ニット帽の上に積もった雪を払い落としていると、同じ学部の女の子に話しかけられた。
Vào những ngày đi học mùa đông lạnh đến thấu xương. Trong lúc tôi đang rũ đầu để hất những lớp tuyết đọng trên mũ len xuống, một cô bạn cùng khoa đã bắt chuyện với tôi.
「あっ、おはよう。雪の中を歩いてきたの?」
「A, chào buổi sáng. Cậu đi bộ trong tuyết đến đây à?」
「うんっ、橋の上の雪がすごかったんだよ。僕の背丈くらい積もってた!」
「Vâng ạ. Tuyết trên cầu nhiều lắm luôn. Tích lại cao bằng cả người tớ cơ!」
「ふふっ、今日もかわいいねぇ。遅刻しないで偉い!」
「Hì hì, hôm nay nhìn cũng đáng yêu ghê. Không đi học muộn là giỏi lắm đấy!」
大学生にしては無垢すぎる存在として、僕がプロダクトデザイン学部の同級生から受け入れられるのに、そう時間はかからなかった。面と向かって、癒しキャラや弟みたいと言われたこともある。こういう思い出を成功体験と言うのかもしれない。
Không mất quá nhiều thời gian để tôi được các bạn cùng khóa chấp nhận như một sự hiện diện quá đỗi thuần khiết so với độ tuổi sinh viên. Đã có lúc tôi được người ta nói thẳng vào mặt rằng tôi là kiểu nhân vật "chữa lành" hay giống như một đứa em trai. Có lẽ người ta gọi những kỷ niệm như vậy là trải nghiệm thành công.
ただ、気軽にLINEで近況報告を交わせるような友達は大学でも見つからなかった。ただ自分のレッテルを剥がす勇気がないだけだった。
Tuy nhiên, ở đại học, tôi vẫn không tìm được một người bạn nào có thể thoải mái chia sẻ chuyện thường nhật qua LINE. Đơn giản là tôi không có đủ dũng khí để gỡ bỏ cái nhãn mác mà mình đã tự dán lên.
今さらになって、SNSで自我を出すことで幻滅されるのではないか。そんな臆病さを長岡の冷たさで心の奥底に冷凍保存していた。春になっても、夏になっても、卒業する時までも、ずっと冷凍保存していた。
Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn sợ rằng nếu bộc lộ cái tôi thật sự trên mạng xã hội, người ta sẽ thất vọng về mình. Sự nhút nhát ấy đã được tôi đóng băng và cất giữ tận sâu trong lòng bằng cái lạnh của vùng Nagaoka. Dù xuân đến, hạ sang, hay cho đến tận lúc tốt nghiệp, nó vẫn luôn được bảo quản đông lạnh như thế.
結局、今でもLINEの使い方に自信が持てない。
僕は現実に意識を戻した。
Kết cục thì đến tận bây giờ, tôi vẫn chẳng thể tự tin vào cách dùng LINE của mình.
Tôi kéo ý thức trở về với hiện thực.
(ウーさん、友達と遊ぶって言ってたな。今の僕たちの関係は友達なのかな。それともバイト先の同僚かな)
(Chị Ước nói là hôm nay đi chơi với bạn nhỉ. Mối quan hệ của chúng tôi hiện giờ là bạn bè sao? Hay chỉ đơn thuần là đồng nghiệp ở chỗ làm thêm thôi?)
ぼんやりと思いを巡らせながら、両手で荷造りをする。
取り敢えず、今日は職場で顔を合わせることはないらしい。僕の人懐っこさを見せてあげられなくて残念だ。
Tôi vừa lơ đãng suy nghĩ mông lung, vừa dùng hai tay thu xếp đồ đạc.
Trước mắt thì nghe chừng hôm nay chúng tôi sẽ không chạm mặt nhau ở chỗ làm. Thật tiếc khi tôi không có cơ hội cho chị ấy thấy vẻ "thân thiện, dễ mến" của mình.
はっぴや名札をリュックサックに詰めて、汚れの目立たない黒のスラックスとシンプルで寒色系の半袖シャツに着替えたら、とば寿司でバイトする準備は万端だ。これが社員だったらワイシャツの着用が義務らしい。この猛暑日にそんな格好はしたくないと学生めいた感想が浮かぶ。
Tôi nhét áo Happi và bảng tên vào ba lô, thay sang chiếc quần âu đen không dễ lộ vết bẩn và chiếc áo sơ mi ngắn tay màu lạnh đơn giản. Thế là việc chuẩn bị đi làm thêm ở Toba Sushi đã hoàn tất. Nghe nói nếu là nhân viên chính thức thì bắt buộc phải mặc áo sơ mi dài tay thắt cà vạt. Tôi thầm nghĩ với cái vẻ trẻ con của một sinh viên rằng: "Thời tiết nóng nực thế này mà phải ăn mặc như vậy thì đúng là cực hình".
(ここで急に「今日も暑いね」って送るのは変だよな。それくらいは流石の僕でも分かっているぞ)
(Lúc này mà tự dưng nhắn "Hôm nay trời vẫn nóng nhỉ" thì kỳ lắm. Chừng đó thôi thì dù là tôi cũng tự hiểu được mà.)
僕はスマホをポケットに突っ込んだ。
もう出勤時刻が迫っている。
Tôi đút điện thoại vào túi quần.
Giờ đi làm đã cận kề rồi.
ーーー
19時半頃、いつになく店内が慌ただしくなる。
僕がレジで作業していると、中島店長が後ろから近寄ってきた。まだ売り上げの報告をする時間ではない。
Khoảng 19 giờ 30 phút, trong tiệm bỗng trở nên náo loạn hơn bao giờ hết.
Trong lúc tôi đang làm việc tại quầy thu ngân, quản lý Nakajima tiến lại gần từ phía sau. Lúc này vẫn chưa đến giờ báo cáo doanh thu.
「店長。そんなにバタバタして、どうしたんですか?」
「Quản lý, có chuyện gì mà anh cuống cuồng thế ạ?」
「うーん、ここのカウンター席のお客さん見てない?」
「Ừm…… em có thấy vị khách ở bàn counter đằng kia đâu không?」
お互いに首を傾げる。
Cả hai chúng tôi cùng nghiêng đầu thắc mắc.
「いや、見てないですね」
「Dạ không, tôi không thấy ạ.」
「なるほど、これは無銭飲食かなぁ」
「Ra vậy, chắc là ăn quỵt rồi.」
この日、新柏店で食い逃げ事件があった。この店の会計はセルフレジで行うので、フロアの目を盗むだけで無銭飲食は可能となる。特にピークの時間帯は、一人一人のお客さんに注意を払っている余裕はない。
Hôm đó, một vụ ăn quỵt đã xảy ra tại chi nhánh ShinKashiwa. Vì quán sử dụng hệ thống tự thanh toán nên chỉ cần lén lút qua mắt nhân viên sảnh là có thể trốn trả tiền. Đặc biệt là vào giờ cao điểm, chúng tôi không có đủ thời gian để để ý từng vị khách một.
すぐに犯人は見つかった。店から出て150メートル程の場所をグルグルと徘徊していたからだ。おそらく認知症の高齢男性。ここ最近、このショッピングモール内の飲食店で無銭飲食を繰り返していたらしい。被害に遭った店舗から、とば寿司新柏店にも注意喚起がされていた。店長が確認した防犯カメラの映像から食い逃げ犯が同一人物と分かり、すぐに警察と老人の家族が駆けつけた。
Kẻ thủ ác đã được tìm thấy ngay lập tức. Ông ta cứ đi lòng vòng quanh khu vực cách cửa hàng khoảng 150 mét. Có lẽ là một cụ ông bị sa sút trí tuệ. Nghe nói gần đây ông ấy liên tục ăn quỵt tại các nhà hàng trong trung tâm thương mại này. Toba Sushi Shin-Kashiwa cũng đã nhận được cảnh báo về việc này từ các cửa hàng bị hại khác. Sau khi kiểm tra camera giám sát, quản lý xác nhận đó chính là cùng một người nên đã lập tức gọi cảnh sát và người nhà của cụ ông tới.
あまり騒ぎにはならなかった。フロアの仕事は山積みだったので、警察に説教されて神妙な顔をする老人への興味は一瞬で失せた。この現代社会に怪盗の居場所はないし、僕が赤の他人に同情することもない。犯罪は嫌いだ。
Sự việc không gây ra náo động gì lớn. Vì công việc ngoài sảnh vẫn còn chất cao như núi, nên tôi cũng mất hứng thú ngay lập tức với việc nhìn cảnh cụ ông đang trưng ra vẻ mặt hối lỗi khi bị cảnh sát giáo huấn. Trong xã hội hiện đại này không có chỗ cho những kẻ "siêu trộm", và tôi cũng chẳng rảnh để đi đồng cảm với một người xa lạ. Tôi ghét tội phạm.
「見るからに怪しいジジイだったな」
「Nhìn lão già đó là thấy khả nghi rồi.」
「そうだね。でも堂々と食い逃げされたら、僕らも気付かないものなんだね。仕事で忙しくて見逃しちゃった」
「Đúng thế. Nhưng khi người ta ngang nhiên ăn quỵt thì chúng mình cũng chẳng nhận ra nổi nhỉ. Vì bận việc quá nên đã để lọt mất.」
一皿の単価が安く食事できるからだろうか、回転寿司に怪しい客なんてつきものだ。ホームレスのようなボロボロの身なりの客だったり、髭だらけで体から異臭を放つ大男だったり、いちいち外見で警戒していたらフロアの仕事は回らなくなる。さっきの老人も食事中にキョロキョロしている姿が目に留まったが、まさか食い逃げをするとは予想が付かなかった。
Chẳng biết có phải vì giá của mỗi đĩa sushi khá rẻ hay không mà những vị khách kỳ lạ thường xuyên xuất hiện tại tiệm sushi băng chuyền. Từ những người ăn mặc rách rưới như người vô gia cư, đến những gã đàn ông lực lưỡng râu ria xồm xoàm toả ra mùi hôi hám…… nếu cứ để ý vẻ bề ngoài để cảnh giác thì công việc ngoài sảnh sẽ đình trệ mất. Lúc nãy tôi cũng thoáng thấy cụ ông đó cứ nhìn quanh quất khi đang ăn, nhưng quả thật không ngờ ông ấy lại đi ăn quỵt.
僕が言い訳すると、木澤くんが楽しそうに笑った。
Khi tôi đang bào chữa cho sự sơ suất của mình, Kizawa lại cười khoái chí.
「気にすんなよ。どうせ、俺たちは現行犯でも注意くらいしか出来ないからな」
「Đừng để tâm làm gì. Dù sao thì kể cả có bắt quả tang tại trận, bọn mình cũng chỉ có thể nhắc nhở thôi mà.」
「そうなの!?木澤くんなら、俺らで犯人をボコろうぜとか言い出すと思っていたんだけど」
「Thật á!? Tôi cứ tưởng Kizawa sẽ đòi "xử đẹp" tên tội phạm đó chứ.」
「ふふっ、今回ばかりは木澤くんが正しいね」
「Hì hì, lần này thì Kizawa nói đúng đấy.」
後ろを振り向くと、片桐さんと店長が立っていた。
Quay lại phía sau, tôi thấy chị Katagiri và quản lý đang đứng đó.
「もし食い逃げを見かけても、絶対に犯人を捕まえたり、追いかけようとしたらダメなんですよ。犯人がお店の中から確実に出たことを確認して、ここで初めて警備に連絡することができます」
「Dù có nhìn thấy khách ăn quỵt, các em cũng tuyệt đối không được bắt giữ hay đuổi theo họ đâu nhé. Chỉ khi xác nhận chắc chắn là khách đã ra khỏi cửa tiệm, chúng ta mới có thể liên lạc cho bên bảo vệ.」
「今回はこのモール内の常習犯だったから、一発で警察を呼んだけどね。もし現行犯で捕まえようとしたら、僕らが警備の人に怒られるから。絶対にアルバイトの子は危ない真似をしないように。特に木澤くんは要注意ね」
「Lần này vì là đối tượng thường xuyên gây án trong trung tâm thương mại nên anh gọi cảnh sát ngay. Nhưng nếu các em cố bắt giữ khi họ còn ở trong tiệm, chính chúng ta sẽ bị bên bảo vệ mắng đấy. Tuyệt đối đừng làm gì nguy hiểm nhé, đặc biệt là Kizawa đấy.」
「店長、ひどいっすよ!」
「Quản lý, anh quá đáng thật sự!」
あまり納得できずに曖昧な微笑を浮かべる。そんな自分に戸惑っていた。人間、綺麗事だけで生きていける訳じゃない。
それでも見て見ぬふりを一度でも許容してしまったら、僕なりの見過ごしていい線引きの許容範囲が汚されていくような気がした。
Tôi nở một nụ cười mơ hồ vì không thực sự đồng tình. Tôi thấy bối rối với chính mình. Con người không thể chỉ sống bằng những lời lẽ tốt đẹp.
Nhưng tôi cảm thấy nếu chấp nhận việc "nhắm mắt làm ngơ" dù chỉ một lần, cái ranh giới về những điều có thể bỏ qua trong tôi sẽ bị vấy bẩn.
「もちろん、未然に犯罪を防ぐことが大切だから。フロアでは入店時と退店時の明るい挨拶を意識してね。ここの皆は元気な声を出せているから、これからもよろしくね!」
「Tất nhiên, việc ngăn chặn tội phạm từ trước mới là quan trọng. Hãy chú ý chào hỏi thật tươi tắn khi khách vào và ra nhé. Mọi người ở đây đều đang làm rất tốt việc đó, nên từ giờ cũng nhờ các em nhé!」
「「「はいっ!」」」
「「「Vâng ạ!」」」
その後は何の面白味もない仕事の風景が流れた。
23時過ぎに事務所を出て、二人の同僚に手を振る。
Sau đó là những cảnh tượng làm việc bình thường chẳng có gì thú vị.
Hơn 23 giờ, tôi rời khỏi văn phòng và vẫy tay chào hai đồng nghiệp.
「またね、お疲れ様」
「Hẹn gặp lại nhé, vất vả cho mọi người rồi.」
「お疲れー」
「Vất vả rồi nhé.」
帰宅の途中、誰も見ていない横断歩道の赤信号。それが青色に変わるまで、静かに夜空の星を眺めていた。
Trên đường về nhà, đứng trước vạch kẻ đường vắng lặng không một bóng người, tôi lặng lẽ ngắm nhìn những ngôi sao trên bầu trời đêm cho đến khi đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh.
とぼとぼと暗い夜道を歩く。やっと玄関のドアを開けても、外の世界と同じ暗闇が部屋の中にまで継続していること。自分の家に着いたはずなのに、まだ帰り道が終わっていないような感覚。そっと手探りで照明のスイッチを探すことの虚しさ。こういう時に孤独を実感する。
Tôi lững thững bước đi trên con đường đêm tối tăm. Khi mở cửa phòng, sự tĩnh mịch và bóng tối của thế giới bên ngoài như vẫn tiếp diễn ngay trong căn phòng này. Dù đã về đến nhà, nhưng tôi vẫn có cảm giác như đoạn đường về chưa thực sự kết thúc. Cái cảm giác trống trải khi phải quờ quạng tìm công tắc đèn trong bóng tối. Chính những lúc như thế, tôi cảm nhận rõ rệt sự cô đơn.
一人暮らしをするにあたって、自分で自分に課した規則がある。それは"ちゃんとする"という生き方の指針。
Khi bắt đầu sống một mình, tôi đã đặt ra cho bản thân một nguyên tắc. Đó là kim chỉ nam sống "phải chỉn chu".
それは夜道の信号を守ったり、家を出る前に照明を消したり、とても些細な日常の積み重ねで。その習慣が無意識にでも崩れたなら、それは僕が疲弊している証拠で。
ちゃんとしない自分に気付けたら、何が何でも絶対に休憩の時間を最優先で作る。そうやって自分の浮き沈みと向き合ってきた。
Nó là việc tuân thủ đèn tín hiệu trên đường đêm, là tắt đèn trước khi ra khỏi nhà – những sự tích lũy của những thói quen thường nhật nhỏ nhặt nhất. Nếu những thói quen đó vô thức bị phá vỡ, đó là minh chứng cho việc tôi đang kiệt sức.
Khi nhận ra mình không còn "chỉn chu" nữa, tôi sẽ bằng mọi giá tạo ra thời gian để nghỉ ngơi. Đó là cách tôi đối diện với những thăng trầm của bản thân.
それが僕の曲げたくない信念であり、心の柔らかな急所でもある。この生き方を誰かに誇ることもないし、誰かの配慮を求めるつもりもない。
Đó là đức tin mà tôi không muốn từ bỏ, nhưng cũng là "tử huyệt" mềm yếu trong lòng tôi. Tôi không định khoe khoang điều đó với ai, cũng chẳng mong chờ sự cảm thông từ bất kỳ người nào.
それでも今日のように、犯罪に間近で触れて、人の善性を信じたくなる時は、一人で"ちゃんとする"ことの無力さを実感する。その孤独が寂しくて、誰かとの繋がりを求めてしまう。僕は"ちゃんとしてもいい"のだと、誰かに自分の進む道を照らして欲しくなる。
Thế nhưng, vào những ngày như hôm nay, khi chứng kiến tội phạm ở ngay trước mắt và khao khát muốn tin vào bản tính thiện lương của con người, tôi mới nhận ra sự bất lực của việc cứ đơn độc "chỉn chu" một mình. Sự cô đơn ấy thật buồn, nó khiến tôi khao khát được kết nối với ai đó. Tôi muốn có ai đó soi sáng con đường tôi đi, để khẳng định rằng tôi "cứ tiếp tục sống chỉn chu như vậy cũng không sao".
「お疲れ様、何か食べた?」
「Vất vả rồi, em đã ăn gì chưa?」
だから、ウーさんからのメッセージは眩い光だった。
Vì thế, dòng tin nhắn từ chị Ước giống như một luồng sáng rực rỡ.
「ゼリーだけ」
「Tôi mới ăn thạch thôi.」
あえて簡潔な返信で済ませる。フロアで起きた食い逃げ事件の詳細を話して、ウーさんの興味を惹いてみたい気持ちに駆られたが、やっぱり話さないことにした。僕が彼女と話したいのは気軽な話だ。下世話なゴシップで無理矢理に気を惹かせるのは僕の美学に反する。
Tôi cố ý trả lời thật ngắn gọn. Dù trong lòng rất muốn kể chi tiết vụ ăn quỵt ngoài sảnh để thu hút sự chú ý của chị, nhưng cuối cùng tôi đã chọn không nói. Tôi muốn những câu chuyện giữa tôi và chị phải là những chuyện nhẹ nhàng, vui vẻ. Dùng những chuyện thị phi thấp kém để cố tình gây sự chú ý là đi ngược lại tính thẩm mỹ của tôi.
「そうか。ねぇ、あなたの誕生日いつ?」
「Vậy à. Nè, sinh nhật em ngày nào?」
「3月15日」
「Ngày 15 tháng 3.」
「そうか、春だ。いい天気ww」
「Vậy là mùa xuân rồi. Thời tiết tốt nhỉ ww」
僕が塩対応気味に返信したにも関わらず、彼女は無邪気な言葉を綴ってくれた。いい天気になったのは僕の心模様の方だ。大学生の時の成功体験に目が眩んで、素っ気ない文面で実際に会った時のギャップを出そうとした。
Dù tôi trả lời có phần hơi lạnh lùng, chị vẫn viết cho tôi những dòng chữ thật hồn nhiên. Người có "thời tiết tốt" lên lúc này chính là tâm trạng của tôi. Tôi đã suýt bị mê muội bởi những "trải nghiệm thành công" thời đại học, định dùng những dòng tin nhắn cộc lốc để tạo ra sự khác biệt khi gặp mặt thực tế.
彼女が日本語に触れる機会に、僕は自分勝手な欲を出してしまったのだ。タタタっと柔らかな文面を組み立てる。
決して忘れてはいけない。僕にとっては簡単なフリック操作だとしても、ウーさんにとっては異国語での慣れない入力なのだ。
Tôi đã để sự ích kỷ của bản thân chen vào cơ hội được tiếp xúc với tiếng Nhật của chị. Đôi tay tôi nhanh chóng soạn lại một dòng tin nhắn mềm mại hơn.
Tuyệt đối không được quên. Dù với tôi đó chỉ là những thao tác lướt phím đơn giản, nhưng với chị Ước, đó là việc nhập liệu bằng một ngôn ngữ ngoại quốc.
「そう、桜の季節なんだよ。いいでしょww」
「Đúng rồi, đó là mùa hoa anh đào đấy. Tuyệt lắm đúng không ww」
危うく初心を忘れるところだった。
あの日の半分に割れたバナナに心を救われたのだ。
もう、バカな真似はしない。バナナだけに。
Suýt chút nữa là tôi quên mất tâm niệm ban đầu của mình.
Trái tim tôi đã được cứu rỗi nhờ nửa quả chuối ngày hôm ấy.
Sẽ không có chuyện làm trò ngớ ngẩn nữa đâu. Chỉ vì "quả chuối" thôi đấy.
「ウーさん、今日はどこに遊びに行ったの?」
「Chị Ước ơi, hôm nay chị đi chơi ở đâu thế?」
僕は追加のメッセージを送った。自分も彼女の話に興味があるのだと伝えたかった。SNSの駆け引きなど知るか。22歳の大人が素直になって何が悪い。
Tôi gửi thêm một tin nhắn nữa. Tôi muốn cho chị thấy rằng tôi thực sự quan tâm đến những chuyện của chị. Mấy cái chiêu trò đấu trí trên mạng xã hội ư? Mặc kệ nó đi. Một người đàn ông 22 tuổi sống thật với lòng mình thì có gì là sai chứ.
「家で鍋食べたあと、カラオケ行った。日本語の歌は歌えないから、YouTubeを繋いでベトナムの歌を流した。皆が盛り上がっていたよ」
「Sau khi ăn lẩu ở nhà thì bọn chị đi hát karaoke. Vì không hát được nhạc Nhật nên bọn chị kết nối YouTube để bật nhạc Việt Nam. Mọi người đều quẩy nhiệt tình lắm.」
「豪華だ、素敵なパーティーだね!」
「Xịn quá, đúng là một bữa tiệc tuyệt vời nhỉ!」
「でも疲れたww」
「Nhưng mà mệt lắm ww」
「そういえば、日本にいる友達なんだね」
「Mà này, đó là những người bạn của chị đang ở Nhật nhỉ.」
誕生日を祝う距離感の友達なのだから、きっとベトナム人なのだろう。その友達が日本に住んでいるということへの確認のつもりで送ったメッセージだった。
Vì là bạn bè thân thiết đến mức tổ chức sinh nhật cho nhau, nên tôi đoán chắc họ là người Việt Nam. Tôi gửi tin nhắn đó như một cách xác nhận rằng những người bạn đó cũng đang sinh sống tại Nhật.
「いるけどあまり親しくない」
「Có bạn nhưng không thân lắm.」
僕は首を傾げた。よく分からない。
Tôi nghiêng đầu thắc mắc. Thật khó hiểu.
「そうか、距離感が難しいんだね。あまり男同士だと豪華に祝ったりはしないかも」
「Vậy à, đúng là khoảng cách bạn bè cũng khó định nghĩa nhỉ. Nếu là con trai với nhau thì chắc cũng ít khi tổ chức linh đình thế này.」
「そうね。女性3人、男性3人、悪くないと思う」
「Đúng thế. 3 nữ, 3 nam, chị nghĩ vậy cũng không tệ.」
ウーさんが伝えたかったのは、単なる人数の構成だったのか、それとも別のニュアンスがあったのか。
この時の僕は深夜の仕事帰りということもあり、文面の違和感に気付いていなかった。ウーさんも翻訳の限界にぶつかったのだろう。微妙に話が噛み合わないまま、この夜の会話は幕を閉じた。
Chị Ước muốn truyền đạt đơn thuần là về cơ cấu số lượng người, hay còn ẩn chứa một sắc thái nào khác?
Lúc đó, vì cũng là lúc vừa đi làm đêm về nên tôi đã không nhận ra sự khác lạ trong câu chữ. Có lẽ chính chị Ước cũng đang vấp phải giới hạn của việc thông dịch. Cuộc trò chuyện đêm đó cứ thế khép lại khi hai bên vẫn chưa thực sự hiểu ý nhau.
翌朝になってトーク画面を見返しても、この会話の終着点は謎のままだった。ちゃんと素直になろうと心を入れ替えた手前、少し肩透かしな気分になったが、これも外国人と話す醍醐味と言えるだろう。
Đến sáng hôm sau, khi xem lại màn hình tin nhắn, tôi vẫn không thể hiểu nổi đích đến của cuộc đối thoại này là gì. Vừa mới hạ quyết tâm sẽ sống thật lòng mình mà đã bị hẫng một vố thế này làm tôi thấy hơi hụt hẫng, nhưng có lẽ đây chính là cái thú khi trò chuyện với người nước ngoài.
しばらく悩んだが、このまま既読スルーしておこうと決めた。どうしても話したい内容が浮かんだら、その時に話せばいい。それが画面越しになるか、直接会って話すかは分からないけど。ウーさんの歩幅に合わせたい。
Sau một hồi đắn đo, tôi quyết định cứ để "đã xem" như vậy. Khi nào thực sự có chuyện muốn nói thì lúc đó hãy nhắn. Chẳng biết lúc đó sẽ là qua màn hình hay là nói trực tiếp nữa, nhưng tôi muốn bước đi cùng nhịp với chị Ước.




