ご飯の話をしよう
翌朝はスマホのアラームではなく、電線の上でチュンチュンと鳴く小鳥の声で目覚めた。寝ぼけ眼を擦りながら時間を確認すると、まだ早朝の6時だった。これで今月の起床時刻の最速記録は更新となる。千葉に引っ越してからは僕の生活スタイルは不規則になっていた。朝方から通勤する必要がないからでもあるし、夜遅くまでのラスト作業のシフトを入れているからでもある。僕は欠伸をしながら、9時ぴったりに設定しておいたアラームを切った。
Sáng hôm sau, tôi thức dậy không phải bởi tiếng chuông báo thức mà nhờ tiếng chim lích chích trên đường dây điện. Vừa dụi đôi mắt ngái ngủ, tôi vừa kiểm tra thời gian, mới chỉ 6 giờ sáng. Vậy là kỷ niệm chương cho "giờ thức dậy sớm nhất trong tháng" đã được phá vỡ. Kể từ khi chuyển đến Chiba, lối sống của tôi trở nên khá thất thường. Một phần vì không cần phải đi làm sớm, phần khác vì tôi thường đăng ký ca làm muộn đến tận đêm khuya. Tôi ngáp dài một tiếng rồi tắt báo thức vốn được đặt đúng 9 giờ.
(まだウーさんは寝ているかな。学生のライフスタイルなら起きているかも。僕も去年までは早起きだったな)
(Không biết giờ này chị Ước đã dậy chưa nhỉ? Với lối sống của sinh viên thì có lẽ là rồi đấy. Năm ngoái mình cũng từng dậy sớm như vậy mà.)
昨日のトークは僕の既読で終わっている。話を切り出すなら、こっちからだろう。それでも焦る必要はない。
Cuộc trò chuyện hôm qua đã dừng lại ở chữ "Đã xem" từ phía tôi. Nếu muốn bắt đầu lại, có lẽ tôi nên là người lên tiếng. Nhưng cũng chẳng việc gì phải vội cả.
「いったん朝食にするか」
「Tạm thời cứ ăn sáng cái đã.」
今日は17時から23時までバイトが入っている。夕食は休憩中に食べるとして、朝食と昼食は自炊する必要がありそうだ。ぱっと冷蔵庫の中を確認してみる。
Hôm nay tôi có ca làm từ 17 giờ đến 23 giờ. Bữa tối sẽ ăn vào lúc nghỉ giữa ca, nên có lẽ tôi cần tự nấu bữa sáng và bữa trưa. Tôi mở tủ lạnh ra kiểm tra nhanh.
(いつもより早い朝食だし、少しボリューミーにいこうかな)
(Bữa sáng sớm hơn mọi khi, nên tôi dự định sẽ làm món gì đó thật thịnh soạn.)
賞味期限が近いのはベーコン、それとスライスチーズが余っていた。それなら朝から満腹になるサンドウィッチを作ることにしよう。朝が忙しくなりがちだった大学生の頃に編み出したレシピだ。過去を懐かしむように冷蔵庫の扉をそっと閉める。ぱたんっと静かな音が響いた。
Thịt xông khói đã gần hết hạn, còn phô mai lát thì vẫn còn dư. Vậy thì bữa sáng nay quyết định sẽ làm món sandwich ăn cho thật no bụng. Đây là công thức tôi đã tự sáng tạo ra hồi đại học, những lúc sáng sớm bận rộn. Tôi khẽ đóng cửa tủ lạnh như đang hồi tưởng về quá khứ. Một tiếng "pạch" nhẹ nhàng vang lên.
用意するのは食パンを2枚。それとバター、ベーコン、スライスチーズだ。バターはチューブのものでいい。
Nguyên liệu gồm có hai lát bánh mì gối, bơ, thịt xông khói và phô mai lát. Bơ thì dùng loại tuýp là được.
それぞれの食パンにバターを好きなだけ塗る。スプーンを使ってバターを薄く広げたら、片方の食パンの上にベーコンを置く。今回は1パック4枚入りのベーコンを全て使い切った。その上に仕上げのスライスチーズを重ねて、電子レンジで2分半も温めたら完成だ。
Tôi phết bơ tùy thích lên từng miếng bánh mì. Sau khi dùng thìa dàn mỏng lớp bơ ra, tôi xếp thịt xông khói lên một lát bánh. Lần này tôi dùng hết sạch cả túi 4 miếng. Cuối cùng, tôi đặt phô mai lát lên trên rồi cho vào lò vi sóng quay khoảng 2 phút rưỡi là hoàn thành.
(よし、今日はミルクティーの気分かな)
(Được rồi, hôm nay tâm trạng chắc là hợp với trà sữa đây.)
僕は猫舌なので、いつも15分くらいはサンドウィッチを電子レンジの中に放置している。その間にインスタントの紅茶を電子ケトルで沸かしたお湯に溶かすのだ。洗い物が増えるのも面倒なので、紅茶をかき混ぜるのはバターを塗ったスプーンの持ち手の方を使う。前の彼女と別れてからは、すっかりこのやり方が定着してしまった。
Vì sợ bỏng lưỡi nên tôi thường để sandwich trong lò vi sóng khoảng 15 phút. Trong lúc đó, tôi pha trà túi lọc với nước sôi từ ấm điện. Vì ngại rửa thêm đồ nên tôi dùng luôn cán của chiếc thìa vừa phết bơ để khuấy trà. Kể từ khi chia tay bạn gái cũ, cách làm này đã trở thành thói quen cố định của tôi.
(そうだ。写真でも撮っておこう)
(Phải rồi. Chụp tấm hình lại mới được.)
お手製サンドウィッチとカップから湯気を立てる紅茶。
優雅な一人暮らしだ、と独り言ちる。
Một chiếc sandwich tự làm và ly trà đang tỏa khói nghi ngút.
"Thật là một cuộc sống độc thân tao nhã," tôi tự nhủ.
「おはよう」
「Chào buổi sáng.」
ウーさんに撮ったばかりの写真を送信しておいた。
Tôi gửi tấm hình vừa chụp cho chị Ước.
午前10時。パンダを描く練習がてら、パンダが出てくるアニメや漫画の画像をネットで漁っていると、ポンっとLINEの通知音が鳴った。僕は即座に既読を付けることに抵抗がないため、すぐにメッセージを開いてしまう。
10 giờ sáng. Trong lúc đang lùng sục hình ảnh gấu trúc trong anime và manga trên mạng để tập vẽ, một tiếng báo tin nhắn LINE lại vang lên. Vì tôi không ngại việc trả lời tin nhắn ngay lập tức nên đã mở xem ngay.
「おはよう、美味しそうね。今日どこか行く?」
「Chào buổi sáng, trông ngon thế. Hôm nay em có đi đâu không?」
「家にいるよ」
「Tôi ở nhà ạ.」
「そうか、家で絵を描く?ww」
「Thế à, ở nhà vẽ tranh hả? kkk」
見慣れたはずの「w」が人懐っこく可愛いマークに思えてきた。さっきまで確かにパンダの絵を描いていたが、まだ満足のいくレベルに描けるわけではない。ここは秘密にしておこうと考えた。
Ký hiệu "w" vốn dĩ đã quá quen thuộc, vậy mà giờ đây tôi lại thấy nó thật thân thương và đáng yêu. Đúng là lúc nãy tôi có đang tập vẽ gấu trúc thật, nhưng vì vẫn chưa đạt đến mức độ hài lòng nên tôi quyết định giữ bí mật chuyện này.
「描かないよ。昼食を作らないとww」
「Tôi không vẽ đâu. Tôi phải làm bữa trưa nữa kkk.」
「家族みんなで食べる?」
「Ăn cùng cả nhà hả em?」
「一人暮らし!」
「Tôi sống một mình ạ!」
「そうか。昼食、何作る?」
「Thế à. Trưa nay em định nấu món gì?」
こういう時、自分の自炊レベルをどこまで開示するべきなのか、僕は永遠に迷い続けてしまうのだろう。全く自炊をしないと思われるのも情けないが、とても手際良いと思われるのも遠慮したい。僕の得意料理は炒飯で更新が止まっているのだ。
Những lúc thế này, tôi lại rơi vào sự lưỡng lự kinh điển: nên tiết lộ khả năng nấu nướng của mình đến mức độ nào đây. Để bị coi là không biết nấu gì thì thật thảm hại, nhưng ra vẻ mình là một đầu bếp chuyên nghiệp thì tôi cũng hơi ngại. Thực ra, danh sách món tủ của tôi đã dừng lại ở món cơm chiên từ lâu rồi.
「焼肉!」
「Thịt nướng ạ!」
「あなた、肉好きなの?美味しいねww」
「Em thích ăn thịt hả? Ngon nhỉ kkk.」
結局、無難な答えに落ち着いた。
Cuối cùng, tôi chọn một câu trả lời an toàn nhất.
「うん、僕は肉が好きだよ。ウーさんは何を食べるの?」
「Vâng, Tôi thích thịt lắm. Còn chị Ước ăn gì thế ạ?」
「いいね。私、今日は豚肉とエビ食べるよ。ベトナムの料理よww」
「Hay quá. Hôm nay chị ăn thịt lợn với tôm. Món của Việt Nam đó kkk.」
「自分で作る?お店で買う?」
「Chị tự nấu hay mua ở ngoài ạ?」
「自分で」
「Chị tự nấu.」
ポンっと豚肉と海老を炒めたような料理の写真が送られてきた。木目のフローリングに皿を直置きして撮っているのを見るに、僕に一目見せようと現在進行形で盛り付けてくれたのだろう。その心遣いが嬉しかった。
Một bức ảnh chụp món thịt lợn xào tôm vừa được gửi đến. Nhìn đĩa thức ăn được đặt trực tiếp trên sàn gỗ để chụp, tôi đoán chắc chị đã tranh thủ lúc đang bày biện để chụp cho tôi xem ngay lập tức. Sự quan tâm đó khiến tôi cảm thấy thật hạnh phúc.
「美味しそう!豚肉の炒め物なのかな?」
「Trông ngon quá! Món thịt lợn xào đúng không chị?」
「うーん、これはスペアリブね。昨日は一日中をかけて、ゆっくりと焼き続けていた」
「Ừm, đây là sườn kinh đô nhé. Hôm qua chị đã dành cả ngày để nướng thật chậm đấy.」
「スペアリブだったのか!」
「Hóa ra là sườn cơ à!」
「ベトナム人の好きな料理だよww」
「Món yêu thích của người Việt Nam đó kkk.」
さほど自炊が上手という訳でもないが、SNSで話題になったレシピを眺めるのは好きだ。特に分量や手順を他者に分かりやすく伝えんとする筆者の努力が滲んでいるような投稿は、どこか小説家として惹かれてしまう。
Tôi vốn không giỏi nấu nướng lắm, nhưng lại thích ngắm nhìn những công thức nấu ăn đang hot trên mạng xã hội. Đặc biệt là những bài đăng thấm đẫm nỗ lực của tác giả khi cố gắng truyền tải định lượng và quy trình sao cho người khác dễ hiểu nhất — điều đó luôn thu hút tôi với tư cách là một tiểu thuyết gia.
ウーさんの辿々しい日本語にも似たものを感じた。
Tôi cũng cảm nhận được điều tương tự trong thứ tiếng Nhật còn bập bẹ của chị Ước.
「PHOは知ってる?」
「Em có biết Phở không?」
「ベトナムのラーメンだっけ、食べたことあるよ」
「Là món mì của Việt Nam phải không ạ, tôi từng ăn rồi.」
そんなことを考えていて、つい返信を忘れていた。話題は豚肉の料理からベトナムの麺料理へと移った。
Mải suy nghĩ vẩn vơ, tôi suýt thì quên cả trả lời. Chủ đề câu chuyện đã chuyển từ món thịt lợn sang món mì đặc trưng của Việt Nam.
「そうか。PHOはとても有名だけど、ワタシは作り方を知らないwww」
「Vậy à. Phở rất nổi tiếng nhưng mà chị... không biết nấu kkk.」
「難しいのかなww」
「Chắc là khó lắm nhỉ kkk.」
「難しいかも分からない」
「Chị cũng không biết có khó hay không nữa.」
「知らないだけか」
「Chỉ là chị không biết cách làm thôi hả?」
「作ったことがないからww」
「Vì chị chưa nấu bao giờ mà kkk.」
テンポの速い会話が続く。
そして、数枚のPHOの写真が貼られた。今回はネットで拾ってきたようだった。平たい麺の上に乗ったたくさんのお肉と、赤や緑の鮮やかな野菜。ツルッとした食感の麺を何年も前に味わった記憶が蘇ってきた。
Cuộc trò chuyện tiếp diễn với nhịp độ dồn dập.
Rồi vài bức ảnh chụp Phở được gửi đến. Lần này có vẻ như chị lấy hình trên mạng. Những lát thịt đầy đặn xếp trên sợi mì dẹt, cùng với đủ loại rau củ xanh đỏ bắt mắt. Ký hiệu về kết cấu sợi mì trơn tru mà tôi từng nếm thử từ nhiều năm trước bỗng chốc ùa về.
「一回だけ、食べたことある」
「Tôi mới ăn đúng một lần thôi.」
「本当?私、まだ日本で食べない」
「Thật à? Chị thì vẫn chưa ăn phở ở Nhật.」
「高校生の時に食べたよ」
「Tôi ăn từ hồi còn là học sinh cấp ba kia.」
「どこで食べた?千葉県?東京?」
「Em ăn ở đâu thế? Tỉnh Chiba hay Tokyo?」
「たぶん東京かな」
「Chắc là ở Tokyo ạ.」
「いいね。ベトナムいたとき、よく食べていたけど。いつか日本で食べたいよww」
「Tuyệt quá. Hồi ở Việt Nam chị hay ăn lắm. Chị cũng muốn lúc nào đó được ăn phở ở Nhật kkk.」
ウーさんがグイグイと質問してくる理由も分かる。
故郷の味が外国にあったら嬉しいだろう。僕も留学先で白米を見つけたら食い付いてしまう。
Tôi hiểu tại sao chị Ước lại hỏi dồn dập như thế.
Nếu tìm thấy hương vị quê nhà ở một đất nước xa lạ thì chắc chắn ai cũng sẽ vui mừng khôn xiết. Ngay cả tôi, nếu đang du học mà tìm thấy cơm trắng thì chắc cũng sẽ vồ vập lấy ngay.
「懐かしい味になるよ、きっと」
「Chắc chắn đó sẽ là hương vị khiến chị thấy nhớ nhà lắm đấy.」
「そうね」
「Đúng thế nhỉ.」
彼女は寂しいのかな、と思った。LINEで言語の壁を超えて話せるのは楽しいけど、こういう時は相手の顔が見えないと感情を完璧には読み取れない。
Tôi chợt nghĩ, liệu có phải chị ấy đang thấy cô đơn không. Việc có thể trò chuyện vượt qua rào cản ngôn ngữ trên LINE thật sự rất vui, nhưng những lúc thế này, nếu không nhìn thấy gương mặt đối phương thì thật khó để thấu hiểu trọn vẹn cảm xúc.
「これから何する?」
「Chút nữa em định làm gì?」
「部屋の掃除してゲームでもしようかな」
「Tôi sẽ dọn dẹp phòng rồi chắc là chơi game thôi ạ.」
「いいね」
「Hay đấy.」
「そっちは?」
「Còn chị thì sao?」
「私は寝るねww」
「Chị sẽ đi ngủ kkk.」
彼女とは、ずっと仲良く話せる関係でいたいと思った。
Tôi thầm mong mình và chị có thể duy trì mối quan hệ trò chuyện vui vẻ này mãi.
「ウーさん、今日はバイトなし?」
「Hôm nay chị không đi làm thêm ạ?」
「18時から23時よ」
「Chị có ca từ 18 giờ đến 23 giờ.」
「それならいっぱい寝られるねww」
「Thế thì chị có thể ngủ thêm được nhiều đấy kkk.」
「そう!でも明日は朝の9時から」
「Đúng thế! Nhưng sáng mai chị phải làm từ 9 giờ."」
「僕も明日は午前11時からだ」
「Mai tôi cũng làm từ 11 giờ sáng.」
いつも17時からのシフトだったのだが、真面目に働く姿勢を店長に評価されて、休日だけは午前中からのロングシフトを入れてもらえるようになった。他のバイトと掛け持ちしている訳ではないフリーターとしてはありがたい。とば寿司のシフトだけが貴重な収入源なのだ。
Vốn dĩ tôi luôn trực ca từ 17 giờ, nhưng nhờ thái độ làm việc chăm chỉ mà tôi đã được quản lý tin tưởng giao cho các ca làm dài từ buổi sáng vào những ngày nghỉ. Với một người làm tự do không làm thêm nhiều nơi khác như tôi, đây là một nguồn thu nhập quý giá. Ca trực tại Toba Sushi chính là nguồn thu nhập chủ chốt duy nhất của tôi.
「私たち、眠い感じだね、明日。食べ物をいっぱい持っていこう」
「Sáng mai chắc chúng mình sẽ buồn ngủ lắm đây. Nhớ mang theo thật nhiều đồ ăn nhé.」
とても可愛い表現だな、と素直に感じた。
それを悟らせないようにクールな返信をする。
Tôi thực sự cảm thấy đó là một cách diễn đạt vô cùng đáng yêu.
Để không bị chị nhận ra điều đó, tôi đáp lại một cách thật ngầu.
「補給は大切だ」
「Việc nạp năng lượng là rất quan trọng.」
「ちゃんと休んでね、夜大変かも。また後でね」
「Nhớ nghỉ ngơi cho khỏe nhé, ca tối nay có vẻ sẽ vất vả đấy. Hẹn gặp lại em sau.」
「うん、またね!」
「Vâng, hẹn gặp lại chị!」
今度は僕の返信で二度目の会話は終わった。
Lần này, cuộc trò chuyện thứ hai kết thúc bằng tin nhắn phản hồi của tôi.




