接客のいやなこと
そして、活気が溢れるバイトの時間が訪れた。
Và rồi, khoảng thời gian làm thêm đầy náo nhiệt đã đến.
「「「いらっしゃいませ!」」」
「「「Kính chào quý khách!」」」
「ほら、5番テーブルやりますよ!」
「Này, lo bàn số 5 đi!」
「分かった!」
「Rõ!」
土曜日のフロアは喧騒に包まれていた。20時になって本日のピークは過ぎたと思いきや、急に家族連れの来店が増えたのだ。そして低学年の子供が食事をすると何が起こるか。緑茶の粉末がぶちまけられたり、シャリのご飯粒をボロボロと床にこぼしたり、机の上がポテトやラーメンなどサイドメニューの食べ残しだらけになったり。正直に言うと、子供連れの客が帰った後のテーブル清掃は地獄絵図と化していた。全く、親の顔が見てみたいものだ。
Sảnh vào tối thứ Bảy cực kỳ bận rộn. Cứ ngỡ là 20 giờ thì giờ cao điểm đã qua, ai dè lượng khách đi theo gia đình đột ngột tăng vọt. Và bạn biết điều gì sẽ xảy ra khi trẻ nhỏ ăn uống rồi đấy? Bột trà xanh bị vương vãi khắp nơi, những hạt cơm của sushi rơi vãi lố nhố dưới sàn, còn trên mặt bàn thì đầy những món ăn thừa như khoai tây chiên hay mì Ramen. Thành thật mà nói, việc dọn dẹp bàn sau khi các gia đình có trẻ nhỏ rời đi chẳng khác nào một "thảm cảnh". Đúng là chẳng biết bố mẹ chúng dạy dỗ kiểu gì nữa.
「新しいダスター作ってきて!」
「Làm ngay cái khăn lau (duster) mới đi!」
「了解。わさびとか備品の補充もする?」
「Rõ. Có cần bổ sung luôn mù tạt hay mấy đồ dùng khác không?」
「いい、今じゃない!」
「Không, không phải lúc này!」
いくら仕事に慣れたとはいえ、僕の作業効率が段違いに向上したとは言えない。でも僕の研修期間が終わったことで、同僚からの指示出しも遠慮が無くなってきた。ピーク時ならではの早口で怒鳴るようなコミュニケーション。特に険悪という訳でもなく、この場ではそれが最適なコミュニケーションの答えだという話で。この殺気立っているような雰囲気も含めて、フロアの仕事はやり甲斐があるものだった。
Dẫu đã quen việc nhưng không thể nói rằng hiệu suất làm việc của tôi đã tăng vọt lên một tầm cao mới. Tuy nhiên, vì thời gian đào tạo của tôi đã kết thúc, những lời chỉ đạo từ đồng nghiệp cũng không còn giữ kẽ nữa. Đó là kiểu giao tiếp bằng giọng quát tháo, nhanh như súng liên thanh đặc trưng của giờ cao điểm. Không hẳn là vì quan hệ giữa chúng tôi tồi tệ, mà đơn giản đó là phương thức giao tiếp tối ưu nhất trong hoàn cảnh này. Bao gồm cả bầu không khí hừng hực sát khí đó, công việc ở sảnh thực sự mang lại cảm giác rất đáng giá.
「片桐さん、ウェイティング(空席待ちの客)はどう?」
「Em Katagiri, tình hình khách chờ (waiting) thế nào rồi?」
ダスターという水拭きでテーブルを磨く。卓上には、こぼれてから時間が経ってシミとなった醤油や、粘り気のある納豆の残骸がこびりついている。僕は全力でゴシゴシと手を動かした。
Tôi dùng chiếc khăn lau duster chà mạnh lên mặt bàn. Trên mặt bàn là những vết nước tương đã khô lại thành vết ố, và cả những tàn tích của món đậu nành lên men Natto dính dớp. Tôi dồn hết sức bình sinh, kỳ cọ thật mạnh tay.
「あと予約は3組だったんで。ここの片付けが終わったら休憩に行ってください!」
「Còn 3 nhóm khách đặt chỗ nữa thôi ạ. Sau khi dọn xong chỗ này thì anh đi nghỉ đi nhé!」
「了解です」
「Rõ rồi.」
レジ横の端末で残りの予約数を確認してきた片桐さんがそう言った。この混雑も終わりが近いようだ。
Em Katagiri, người vừa kiểm tra số lượng khách đặt còn lại trên máy tính cạnh quầy thu ngân, đã nói như vậy. Có vẻ như đợt hỗn loạn này sắp kết thúc rồi.
「あっ」
「Á.」
その時、ピコンっとフロアの電光掲示板が点滅した。そこのボードに表示された数字は23。これは23番テーブルに座っている客が店員を呼び出しているという合図。
Đúng lúc đó, bảng điện tử ở sảnh nhấp nháy một tiếng "píp". Con số hiển thị trên bảng là 23. Đây là tín hiệu cho biết khách ngồi ở bàn số 23 đang gọi nhân viên.
「僕が行ってくるね」
「Để tôi đi cho.」
「ありがとうございます」
「Cảm ơn anh nhé.」
こういった呼び出しには店員の誰かが対応しなくてはいけない。ピークに終わりが見えてきたとはいえ、まだ他の同僚も片付けや補充などの仕事で手一杯だ。
Với những lời gọi thế này, bắt buộc phải có một nhân viên nào đó đứng ra ứng đối. Dù giờ cao điểm đã thấy hồi kết, nhưng các đồng nghiệp khác vẫn đang bù đầu với việc dọn dẹp và bổ sung đồ dùng.
この後に休憩を控えている僕が対応するのがベストだと考えた。片桐さんにダスターを預けて、23番テーブルへと歩みを進める。そこでは仏頂面の年配の客が待ち構えていた。これは貧乏くじを引いたかも、と内心で溜息を吐く。
Tôi nghĩ việc mình – người sắp được nghỉ ngơi – đứng ra giải quyết là hợp lý nhất. Tôi giao lại chiếc khăn duster cho em Katagiri rồi bước về phía bàn số 23. Ở đó, một vị khách cao tuổi với khuôn mặt hằm hằm đang chờ sẵn. Tôi thầm thở dài trong lòng, nghĩ bụng chắc mình lại vớ phải "lá thăm đen" rồi.
「おい、この店はどうなっているんだっ!」
「Này, cái quán này làm ăn kiểu gì thế hả!」
「大変申し訳ありません、どうなさいましたか?」
「Rất xin lỗi quý khách, đã có chuyện gì xảy ra ạ?」
開口一番に強い口調で責められるが、いちいちヒートアップしていても始まらない。グッと堪えてマニュアル通りの謝罪を口にする。僕は大人なのでポーカーフェイスは得意なのだ。大学の講義中のプレゼンテーションで、教授に資料の不備を詰められた時の方が辛かった。こちら側に非があると自覚している時は淡々と指摘される方が怖い。
Vừa mới mở lời đã bị mắng nhiếc bằng giọng điệu gay gắt, nhưng nếu tôi cũng nổi nóng theo thì chẳng giải quyết được gì. Tôi cố kìm nén, thốt ra lời xin lỗi đúng như quy trình (manual). Vì là người lớn nên tôi rất giỏi giữ khuôn mặt lạnh lùng (poker face). Hồi còn đại học, lúc bị giáo sư dồn vào đường cùng vì tài liệu thuyết trình có sai sót còn đáng sợ hơn thế này nhiều. Khi tự nhận thức được lỗi sai thuộc về phía mình, bị chỉ trích một cách thản nhiên mới là điều thực sự đáng sợ.
だから、目の前の老人は怖くない。
ただ、うるさい。
Vì thế, ông lão trước mặt này chẳng có gì đáng sợ cả.
Chỉ là, quá ồn ào mà thôi.
「どうなさいましたじゃない。こっちは生えびを頼んだのに、ここに届いたのは甘えびだぞっ!」
「Cái gì mà chuyện gì xảy ra chứ! Tao gọi tôm tươi (Nama-ebi) mà cái được đưa đến đây lại là tôm ngọt (Ama-ebi) là sao hả!」
「大変申し訳ありません、責任者に確認しますので、そちらのお皿を下げさせていただいてもよろしいでしょうか」
「Thành thật xin lỗi quý khách, cháu sẽ xác nhận lại với người quản lý. Cháu xin phép được thu hồi đĩa này có được không ạ?」
「ちっ、勝手にしろっ!」
「Chậc, muốn làm gì thì làm!」
いちいち語気の強いことで。軽く頭を下げて、レーンの上に取り残されたままの甘えびの皿を回収した。こういう厨房の流し間違いは多々あることだが、その対応は全てフロアが担うことになる。接客業の嫌な部分だ。
Thật là, câu nào thốt ra cũng đầy hằn học. Tôi khẽ cúi đầu, thu hồi đĩa tôm ngọt vẫn còn nằm trơ trọi trên băng chuyền. Những sai sót kiểu gửi nhầm món của bếp như thế này xảy ra như cơm bữa, nhưng mọi việc đối ứng đều do nhân viên sảnh gánh vác. Đúng là một khía cạnh đáng ghét của ngành dịch vụ.
「少々お待ちください」
「Quý khách vui lòng chờ một chút ạ.」
「早くせんかっ!」
「Làm nhanh lên đấy!」
「……失礼します」
「……Cháu xin phép.」
衛生上や業務効率の理由があるのは理解していても、他人の失敗で頭を下げるのは辛いものだ。マスクの下で唇を引き結びながら、僕は足早に厨房へと向かった。
Dù hiểu rằng có những lý do về vệ sinh hay hiệu suất công việc, nhưng việc phải cúi đầu vì sai lầm của người khác thật sự rất mệt mỏi. Mím chặt môi dưới lớp khẩu trang, tôi rảo bước nhanh về phía nhà bếp.
「なんで、あんなに気が立ってるんだろうな」
「Tại sao lão ta lại cáu bẳn đến mức đó cơ chứ.」
給料が出るなら泥水だってすするが、好き好んで泥水を浴びたい訳ではない。ぬるま湯に浸かるような楽な仕事は転がっていないだろうか。しがないフリーターには分不相応な望みか。
Nếu có lương thì nước bùn tôi cũng sẵn sàng uống, nhưng không có nghĩa là tôi thích thú gì việc bị dội nước bùn vào người. Chẳng lẽ không có công việc nào an nhàn như ngâm mình trong nước ấm hay sao? Có lẽ đó là một mong ước không tương xứng với một kẻ làm thuê tầm thường như tôi.
「ティエンさん、流し間違いだよー」
「Em Tiên ơi, bị gửi nhầm món rồi này.」
こういった商品の流し間違いは店長か、店長の下で全体に指示を出す統括マスターが対応することになる。フロアの仕事は責任者に状況を報告するところまでだ。SVに叱られたことを思い出す。以前のクレームはここの対応が不十分だった。二度と同じミスはするものか。
Những lỗi gửi nhầm món như thế này thường sẽ do Quản lý cửa hàng hoặc Tổng quản (General Master) – người dưới quyền quản lý trực tiếp đưa ra chỉ thị – xử lý. Công việc của nhân viên sảnh chỉ dừng lại ở mức báo cáo tình hình cho người có trách nhiệm. Tôi chợt nhớ lại lần bị SV (Supervisor) khiển trách. Những phàn nàn trước đây đều do việc xử lý ở khâu này không thỏa đáng. Tôi tự nhủ sẽ không bao giờ lặp lại sai lầm đó một lần nào nữa.
今のタイミングだと中島店長が不在だったため、ベトナム人で統括マスターのティエンさんに甘えびの皿を渡した。彼女にも研修の時にはお世話になった。これまで業務連絡でしか話したことはないが、ティエンさんは優しい女の子という印象だ。
Đúng lúc này quản lý Nakajima không có mặt, nên tôi giao đĩa tôm ngọt cho em Tiên – một cô gái Việt Nam đang giữ chức Tổng quản. Em ấy cũng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian tôi còn thực tập. Dù trước đây chúng tôi chỉ nói chuyện qua công việc, nhưng em Tiên luôn để lại trong tôi ấn tượng là một cô gái hiền lành.
「はい、生えびが届かなかったんだって」
「Vâng, khách bảo là tôm tươi không được gửi đến.」
「うーん……分かった。Làm cho tôi dĩa namaebi!」
「Ừm... em biết rồi. Làm cho tôi dĩa namaebi!」
「「Vâng」」
「「Vâng」」
ティエンさんの指示はベトナム語だったから、後半は何を言っているのか分からなかった。とりあえずフロアとしての僕の仕事は終了だ。さっさと休憩に行ってしまおう。
Chỉ thị của em Tiên là tiếng Việt nên tôi không hiểu chị nói gì. Tạm thời công việc của một nhân viên sảnh như tôi đã xong. Phải đi nghỉ nhanh thôi.
「ティエンさん。僕は休憩に行くね」
「Em Tiên ơi, anh đi nghỉ đây ạ.」
「……OKね……ワタシも休憩いきたいよ……」
「……OK anh……Em cũng muốn đi nghỉ quá……」
「あはは……」
「Aha……」
ティエンさんの疲労の色は濃い。そんな顔をされてしまっては厨房のミスであろうと、統括マスターの彼女を責める気にもなれない。かといって手助けできる事もない。僕は曖昧に微笑みながら、ふいっと厨房に背を向けた。さて休憩中に何を食べようか。どうにもエビは食べたくない気分だ。
Gương mặt em Tiên lộ rõ vẻ mệt mỏi. Nhìn vẻ mặt đó, dù là lỗi của bếp đi chăng nữa, tôi cũng chẳng nỡ trách móc người giữ chức Tổng quản như em. Nhưng tôi cũng chẳng giúp gì được. Tôi mỉm cười gượng gạo rồi quay lưng bước ra khỏi bếp. Nên ăn gì vào giờ nghỉ đây nhỉ? Tâm trạng tôi lúc này không muốn ăn tôm chút nào.
「あっ、おはよう!」
「A, chào em!」
「……ふふっ、ウーさんだ。おはよう!」
「……Hì hì, là chị Ước. Chào chị ạ!」
太陽の眩しさはマスク越しでも隠しきれない。
Sự rạng rỡ như ánh mặt trời của chị ấy dù có qua lớp khẩu trang cũng không thể che giấu được.
僕の前に笑顔のウーさんが立っていた。その一瞬で泥水が視界から吹き飛び、世界が鮮明に見えてくる。無意識のうちに僕の口角は上がっていた。
Chị Ước đang đứng ngay trước mặt tôi với một nụ cười. Chỉ trong khoảnh khắc đó, mọi "nước bùn" trong tầm mắt đều bị thổi bay, thế giới bỗng trở nên rõ nét lạ thường. Một cách vô thức, khóe miệng tôi nhếch lên.
「今日は忙しいね」
「Hôm nay bận thật đấy chị nhỉ.」
「ホントね……フロアも忙しそうね?」
「Thật đấy……Ở ngoài sảnh cũng có vẻ vất vả lắm đúng không?」
「うん……疲れちゃったよ」
「Vâng……tôi mệt lử rồi.」
ほぼ同い年だからか、ウーさんの前では素直に弱音が出る。そして彼女は僕の弱さを馬鹿にしないのだ。まだ短い間柄だけど、それくらいは分かる。
Có lẽ vì gần bằng tuổi nhau nên trước mặt chị Ước, tôi có thể thành thật thốt ra những lời yếu lòng. Và chị ấy không hề chế giễu sự yếu đuối của tôi. Dù quen biết chưa lâu nhưng chừng đó thôi tôi cũng đủ hiểu.
「でも、これから休憩でしょ。いっぱい休んでね」
「Nhưng mà giờ em được nghỉ rồi đúng không. Nghỉ ngơi thật nhiều nhé.」
「ありがとう、ウーさんは?」
「Tôi cảm ơn chị. Còn chị thì sao?」
「私はまだね」
「Chị thì chưa đâu.」
ぎゅっと目を細めて首を横に振るウーさん。僕も彼女と同じように目を細めた。まるで陽だまりにいるかのように、ざわついていた心が落ち着いてくる。
Chị Ước khẽ nheo mắt lại và lắc đầu. Tôi cũng nheo mắt lại giống chị. Cảm giác như đang đứng dưới một vạt nắng ấm áp, trái tim vốn đang xôn xao bỗng chốc bình lặng đến lạ kỳ.
「じゃあ、バイバイ」
「Vậy tôi đi đây, tạm biệt chị.」
「いってらっしゃいね」
「Đi nghỉ vui vẻ nhé.」
この日、ウーさんとの会話はそれっきりだった。僕が休憩から戻ってくると、フロアには仕事が山積みだったからだ。
それはラストと呼ばれる閉店に向けての作業だ。
Ngày hôm đó, cuộc trò chuyện giữa tôi và chị Ước chỉ dừng lại ở đó. Bởi sau khi tôi kết thúc giờ nghỉ và quay lại sảnh, công việc đã chất cao như núi.
Đó là những công việc dọn dẹp để chuẩn bị đóng cửa mà chúng tôi thường gọi là "Last".
「テーブルから少なくなった醤油を回収してきますね」
「Để em thu hồi mấy bình nước tương sắp hết trên bàn nhé.」
「OKです、じゃあ僕は冷蔵庫に行きます」
「OK em, vậy để tôi ra tủ lạnh.」
冷蔵庫から、予備の醤油パックが大量に入った2kgの段ボール箱を持ち出す。ついでに大根ガリのパックも持ち出す。小厨房と冷蔵庫の往復は少ない方が効率的だ。
Tôi bê một thùng carton nặng 2kg đựng đầy các túi nước tương dự phòng ra khỏi tủ lạnh. Tiện thể, tôi cũng lấy luôn các túi gừng chua bào sợi. Việc hạn chế đi lại giữa bếp phụ và tủ lạnh sẽ giúp tăng hiệu suất làm việc.
テーブルから回収した醤油入れを水洗いする。トロッとした新しい醤油を容器に注いでいく。この工程を30本程は繰り返していく。独特の匂いが手に染みつく。
Tôi rửa sạch những bình nước tương vừa thu hồi từ bàn. Sau đó, rót đầy thứ nước tương sánh đặc mới vào bình. Tôi lặp lại quy trình này cho khoảng 30 chiếc bình. Mùi hương đặc trưng ấy cứ thế thấm vào đôi bàn tay.
「片桐さん。これで醤油の補充は終わりました……」
「Em Katagiri, tôi bổ sung xong nước tương rồi nhé……」
「ナイス、じゃあ次は湯呑みも拭かないとっ……」
「Hay quá, vậy tiếp theo chúng ta phải lau cốc trà nữa……」
「「……死んじゃう……」」
「「……Chắc chết mất thôi……」」
そう弱音を吐きながらも、僕たち全員の手が止まることはない。大型食洗機から取り出した湯呑みをピンク色した布巾で拭いていく。拭き終わった湯呑みは赤いお盆に乗せてフロアまで運んでいく。これも優に二百個は超える数の湯呑みを拭かなくてはいけない。言葉にすると気が遠くなりそうな数だが、意外とテンポよく進む作業なのだ。
Dẫu thốt ra những lời yếu lòng như vậy, nhưng tay của tất cả chúng tôi vẫn không hề dừng lại. Tôi dùng chiếc khăn màu hồng lau khô những chiếc cốc vừa được lấy ra từ máy rửa bát công nghiệp. Những chiếc cốc đã lau xong được xếp lên khay màu đỏ và chuyển ra sảnh. Số lượng cốc cần lau cũng dễ dàng vượt quá con số 200. Nghe qua thì có vẻ là một con số khiến người ta nản lòng, nhưng thực tế đây là một công việc có nhịp độ khá trôi chảy.
「丸林さん、今日は疲れましたね」
「Chị Marubayashi ơi, hôm nay mệt thật đấy nhỉ.」
「そうだねぇ……」
「Ừ, đúng thế thật……」
今夜のラスト作業に当たるのは3人だった。すっかり顔馴染みとなった大学生の片桐さん。とば寿司と美容師の職を掛け持ちしている25歳の丸林さん。そしてフリーターの僕だ。21時半を超えると、高校生のバイトは帰宅しなくてはならない。ここからは大人の時間だ。
Nhóm trực ca "Last" tối nay có 3 người. Em Katagiri — cậu sinh viên đại học đã trở nên thân thiết; chị Marubayashi 25 tuổi — người đang làm song song cả ở Toba Sushi lẫn thợ cắt tóc; và tôi — một kẻ làm tự do. Sau 21 giờ 30, những học sinh cấp ba làm thêm phải ra về. Từ đây trở đi là khoảng thời gian của người lớn.
「あっ、最後のお客さんが帰りましたね」
「A, nhóm khách cuối cùng về rồi kìa.」
「これで"ノーゲ"か、長かったね」
「Vậy là 'No-ge' rồi nhỉ. Một ngày dài thật đấy.」
"ノーゲ"。多分、全ての客が退店したという意味でノーゲストの省略だと思う。深くは考えたことないが、日本人とベトナム人の両方に伝わる魔法の言葉だ。
"No-ge". Có lẽ đây là cách nói tắt của "No Guest", nghĩa là tất cả khách đã rời quán. Tôi chưa bao giờ suy nghĩ sâu xa về nó, nhưng đó là một "từ khóa ma thuật" mà cả người Nhật lẫn người Việt đều hiểu.
「厨房に伝えてきますね」
「Để tôi báo cho bên bếp nhé.」
「よろしく!」
「Nhờ em đấy!」
丸林さんの声に活気が戻る。
時刻は22時50分、閉店時刻の10分前だ。
Chị Marubayashi như được tiếp thêm sinh lực.
Lúc này là 22 giờ 50 phút, chỉ còn 10 phút nữa là đến giờ đóng cửa.
あまりにも忙しくて、厨房の様子を気にかける余裕はなかった。客席の状況を厨房に伝達するのもフロアの重要な仕事の一つだ。情報伝達が遅れると、厨房のラスト作業にも影響を及ぼしてしまう。
Vì quá bận rộn nên tôi chẳng còn tâm trí đâu mà để ý đến tình hình phía trong bếp. Việc truyền đạt tình trạng khách khứa cho bên bếp cũng là một nhiệm vụ quan trọng của nhân viên sảnh. Nếu thông tin bị chậm trễ, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dọn dẹp cuối ca của họ.
僕が厨房を覗き込むと、厨房の従業員も忙しなく動いていた。この時間帯になると、すっかりベトナム人しか視界に入らない。首を振って話しかけやすい相手を探す。
Khi tôi nhìn vào trong bếp, các nhân viên ở đó cũng đang làm việc hối hả. Vào khung giờ này, trong tầm mắt tôi hoàn toàn chỉ còn là những người Việt Nam. Tôi đảo mắt tìm một người nào đó dễ bắt chuyện.
僕が最も話しやすい相手、ウーさんは厨房の奥でお皿の回収をしていた。これは流石に距離が遠すぎる。
Người mà tôi thấy thoải mái nhất khi nói chuyện cùng là chị Ước thì lại đang thu gom bát đĩa tận sâu phía trong. Khoảng cách đó thực sự là quá xa.
近くにいたティエンさんに指で輪を作ってゼロという数を強調した。ウーさんの次に話しやすいベトナム人だ。
Tôi đành ra hiệu cho em Tiên đang ở gần đó, dùng ngón tay tạo thành một vòng tròn số không để nhấn mạnh.
「ティエンさん、ノーゲだよ」
「Em Tiên ơi, No-ge rồi nhé.」
「っ、OK!」
「Á, OK anh!」
ティエンさんの顔にも活気が戻った。
Gương mặt em Tiên cũng rạng rỡ trở lại.
ついに今夜のバイトも終盤だ。最後の片付け作業を終えて、テーブルから回収した備品の補充をする。さっと簡潔にトイレが汚れていないかチェックして、慣れた手付きでウォーターサーバーの電源を切る。
Cuối cùng thì ca làm đêm nay cũng đi đến hồi kết. Sau khi hoàn tất việc dọn dẹp cuối cùng, tôi bổ sung các vật dụng đã thu hồi từ bàn. Tôi nhanh chóng kiểm tra xem nhà vệ sinh có bẩn không rồi ngắt nguồn máy lọc nước với những động tác thuần thục.
「じゃあ、お疲れ様でした」
「Vậy tôi xin phép, chúc mọi người nghỉ ngơi tốt ạ.」
「「お疲れ様」」
「「Nghỉ ngơi nhé.」」
女性陣二人に手を振って、事務所を出る。まだ厨房ではラスト作業が続いているようだった。フロアの方が接客面で精神的にキツい場面があるからだろうか。僕たちはフロアの作業が終わり次第、厨房の作業が終わるのを待たずに帰宅していいことになっている。
Tôi vẫy tay chào hai người phụ nữ rồi rời khỏi văn phòng. Có vẻ như việc dọn dẹp trong bếp vẫn còn tiếp diễn. Có lẽ vì nhân viên sảnh phải chịu áp lực tâm lý lớn hơn trong việc tiếp khách nên chúng tôi được phép ra về ngay khi xong việc mà không cần đợi bên bếp.
(ウーさんに一声かけても大丈夫かな?)
(Liệu mình có nên chào chị Ước một tiếng không nhỉ?)
でも、仕事の邪魔になるかもしれない。他のベトナム人に注目される中で、わざわざ話しかけにいくのもハードルが高い。僕は靴を履き替えながら逡巡してしまった。
Nhưng tôi sợ sẽ làm phiền công việc của chị. Hơn nữa, việc cố tình vào tận nơi bắt chuyện trước sự chú ý của những người Việt Nam khác cũng là một thử thách tâm lý lớn. Tôi vừa thay giày vừa đắn đo mãi.
(まぁ、LINE交換してるからな)
(Mà thôi, dù sao cũng đã trao đổi LINE rồi mà.)
そう思って、僕は帰宅した。
Nghĩ vậy, tôi quyết định ra về.
深夜12時09分。疲れた身体に熱いシャワーを浴びて、そろそろ寝ようと思いつつも寝台の上で目を開けていた。
その時、深夜の静寂にポンっとLINEの受信を知らせる軽快な音が響いた。このタイミングで届くメッセージということは。相手の顔を想像して、確かな期待で胸が弾んだ。そっと指先でスマホの画面をなぞる。
12 giờ 9 phút đêm. Sau khi tắm nước nóng để xoa dịu cơ thể mệt mỏi, tôi định bụng đi ngủ nhưng đôi mắt vẫn mở thao láo trên giường.
Đúng lúc đó, một tiếng "píp" vang lên báo hiệu tin nhắn LINE. Tin nhắn đến vào giờ này thì chỉ có thể là…… Tôi hình dung ra gương mặt của người đó, lồng ngực khẽ rạo rực với một sự kỳ vọng chắc chắn. Tôi nhẹ nhàng lướt ngón tay trên màn hình điện thoại.
「あ〜、疲れた。何か食べた?」
「A~ mệt quá. Em đã ăn gì chưa?」
(やっぱりウーさんだった……!)
(Quả nhiên là chị Ước……!)
仕事前のLINEは僕の返信を最後に会話が途切れていたとはいえ、正直に言うと不安だった。このままSNSの会話も終わってしまうかもしれないという疑念があった。
Dù cuộc trò chuyện trước giờ làm đã dừng lại ở tin nhắn của tôi, nhưng thú thật là tôi vẫn thấy bất an. Trong đầu tôi luôn thường trực nỗi nghi ngờ rằng có khi nào cuộc hội thoại trên mạng này cũng sẽ kết thúc luôn tại đây không.
ウーさんも仕事終わりで疲れているだろうに、そんな彼女が返信してくれたこと。
それに対する嬉しさが少しでも多く伝わるように。
僕は日本語で文字を打ち込んだ。
Chị Ước chắc hẳn cũng đang rất mệt sau ca làm, vậy mà chị ấy vẫn nhắn tin cho tôi.
Để niềm hạnh phúc này có thể truyền tải đến chị nhiều nhất có thể.
Tôi gõ những dòng chữ bằng tiếng Nhật.
「たくさん食べたよ!唐揚げとか!」
「Tôi ăn nhiều lắm ạ! Cả gà rán Karaage nữa!」
ただ、しばらく彼女の返信はなかった。ゆっくり待とうとは思っていたが、どうやら僕の眠気も限界だったようだ。すっと瞼がシャッターを下ろして閉店した。
Tuy nhiên, một lúc lâu sau vẫn không thấy chị hồi đáp. Tôi định sẽ kiên nhẫn chờ đợi, nhưng dường như cơn buồn ngủ đã chạm đến giới hạn. Đôi mắt tôi tự động sập xuống như cánh cửa cửa hàng lúc đóng cửa.
「へぇ、お腹いっぱい?」
「Hể, ăn no bụng rồi hả?」
翌朝、目を覚まして最初に確認したメッセージはこれだった。彼女の返信が届いていたのは深夜の1時だった。
Sáng hôm sau, tin nhắn đầu tiên tôi kiểm tra khi vừa tỉnh dậy là đây. Chị đã trả lời vào lúc 1 giờ sáng.
(もう少し起きていれば話せたのに!)
(Giá mà mình thức thêm chút nữa là có thể trò chuyện rồi!)
僕は悔しい気持ちを隠して、カーテンを開けた。寝ぼけ眼を擦りながら、大きく背伸びをする。
Tôi giấu đi sự hối tiếc đó rồi kéo rèm cửa ra. Vừa dụi đôi mắt ngái ngủ, tôi vừa vươn vai thật dài.
今日は午前11時からシフトが入っている。昨日のLINEを思い返す。ウーさんも朝の9時からシフトだったはず。
彼女と再会するなら、万全の調子でいたい。
Hôm nay tôi có ca trực từ 11 giờ sáng. Tôi nhớ lại dòng tin nhắn hôm qua, chị Ước chắc cũng bắt đầu ca làm từ 9 giờ sáng nay.
Tôi muốn gặp lại chị trong trạng thái hoàn hảo nhất.
「うん、いっぱい食べて眠くなった」
「Vâng ạ, tôi ăn nhiều quá nên buồn ngủ luôn.」
取り敢えず、可愛い子ぶったメッセージを送っておいた。これへの返信を楽しみに過ごすのも悪くない。
Tạm thời, tôi gửi đi một tin nhắn có chút "nũng nịu" đáng yêu. Cảm giác tận hưởng sự chờ đợi câu trả lời từ chị thế này cũng không tệ chút nào.




