初めての会話
ウーさんに事務所でバナナを貰ってから三日が経った。
思ったより早く、再会のタイミングは訪れた。
Ba ngày đã trôi qua kể từ khi tôi nhận quả chuối từ chị Ước trong văn phòng.
Thời khắc tái ngộ đến sớm hơn tôi tưởng.
「失礼します。あっ……」
「Em xin phép. A...」
事務所のドアを開けると、今度はウーさんがロッカーにもたれかかりながらスマホを触っていた。フロアで働いている合間に厨房の様子をちらっと窺うことで、それとなく彼女の容姿は見分けが付くようになった。マスクの有無で恩人の姿を見間違える訳があるか。
Vừa mở cửa văn phòng, tôi đã thấy chị Ước đang tựa lưng vào tủ đồ và lướt điện thoại. Nhờ thỉnh thoảng liếc nhìn vào bếp trong lúc làm việc ở sảnh ngoài, tôi đã dần nhận diện được dáng vẻ của chị. Làm sao tôi có thể nhìn lầm ân nhân của mình chỉ vì chiếc khẩu trang cơ chứ.
「おはよう」
「Chào chị.」
猫のようにくりっとした大きな瞳がこちらを見上げた。
彼女の前にしゃがみ込んで、ゆっくりと聞き取りやすいように口を開いた。笑顔も忘れずに。
Đôi mắt to tròn như mắt mèo ngước lên nhìn tôi.
Tôi ngồi xổm xuống trước mặt chị, cố gắng mở lời thật chậm rãi và rõ ràng để chị dễ nghe nhất có thể. Và tất nhiên, không quên kèm theo một nụ cười.
「この前はありがとう。ウーさん、だよね?」
「Cảm ơn chị về hôm trước. Chị tên là Ước, đúng không?」
彼女は驚いたかのように目を見張った。
Chị ấy mở to mắt như thể đầy kinh ngạc.
「……!?すごい。ワタシの名前、覚えてるの?」
「……Thật à?Em có nhớ tên chị không?」
彼女の涼やかな声が耳朶を打った。とても流暢な日本語だった。僕は軽く笑ってみせた。
Giọng nói trong trẻo của chị ấy khẽ chạm vào màng nhĩ. Đó là một câu tiếng Nhật cực kỳ lưu loát. Tôi mỉm cười nhẹ nhàng đáp lại.
「名札を見て覚えただけだよ。それにカタカナだと短くて覚えやすかったし」
「Đúng rồi, hơn nữa Katakana dễ quá」
彼女も表情を綻ばせた。いきなり外国人に話しかけられたという初手の緊張は解けたようだった。第一関門はクリアだ。
Gương mặt chị cũng dần giãn ra, rạng rỡ hơn. Có vẻ như sự căng thẳng ban đầu khi bất ngờ bị một người nước ngoài bắt chuyện đã hoàn toàn tan biến. Tôi thầm nghĩ: "Cửa ải đầu tiên, thông qua!"
「ふふっ、そうね。覚えやすいね」
Chị ấy cười mỉm.
「Chị hiểu rồi. Dễ nhớ em nhỉ.」
ウーさんの流暢な日本語は、彼女がこれまで積み重ねてきた努力の結晶だ。半端な気持ちで言葉を交わすつもりはない。お礼しただけでバイバイ、というのも味気ない。
Tiếng Nhật lưu loát của chị Ước chính là kết tinh từ những nỗ lực mà chị đã dày công tích lũy suốt thời gian qua. Tôi không có ý định đáp lại bằng một thái độ hời hợt. Chỉ cảm ơn rồi nói "Bye bye" thì thật là tẻ nhạt.
「はい、ここに座ってね」
「Nào, em ngồi đây đi.」
「ありがとう」
「Cảm ơn nhé.」
ウーさんが隣のスペースを空けてくれたので、そこに腰を下ろした。まずは会話の取っ掛かりを探してみる。
Chị Ước chừa ra một khoảng trống bên cạnh, tôi bèn ngồi xuống đó. Đầu tiên, tôi thử tìm chủ đề để bắt chuyện.
「ウーさん、厨房の仕事は大変?」
「Chị Ước ơi, công việc trong bếp có vất vả không chị?」
「そうね、大変よ。まだ分からないことが多いから」
「Vất vả chứ. Chị vẫn còn nhiều điều chưa biết lắm.」
「そうなのか。いつからここで働いているの?」
「Vậy ạ? Chị làm ở đây từ bao giờ thế?」
「えっと……3月からね」
「À... từ tháng Ba nhé.」
「そうなんだ。僕とあまり変わらないんだね!」
「Thế ạ! Vậy là cũng không khác tôi là mấy nhỉ!」
4月に入った僕とほぼ同期と言ってもいいだろう。同じ新人として、少しの親近感が増した。ウーさんの日本語が上手だったこともあり、意外にも会話は続いていた。
初めてのベトナム人との交流に興奮して、話すスピードが速くなりすぎないように己を律した。
ゆっくりと、はっきりと。
Tôi vào làm từ tháng Tư, nên có thể coi chúng tôi gần như là đồng nghiệp cùng khóa. Sự thân thuộc bỗng chốc tăng lên khi biết cả hai đều là những người mới. Nhờ khả năng tiếng Nhật tốt của chị Ước, cuộc trò chuyện tiếp diễn suôn sẻ một cách bất ngờ.
Vì quá phấn khích trước lần đầu giao lưu với một người Việt Nam, tôi phải tự nhắc nhở bản thân không được nói quá nhanh.
Chậm rãi và rõ ràng.
「ウーさんは留学生ですか?」
「Chị Ước là du học sinh phải không ạ?」
「そうね、私、日本に来たばかりよ」
「Đúng thế, chị cũng mới sang Nhật thôi」
その言葉の後、彼女は、自分が通っている日本語学校の名前を教えてくれたが、新潟から引っ越したばかりの僕にはピンとこない学校名だった。後で調べてみよう。
Sau đó, chị kể cho tôi nghe tên trường tiếng Nhật mà chị đang theo học. Nhưng với một người vừa mới chuyển đến từ Niigata như tôi, cái tên đó nghe thật lạ lẫm. Lát nữa tôi sẽ tra thử xem.
ふむふむ、と首を傾げていると、今度は彼女から質問を投げかけてくれた。それだけで嬉しくなってしまう。
Trong khi tôi đang gật gù suy ngẫm, đến lượt chị đặt câu hỏi cho tôi. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ khiến tôi thấy vui rồi.
「あなたは大学生?」
「Còn em, em là sinh viên đại học à?」
「いいえ。もう僕は新潟の大学を卒業しているよ。新潟は知ってる?」
「Không ạ, tôi đã tốt nghiệp đại học rồi. Chị có biết tỉnh Niigata không?」
「ニイガタ……分からない」
「Niigata... chị không biết.」
「そっか、雪がたくさん降る場所なんだよ」
「Vậy ạ, đó là nơi tuyết rơi rất nhiều đấy.」
スマホを取り出して、新潟で撮った写真を見せた。僕の身長と同じくらいまで積み上がった雪山。大学の駐車場で友人と作った雪だるま。雪を踏みしめながら登校する様子を自撮りした動画。カメラロールを興味深そうに目で追うウーさん。大学では厄介にしか感じなかった大雪も、こうして会話のネタに昇華できたなら良かった。
Tôi lấy điện thoại ra và cho chị xem những bức ảnh chụp ở Niigata. Những đống tuyết cao bằng cả người tôi. Hình ảnh người tuyết tôi làm cùng bạn bè ở bãi đỗ xe trường đại học. Cả đoạn video tự quay cảnh tôi đi bộ đến trường trên con đường ngập tuyết. Chị Ước chăm chú dõi theo từng khoảnh khắc trong cuộn phim ảnh. Những trận tuyết lớn ở đại học vốn chỉ mang lại rắc rối, nhưng nếu giờ đây chúng có thể trở thành chủ đề để cuộc trò chuyện thêm rôm rả, thì thật là tốt biết mấy.
スマホの画面越しに共有した新潟の雪景色は、ベトナムから来た彼女の目にどんな風に映っているのだろうか。
Phong cảnh tuyết trắng ở Niigata chia sẻ qua màn hình điện thoại không biết hiện lên như thế nào trong mắt một cô gái đến từ Việt Nam nhỉ?
しばらく静かに僕のスマホへ視線が釘付けのウーさんを眺めていると、彼女がふいっと顔を上げた。後頭部で一括りに纏められた長い黒髪がロッカーを軽く撫でる。
Tôi lặng lẽ ngắm nhìn chị Ước đang dán mắt vào điện thoại của mình một hồi lâu, rồi chị bất chợt ngẩng đầu lên. Mái tóc đen dài buộc gọn sau gáy khẽ lướt qua cánh cửa tủ đồ.
「ありがとう、とても面白かった。私の国では雪が降らないからね」
「Cảm ơn em, thú vị thật đấy. Ở đất nước của chị không có tuyết rơi đâu.」
「へぇ!?一度も降らないの?」
「Hả!? Chưa bao giờ rơi luôn ạ?」
「そうよ、ベトナムはずっと暑いね」
「Đúng thế, Việt Nam lúc nào cũng nóng lắm.」
それより、と言わんばかりにウーさんはカメラロールのある箇所を指差した。そこには人気アニメのキャラクターを描いた写真があった。僕が暇な時間に模写したものだ。
Như muốn chuyển chủ đề, chị Ước chỉ tay vào một góc trong cuộn phim ảnh. Ở đó có bức ảnh chụp nhân vật của một bộ anime nổi tiếng. Đó là bức vẽ tôi đã sao chép lại những lúc rảnh rỗi.
「私、このアニメ知ってるね。アーニャだ」
「Chị biết bộ anime này nhé. Là Anya nè.」
「そうそう、スパイファミリーね」
「Đúng rồi, là Spy Family đó.」
「うん、アーニャは可愛いね」
「Ừm, Anya đáng yêu thật đấy.」
ウーさんが良いリアクションをしてくれそうだったので、この絵を描いたのが自分だと明かすことにした。目の前の女の子に僕の小さな自尊心をくすぐられたいという仄暗い欲望があった。
Thấy chị có vẻ hào hứng, tôi quyết định tiết lộ chính mình là người đã vẽ bức hình này. Trong thâm tâm tôi nhen nhóm một ham muốn thầm kín: muốn được cô gái trước mặt vuốt ve lòng tự trọng nhỏ bé của mình.
「これ描いたのは僕だよ」
「Cái này là do tôi vẽ đấy.」
「ええっ!?あなた、とても上手ね!」
「Hả!? Em vẽ đẹp quá vậy!」
「僕の大学はデザインの勉強をするところだったからね。絵を描くのは得意なんだ」
「Vì trường đại học của tôi là nơi học về thiết kế mà. Tôi vẽ cũng khá lắm đấy.」
どの口が言っているのか。
心の中で苦笑した。
Thật chẳng biết mình đang nói cái gì nữa.
Tôi tự cười khổ trong lòng.
高校生の頃、漫画やアニメのキャラクターを模写することで、友達に絵が上手いと褒められていた。美術部でもないのに画力がある自分は天才なのだと勘違いして、新潟にあるデザイン系の大学を受験した。
Hồi cấp ba, nhờ việc sao chép lại các nhân vật truyện tranh hay hoạt hình mà tôi thường được bạn bè khen ngợi là vẽ đẹp. Dù không tham gia câu lạc bộ mỹ thuật nhưng tôi đã lầm tưởng mình là một thiên tài hội họa, rồi thi vào một trường đại học thiết kế ở Niigata.
意気揚々と入学した後は、上には上がいることを痛感させられた。故郷から遠く離れた雪国では、自分の弱みを簡単に打ち明けることもできず、小さなプライドを守るために逃げ帰ることもできず、唇を噛み締めながら筆を動かしていた。デザインの基礎となるデッサンでは周囲との才能の隔たりを実感したが、キャラクターの模写やデフォルメした似顔絵などは同級生からも好評だった。やがて、そればかりを描くようになった。だからアナログは苦手なままだった。
Sau khi nhập học đầy khí thế, tôi mới đau đớn nhận ra rằng "núi cao còn có núi cao hơn". Tại vùng đất tuyết xa rời quê hương ấy, tôi không thể dễ dàng thổ lộ những yếu kém của bản thân, cũng chẳng thể vứt bỏ lòng tự trọng nhỏ nhen để trốn chạy về nhà, chỉ biết nghiến răng mà đưa bút. Trong những giờ vẽ phác thảo căn bản của thiết kế, tôi cảm nhận rõ rệt khoảng cách tài năng giữa mình và những người xung quanh, nhưng việc sao chép nhân vật hay vẽ chân dung cách điệu lại nhận được phản hồi tốt từ bạn học. Cuối cùng, tôi chỉ toàn vẽ những thứ đó. Vì vậy, tôi vẫn mãi không giỏi vẽ tay truyền thống.
それでも一人の時間があると、つい絵を描いてしまう。
かつて自分が縋っていたものを否定しきれないから。
Dẫu thế, cứ hễ có thời gian một mình, tôi lại vô thức cầm bút vẽ.
Bởi vì tôi không thể phủ nhận hoàn toàn thứ mà mình đã từng bám víu vào.
「これとか見てよ、昔に描いた自信作なんだ」
「Xem cái này đi, đây là tác phẩm tâm đắc nhất mà tôi từng vẽ hồi trước đó.」
カメラロールを遡って、たこ焼きをデフォルメ化した画像をスマホの画面いっぱいに表示した。カリッとした生地の頂点を一本のタコ足が突き破っている絵。まるで不良のリーゼントのように頭から垂れ下がったタコ足。
Tôi kéo ngược cuộn phim ảnh về trước, rồi mở to lên toàn màn hình hình ảnh một viên Takoyaki được cách điệu hóa. Đó là bức vẽ một chiếc chân bạch tuộc đâm xuyên qua lớp vỏ giòn rụm ở đỉnh đầu. Cái chân ấy rũ xuống trông như kiểu tóc Pompadour của mấy tay bất lương.
(ふふっ、どんな反応するかな)
(Hì hì, không biết chị ấy sẽ phản ứng thế nào đây.)
それはそれとして、誰にも勘違いされたくないのは。
Nhưng có một điều tôi không muốn bất cứ ai hiểu lầm.
僕は自分の中途半端かもしれない画力が好きだ。周りと仲良くするために自分の持っているものは全て使う。絵を描く才能は会話を膨らませるネタにしやすい。
コンプレックスは気付かれなければ、コンプレックスと呼ばれることはないのだ。
Tôi yêu cái năng lực hội họa có phần dở dở ương ương này của mình. Để hòa nhập với mọi người xung quanh, tôi sẽ sử dụng tất cả những gì mình có. Tài năng vẽ lách vốn là một chủ đề rất dễ để khơi mào và làm rôm rả cuộc trò chuyện.
Chừng nào nỗi mặc cảm chưa bị ai nhận ra, thì nó sẽ không bị gọi là mặc cảm.
「オリジナルなんだよ、たこ焼きのヤンキーで、たこヤンキーって名前!」
「Đây là do tôi tự nghĩ ra đó. Một tay Takoyaki bất lương, tên nó là "Tako-Yankee"!」
「あははっ、おもしろいね。あなた、すごい!」
「Ha ha, buồn cười quá. Em giỏi thật đấy!」
ウーさんが屈託のない笑顔を見せてくれる。かつて雪国で孤独に磨いた模写という技術が、遠い外国からきた彼女を笑顔にしている。あの唇を噛み締めた時間は決して無駄ではなかったと証明された。
Chị Ước nở một nụ cười rạng rỡ không chút vẩn đục. Kỹ thuật vẽ mô phỏng mà tôi từng cô độc mài giũa ở vùng đất tuyết, giờ đây đang làm một cô gái đến từ phương xa mỉm cười. Nó chứng minh rằng những giây phút cắn răng chịu đựng khi ấy hoàn toàn không hề lãng phí.
(ウーさんは真っ直ぐな人だな)
(Chị Ước thật là một người thẳng thắn.)
どこか、彼女の純粋な反応に安心してしまった。
Đâu đó trong lòng, tôi thấy mình thật nhẹ nhõm trước phản ứng thuần khiết của chị.
これまでもフロアの同僚に絵を見せたことがあった。常に相手が自分より絵が上手くないことを願いながら、僕は仄暗い充足感を満たしている。
Trước đây, tôi cũng từng cho các đồng nghiệp ở sảnh xem tranh của mình. Tôi luôn thầm cầu mong đối phương không vẽ đẹp bằng mình, rồi cứ thế đắm chìm trong một cảm giác thỏa mãn tối tăm.
おかしいな、僕は感謝を伝えたかったはずなのに。
これでは自分語りをしているだけだ。
Lạ thật, đáng lẽ mình phải nói lời cảm ơn mới đúng.
Thế này thì chẳng khác nào mình đang tự luyến về bản thân cả.
「じゃあ仕事に戻るね」
「Vậy tôi quay lại làm việc đây ạ.」
そろそろ休憩が終わる時間だった。スマホをロッカーにしまおうとすると、ウーさんが口を開いた。
Cũng đã đến lúc kết thúc giờ nghỉ giải lao. Khi tôi đang định cất điện thoại vào tủ đồ thì chị Ước bỗng lên tiếng.
「あー、らい、ルイン、ライン……?」
「A... Rai, Ruin... LINE...?」
「うん?」
「Hửm?」
「えっと、あなたはLINEをやってますか?」
「À thì... em có dùng LINE không?」
「あぁ、LINEか。やってるよ!」
「À, LINE hả? Có chứ, tôi có dùng!」
ウーさんの顔が綻んだ。僕はQRコードを出して、彼女とLINEを交換した。彼女のアイコンは何の画像も設定していない初期のままだった。薄い灰色のピクトグラム。
Gương mặt chị Ước rạng rỡ hẳn lên. Tôi đưa mã QR ra và kết bạn LINE với chị. Ảnh đại diện của chị vẫn để mặc định, không thiết lập hình ảnh gì cả. Chỉ là một hình người màu xám nhạt.
(11/30って書いてあるな)
(Ghi là ngày 30 tháng 11 này.)
ただ一つ、ウーさんの生年月日だけがステータスとして表示されていた。僕と彼女の年齢は近いだろうという推測は正しかったようで、彼女は僕より三ヶ月半だけ誕生日が早かった。ちなみに僕の誕生日は3月15日だ。
Chỉ duy nhất ngày sinh của chị Ước là hiển thị ở phần trạng thái. Dự đoán của tôi về việc tuổi tác của cả hai khá gần nhau hóa ra là đúng, chị sinh sớm hơn tôi chỉ ba tháng rưỡi. Nhân tiện, sinh nhật của tôi là ngày 15 tháng 3.
(あまりベトナム人はLINEを使わないのかな?)
(Chắc người Việt Nam không hay dùng LINE mấy nhỉ?)
Instagramにログインするためのパスワードはとっくに忘れているし、Facebookはやっていないから、最初に提案されたSNSがLINEで良かったと思う。こういう初手のタイミングで連絡先の交換に手間取るのは、あまり良い印象ではないと思うから。
Mật khẩu Instagram thì tôi đã quên từ lâu, còn Facebook thì tôi không dùng, nên tôi thấy thật may khi mạng xã hội đầu tiên được đề xuất là LINE. Bởi vì tôi nghĩ, việc lóng ngóng khi trao đổi liên lạc ngay từ lần đầu tiên sẽ không để lại ấn tượng tốt cho lắm.
「はい、じゃあまたね!」
「Vâng, vậy hẹn gặp lại chị sau nhé!」
「がんばって」
「Cố lên nhé.」
小さくガッツポーズを取るウーさん。なんとも言えない可愛らしさがあった。僕が誰かを見送る時にガッツポーズをしても、同じ可愛さは出せないと思うし、どこかに照れが混じってしまうのだろう。
Chị Ước nắm tay lại làm động tác cổ vũ nhỏ. Chị ấy có một nét đáng yêu thật khó tả. Tôi nghĩ nếu mình mà làm động tác đó khi tiễn ai đó, chắc chắn sẽ không thể nào đáng yêu được như thế, mà kiểu gì cũng sẽ có chút ngượng ngùng trộn lẫn bên trong thôi.
とりあえず、ウーさんと楽しく話せた。
彼女の連絡先も交換できた。
僕は意気揚々と事務所を後にした。
Tóm lại là tôi đã có một cuộc trò chuyện vui vẻ với chị Ước.
Cũng đã trao đổi được liên lạc với chị.
Tôi hăm hở rời khỏi văn phòng.
この時、夜もLINEで話そうねと勇気を出して言えていたら。
僕たちはもっと仲良くなっていたのかもしれない。
Giá như lúc đó, tôi có thể nói thêm câu: "Tối nay mình lại nói chuyện qua LINE nhé"...
Thì có lẽ, mối quan hệ của chúng tôi đã trở nên thân thiết hơn nhiều rồi.




