三週間のドキドキ
「ウーさんからLINEこない……そもそも、どっちから声をかけるべきなんだ?」
「Chị Ước chẳng nhắn tin lại gì cả... Mà vốn dĩ, ai nên là người lên tiếng trước nhỉ?」
あれから三日が経つ。あの時の楽しい談笑が嘘だったかのように、僕のスマホは何の通知も鳴らさなかった。
Đã ba ngày trôi qua kể từ hôm đó. Chiếc điện thoại của tôi im lìm không một thông báo, cứ như thể cuộc trò chuyện vui vẻ hôm nào chỉ là một giấc mơ.
「えいっ、とりあえずスタンプでも送ってみよう」
「Thôi kệ, cứ gửi thử cái stamp xem sao.」
一つ、適当にパンダのスタンプを送信してみた。
何かしらの反応があることを期待して。
Tôi chọn bừa một cái stamp hình chú gấu trúc rồi nhấn gửi. Tôi hy vọng sẽ nhận được một phản hồi nào đó.
「うーん、まだLINEこないな……」
「Hừm, vẫn chưa thấy gì……」
一週間が経っても、僕が送ったスタンプには既読すら付かなかった。手元でパンダが寂しそうに踊っていた。
これは本当にウーさんのアカウントなのか。そんな疑念も膨らんできた。もしや新手の勧誘だったりするのか。
Một tuần trôi qua, cái stamp tôi gửi thậm chí còn chẳng hiện chữ "Đã xem". Trên màn hình, chú gấu trúc vẫn cứ nhảy múa một cách đơn độc. Tôi bắt đầu nghi ngờ, liệu đây có thực sự là tài khoản của chị Ước không? Hay là một kiểu lừa đảo, lôi kéo mới nào đó?
「でも、バイト中にすれ違った時は普通に手を振ってくれるんだよな。本当にどういう事なんだ?」
「Nhưng mà lúc lướt qua nhau trong ca làm, chị ấy vẫn vẫy tay chào mình bình thường mà. Thực sự là chuyện này nghĩa là sao nhỉ?」
あの日の会話がなかったことにされている訳ではなさそうだった。ウーさんと視線が合えば、お互いに手を振ったり、短い挨拶を交わすような仲には進展していた。あれから彼女と休憩時間が被るようなタイミングがないので、まだ二回目の長話をすることはできていないが。
Có vẻ như cuộc trò chuyện ngày hôm đó không hề bị lãng quên. Mỗi khi chạm mắt nhau, chúng tôi đã tiến triển đến mức có thể vẫy tay hoặc chào hỏi vài câu ngắn ngủi. Chỉ là kể từ đó đến nay, giờ nghỉ của tôi và chị chưa trùng nhau lần nào, nên vẫn chưa có cơ hội để thực hiện cuộc trò chuyện dài hơi lần thứ hai.
「まぁ、今日もスタンプ送ってみるか」
「Thôi thì, hôm nay cũng gửi thử cái stamp xem sao.」
これも面白い経験になる。この未読スルーが続く限り、一週間に一度の頻度でスタンプを送るのも悪くない。
Đây cũng sẽ là một trải nghiệm thú vị. Nếu tình trạng "không thèm xem tin nhắn" này cứ tiếp diễn, thì mỗi tuần gửi một cái stamp cũng không phải là ý tồi.
高校や大学では経験したことのない、初めてのベトナム人とのLINE。それは終わりの見えない未読スルーだった。僕が思春期だったらとっくに心が折れている。
Lần đầu tiên dùng LINE với một người Việt Nam — điều mà tôi chưa từng trải qua hồi cấp ba hay đại học. Đó là một chuỗi ngày im lặng không hồi kết. Nếu là tôi của thời mới lớn, có lẽ tâm hồn đã vụn vỡ từ lâu rồi.
「よしっ、これで二個目」
「Được rồi, cái thứ hai.」
もう一度、ぜんぜん既読が付く気配のないスタンプを送信することにした。手元のパンダが寂しそうに微笑む。
Tôi quyết định gửi thêm một cái stamp nữa, dù chẳng có dấu hiệu nào cho thấy nó sẽ được xem. Chú gấu trúc trên màn hình mỉm cười một cách đơn độc.
「これで三回目」
「Đây là lần thứ ba.」
もう季節は七月に入っていた。
Thời gian đã bước sang tháng Bảy.
にこやかに手を振ってくれる職場での彼女と、ずっと沈黙を貫いたままのSNS。このリアルとデジタルの温度差に翻弄される感覚が恋愛の醍醐味なのだろう。そう嘯かないとやっていられない。
Một người chị luôn tươi cười vẫy tay ở nơi làm việc, và một thế giới mạng luôn giữ sự im lặng tuyệt đối. Cảm giác bị xoay như chong chóng giữa sự chênh lệch nhiệt độ của thực tại và kỹ thuật số này, có lẽ chính là hương vị của tình yêu. Tôi phải tự trấn an mình như thế thì mới chịu đựng nổi.
「あっ、このアイコンはウーさんっ!」
「A, cái icon này là chị Ước...!」
金曜日、深夜の22時頃だった。
僕が三匹目のパンダを見せびらかしたのは火曜日だ。
Đó là khoảng 10 giờ đêm thứ Sáu.
Tôi vừa phô diễn chú gấu trúc thứ ba vào hôm thứ Ba.
僕がベッドで寝返りを打っていると、ポンっと通知音が鳴った。相変わらず何の画像も設定されていないアイコンが画面の上から顔を覗かせる。ずっと待ち侘びていた瞬間。
Khi tôi đang trằn trọc trên giường thì một tiếng thông báo "píp" vang lên. Cái icon vốn chẳng thiết lập hình ảnh gì vẫn cứ thế lộ diện trên màn hình. Thời khắc mà tôi hằng mong đợi đã đến.
「ああ。こんばんは。すみません、私あまりLINE使ってないから」
「A, chào em. Xin lỗi nhé, chị không hay dùng LINE lắm.」
そうだろうな、とは思っていた。
この機を逃さまいと、僕は慌てて文字を打ち込んだ。
Tôi đã đoán là vậy rồi mà.
Không để lỡ mất cơ hội này, tôi vội vàng gõ phím.
「こんばんは」
「Chào chị ạ.」
焦ったあまり、素っ気ない返信になってしまった。
彼女からの次の返信は30分後だった。
Vì quá nôn nóng mà câu trả lời của tôi trông có vẻ hơi cụt lủn.
Phải 30 phút sau, chị mới phản hồi lại.
「久しぶりね、明日はいる?」
「Lâu rồi không gặp nhỉ, ngày mai em có đi làm không?」
「僕は17時からシフトに入っているよ」
「Tôi có ca trực từ 17 giờ ạ.」
「そうか、お菓子食べる」
「Vậy à, chị đang ăn bánh kẹo.」
「いいね」
「Tuyệt quá ạ.」
ウーさんはマイペースな人だった。
そこに惹かれているのを感じながら、指を滑らせた。
Chị Ước là một người rất tùy hứng. Tôi cảm nhận được mình đang dần bị thu hút bởi nét tính cách ấy, ngón tay tiếp tục lướt trên màn hình.
「あなた、遅く寝る?」
「Em hay ngủ muộn không?」
「いつも24時過ぎには寝ているよ」
「Thường thì sau 24 giờ tôi mới ngủ ạ.」
時刻は23時を過ぎた頃、あと一時間は会話を続けられるかもしれない。そんな期待を込めた返事だった。実のところ、毎日の寝る時間なんて特に決めてない。
Lúc này đã quá 23 giờ, tôi hy vọng có thể duy trì cuộc trò chuyện thêm ít nhất một tiếng nữa. Thật ra, tôi cũng chẳng có giờ giấc đi ngủ cố định nào cả.
冷蔵庫からシュークリームを取り出し、ピッと包装を破った。そして、シュークリームを直に手掴みしているところを写真に収める。
Tôi lấy chiếc bánh su kem từ trong tủ lạnh ra, xoẹt một cái xé toạc lớp vỏ. Tôi chụp lại cảnh mình đang cầm chiếc bánh ăn trực tiếp bằng tay.
「こっちもお菓子食べている」
「Tôi cũng đang ăn bánh đây này.」
「美味しそう。遅く寝てるって、どうして?何をしているの?」
「Trông ngon thế. Mà sao em lại ngủ muộn vậy? Em làm gì thế?」
「僕は小説を書いているよ」
「Tôi đang viết tiểu thuyết ạ.」
そう、僕がフリーターの道を選んだ理由は小説家になると決めたからだった。周囲との画力の差にコンプレックスを感じる日々を繰り返していた大学生活。
Đúng vậy, lý do tôi chọn con đường làm nhân viên thời vụ là vì tôi đã quyết định sẽ trở thành một tiểu thuyết gia. Những ngày tháng đại học, tôi luôn phải lặp đi lặp lại cảm giác mặc cảm vì sự chênh lệch tài năng hội họa với những người xung quanh.
そんな大学三年生の冬、SFデザインという授業の中で30年後の世界を表現しようという課題があった。表現の方法は珍しく、絵や写真、動画や文章など受講者の好きなスタイルで空想世界を創ろうという課題だった。
Vào mùa đông năm thứ ba đại học, trong tiết học "Thiết kế khoa học viễn tưởng", có một bài tập yêu cầu thể hiện thế giới của 30 năm sau. Cách thức thể hiện rất đa dạng, sinh viên có thể chọn vẽ tranh, chụp ảnh, quay video hay viết lách tùy theo sở thích để tạo ra thế giới tưởng tượng của mình.
タイピングが得意という理由で、苦手な絵から逃げて、3万字程の小説を書いた。それが担当の教授や生徒に絶賛された。とても困惑したと同時に嬉しかった。
Vì có thế mạnh là gõ máy nhanh, tôi đã trốn chạy khỏi hội họa – thứ mà mình vốn yếu kém – để viết một cuốn tiểu thuyết khoảng 3 vạn chữ. Không ngờ, tác phẩm đó lại được cả giáo sư phụ trách lẫn các sinh viên khác khen ngợi hết lời. Tôi vừa bối rối lại vừa thấy hạnh phúc.
普段から、己のコンプレックスや心情をスマホのメモ機能に言語化して保存していたから。そうすることでしか、自分の弱さと向き合えなかったから。
Vốn dĩ từ trước đến nay, tôi vẫn thường ngôn ngữ hóa những mặc cảm và tâm tư của mình rồi lưu lại trong phần ghi chú của điện thoại. Bởi đó là cách duy nhất để tôi có thể đối diện với chính mình.
その逃避は結果として、文章を書くという才能を目覚めさせることになった。大学三年の冬、僕は小説家になろうと決意した。まだデビューは出来ていないが、満足な人生を手繰り寄せている感覚はある。
Sự trốn chạy đó rốt cuộc lại đánh thức tài năng viết lách trong tôi. Mùa đông năm ba đại học ấy, tôi quyết tâm trở thành một tiểu thuyết gia. Dù bây giờ tôi vẫn chưa được ra mắt, nhưng tôi có cảm giác mình đang dần chạm tay vào một cuộc đời mãn nguyện.
「小説って、どんな小説?」
「Tiểu thuyết gì thế em?」
「大学生の男の子と年上お姉さんの恋の話だよ」
「Là câu chuyện tình yêu giữa một chàng sinh viên đại học và một người chị lớn tuổi hơn ạ.」
書き上げた話は、自由に自作の小説を投稿できるサイトで無料公開している。こうした話題になった時、いつでも興味を持ってもらえるように、サイトのURLはコピーして保存済みだ。そのリンクをLINEに貼った。
Tôi đã đăng câu chuyện mình viết xong lên một trang web cho phép tự do chia sẻ tiểu thuyết miễn phí. Để mỗi khi chủ đề này được nhắc đến là có thể khiến đối phương hứng thú ngay lập tức, tôi đã sao chép sẵn đường link của trang web đó vào bộ nhớ tạm. Tôi dán đường link đó vào khung chat LINE.
「これ!自分で書いてる!」
「Đây ạ! Chính tay tôi viết đó!」
「すごい、読んでみたい」
「Giỏi quá, chị muốn đọc thử xem sao.」
「漢字が多いかも?読んでくれるの嬉しい!」
「Chắc là sẽ có nhiều Hán tự (Kanji) lắm đó chị? Chị bằng lòng đọc là tôi vui lắm rồi!」
「そうね、辞書を使って読んでみる」
「Ừ, chị sẽ vừa tra từ điển vừa đọc.」
頬が緩むのを抑えられなかった。やはり、作家としては自分の作品に興味を持ってもらえるのは嬉しい。
Tôi không thể ngăn mình mỉm cười. Quả nhiên, với tư cách là một người cầm bút, không gì hạnh phúc hơn việc có người quan tâm đến tác phẩm của mình.
「ありがとう、キャラクターの名前が日本語で読めなかったら教えるから!」
「Cảm ơn chị nhé, nếu tên nhân vật bằng tiếng Nhật mà khó đọc quá thì chị cứ bảo tôi, tôi sẽ chỉ cho ạ!」
「あなた、小説を自分で書いていたら、たぶん文学上手ね」
「Em tự viết tiểu thuyết như vậy, chắc là giỏi văn học lắm nhỉ.」
「うん、自信がある!いつかプロになりたいんだ」
「Vâng, tôi tự tin lắm! Tôi muốn một ngày nào đó sẽ trở thành nhà văn chuyên nghiệp.」
こんな恥知らずの台詞も、簡単に吐けてしまうのがSNSの怖いところだ。つい僕は苦笑した。
Những lời nói có phần "không biết ngượng" như thế này lại có thể thốt ra một cách thật dễ dàng, đó chính là điểm đáng sợ của mạng xã hội. Tôi khẽ cười khổ một mình.
「自信あってすごい。珍しいね、自信持ってる人!」
「Tự tin như vậy là giỏi lắm đấy. Hiếm thấy người nào tự tin như em lắm!」
「ずっと昔から本が好きなんだ!」
「Vì từ ngày xưa tôi đã rất thích sách rồi ạ!」
「うらやましい。私も時々小説読むね、大好きよ。将来は小説家になりたい?」
「Đáng ngưỡng mộ thật. Chị cũng thỉnh thoảng đọc tiểu thuyết, chị thích lắm. Tương lai em muốn trở thành tiểu thuyết gia sao?」
肯定感で溢れ返った純粋な言葉の羅列にこっちが照れてしまう。外国人とメッセージを送り合うのは新鮮で、こんなに楽しいだなんて知らなかった。
Những dòng tin nhắn thuần khiết, tràn đầy sự công nhận khiến tôi thấy ngượng ngùng. Việc nhắn tin qua lại với một người nước ngoài thật mới mẻ, tôi không ngờ nó lại thú vị đến thế.
だんだん、僕の送る文面も無邪気な口調に変わっていった。心地良い返信に溶け込まれていくかのように。
Dần dần, cách hành văn của tôi cũng trở nên ngây ngô và hồn nhiên hơn. Cứ như thể tôi đang tan chảy vào sự phản hồi đầy dễ chịu của chị.
「うん、だから努力している!」
「Vâng, chính vì thế nên tôi đang rất nỗ lực ạ!」
少しの間が空いて、次の返信が返ってきた。
Sau một khoảng lặng ngắn, tin nhắn tiếp theo hiện lên.
「漫画はどう?あなたが描いた絵もすごいから」
「Thế còn truyện tranh thì sao? Chị thấy những bức hình em vẽ cũng rất tuyệt mà.」
ウーさんに僕が描いた絵を見せたのは、LINEを交換した日。一ヶ月も前のことなのに、まだ覚えていてくれたのが嬉しかった。
Lần tôi cho chị Ước xem tranh là vào cái ngày chúng tôi kết bạn LINE. Đã một tháng trôi qua rồi, vậy mà chị vẫn còn nhớ, điều đó khiến tôi thật sự cảm kích.
「絵で物語を描くのは大変だよ」
「Vẽ một câu chuyện bằng hình ảnh vất vả lắm chị ạ.」
正直、SNSでバズるような漫画を描こうと思ったことはある。ただ継続の意思や、自分には無理だと早々に諦めてしまっただけで。まだウーさんに見せていない画像があるか、僕はカメラロールを上から下になぞった。
Thú thật, tôi cũng từng nghĩ đến việc vẽ những mẩu truyện tranh để có thể trở nên nổi tiếng trên mạng xã hội. Chỉ là tôi sớm từ bỏ vì thiếu kiên trì, hoặc vì tự nhủ rằng mình không làm nổi thôi. Tôi lướt ngón tay từ trên xuống dưới trong cuộn phim ảnh, tìm xem còn bức hình nào chưa cho chị thấy không.
(これとか、いいかも)
(Cái này chắc là được nhỉ.)
ちょうどいい感じにゆるく描いたイラストが見つかった。デフォルメ化されたウサギが二枚分。一つは、大きな荷物に押し潰されたウサギをコミカルに描いたもの。
Tôi tìm thấy một bức minh họa được vẽ theo phong cách nhẹ nhàng khá ưng ý. Có hai bức hình về một chú thỏ được cách điệu. Một bức vẽ chú thỏ bị đè bẹp dưới một đống hành lý lớn trông rất hài hước.
ぽんっと画像を送信すると、すぐに返信がきた。
Tôi nhấn gửi, ngay lập tức có phản hồi.
「わぁ、すごい!わたしにも絵の描き方を教えてください、先生!ww」
「Oa, đỉnh quá! Thầy ơi, hãy dạy chị cách vẽ với nào! kkk」
「ふふっ、もう一枚あるよ」
「Hì hì, vẫn còn một tấm nữa này.」
ぽんっと二枚目の画像も送信した。こっちは両親の結婚記念日に描いたものだ。仲睦まじい二匹のうさぎをラフに描いている。自分でもお気に入りの画像で、ぜひ彼女に見てもらいたかった。
Tôi gửi tiếp bức hình thứ hai. Tấm này tôi vẽ dành tặng kỷ niệm ngày cưới của bố mẹ. Hình hai chú thỏ quấn quýt bên nhau được vẽ bằng những nét phác thảo mộc mạc. Đó là bức hình tôi rất tâm đắc và thực sự muốn cho chị xem.
「これは上手すぎる!かわいい!」
「Cái này thì đẹp quá mức luôn! Đáng yêu xỉu!」
「ありがとう」
「Tôi cảm ơn chị.」
思った通りの反応に笑みが溢れた。何歳になっても、褒められるのは嬉しい。それがこんなにも純粋な褒め言葉なら尚更だ。
Đúng như phản ứng tôi mong đợi, một nụ cười rạng rỡ nở trên môi tôi. Dù ở độ tuổi nào đi nữa, được khen ngợi vẫn luôn là một điều hạnh phúc. Nhất là khi đó lại là những lời khen thuần khiết đến nhường này.
「よくウサギ描いてるの?」
「Em hay vẽ thỏ lắm à?」
「そうかも」
「Chắc là vậy ạ.」
「そうか、いつかパンダ描いてみてくれない?」
「Thế à, khi nào đó em vẽ thử con gấu trúc cho chị xem được không?」
「いいよ!」
「Được chứ ạ!」
「私、よく友達にパンダだと言われた。でも、可愛いパンダだね、私!www」
「Bạn bè hay bảo chị giống gấu trúc lắm. Nhưng mà, chị là một chú gấu trúc đáng yêu nhỉ! kkk」
自称パンダの女の子と話すのは初めてだ。とても可愛いリクエストをされてしまった。ふふっと笑ってしまう。
いつか絶対にパンダの絵を描くと決めた。
Đây là lần đầu tiên tôi trò chuyện với một cô gái tự nhận mình là gấu trúc. Một lời yêu cầu thật sự quá đỗi dễ thương. Tôi không kìm được mà bật cười hì hì.
Tôi quyết định, nhất định một ngày nào đó sẽ vẽ một bức tranh gấu trúc thật đẹp tặng chị.
「笹を食べてるの?ww」
「Chị có ăn lá trúc không đấy? kkk」
「食べたら、今可愛いパンダではなく、死んだパンダかも?ww」
「Ăn vào chắc không còn là gấu trúc đáng yêu nữa, mà thành gấu trúc 'ngỏm' luôn rồi đó! kkk」
「それは困るww」
「Thế thì gay to! kkk」
気付けば、もう深夜の1時だった。
深夜に繰り広げられる不思議な会話が楽しかった。
名残惜しい気持ちを振り払って、送信を押す。
Mải mê trò chuyện, tôi nhận ra đã 1 giờ đêm rồi.
Những lời đối đáp kỳ lạ diễn ra trong đêm khuya thật sự rất thú vị.
Tôi gạt đi sự luyến tiếc, nhấn nút gửi tin nhắn cuối cùng.
「じゃあ今日はそろそろ寝るよ、おやすみ!」
「Vậy thôi, giờ tôi đi ngủ đây ạ. Chúc chị ngủ ngon!」
「うん、おやすみね!」
「Ừ, chúc em ngủ ngon nhé!」
スマホに充電コードを挿し、ベッドに仰向けになった。
Tôi cắm dây sạc vào điện thoại rồi nằm ngửa ra giường.
「楽しかったな……」
「Vui thật đấy……」
結局、LINEで会話するまでには約一ヶ月もかかったけど、あの休憩の時に自分から勇気を出して話しかけにいって良かったと感じた。
Rốt cuộc, tôi đã mất gần một tháng mới có thể trò chuyện thế này, nhưng tôi cảm thấy thật đúng đắn khi đã chủ động bắt chuyện với chị trong giờ nghỉ hôm đó.
絵と小説という僕のパーソナルスペースも自然な形で紹介することに成功した。次の会話にも困らないだろう。
Tôi đã thành công trong việc giới thiệu về thế giới riêng của mình — hội họa và tiểu thuyết — một cách thật tự nhiên. Chắc chắn những cuộc trò chuyện tiếp theo sẽ diễn ra suôn sẻ thôi.
「初めての外国人の友達……まだ気が早いか」
「Người bạn nước ngoài đầu tiên... Chắc là vẫn còn hơi sớm để gọi thế nhỉ.」
僕は目を閉じた。
Tôi nhắm mắt lại.




