黄色い果物
僕の考えが変わったのは6月の初めだった。
初夏とはいえ、涼やかな風が吹き込む季節である。
ただし、僕の気分はどんよりと曇っていた。
Thế nhưng, suy nghĩ ấy của tôi đã thay đổi vào đầu tháng Sáu.
Dẫu đang là đầu hè, nhưng mùa này vẫn thường đón những làn gió mát lành thổi tới.
Chỉ có điều, tâm trạng của tôi thì lại âm u như bầu trời đầy mây xám.
6月2日の20時。
この日、僕はとば寿司本部のSVに電話越しで叱られていた。その理由は接客対応へのクレームである。
Lúc 20 giờ ngày 2 tháng 6.
Ngày hôm đó, tôi đã bị quản lý khu vực (SV) của trụ sở chính Toba-sushi mắng qua điện thoại. Lý do là vì có lời phàn nàn từ khách hàng về cách phục vụ của tôi.
「はい、状況に焦って独断で対応してしまいました」
「Vâng, vì lúc đó tình hình gấp gáp nên tôi đã tự ý xử lý một mình ạ.」
「なるほど。その時の状況は理解した。それでお客様から君の対応に対してのクレームをいただく結果になったと。しっかりと責任者に判断を仰ぐべきだったね」
「Tôi hiểu tình huống lúc đó rồi. Nhưng kết quả là chúng ta đã nhận được lời phàn nàn từ khách hàng về cách ứng phó của cậu. Lẽ ra cậu phải xin ý kiến chỉ đạo từ người chịu trách nhiệm mới đúng.」
「はい……申し訳ありませんでした」
「Vâng... tôi thành thật xin lỗi.」
僕は神妙な顔をして項垂れた。今回の件に関しては深く反省せざるを得ない。
Tôi cúi đầu, vẻ mặt đầy hối lỗi. Về sự việc lần này, tôi không thể không tự kiểm điểm sâu sắc.
「そうだね、従業員の勝手な判断がこの店舗全体の評価に繋がってしまうことは理解してくれたかな。フロアの接客というのはお店の顔だということを分かってほしい。今後は同じ失敗を繰り返さないように。それじゃあ中島店長に電話を代わってもらってもいいかな」
「Đúng vậy, hy vọng cậu hiểu rằng quyết định tùy tiện của một nhân viên sẽ ảnh hưởng đến đánh giá của toàn bộ cửa hàng. Cậu cần hiểu rằng phục vụ ở sảnh ngoài chính là gương mặt của tiệm. Từ nay về sau đừng để lặp lại sai lầm tương tự nhé. Vậy bây giờ, cậu chuyển máy cho quản lý Nakajima giúp tôi được chứ?」
「はい。反省しています……本当にすみませんでした。今から店長にお電話代わります。店長、すみません。SVが代わるようにと」
「Vâng. Tôi rất hối hận... Thực sự xin lỗi ông. Bây giờ tôi sẽ chuyển máy cho quản lý ạ. Quản lý ơi, em xin lỗi. SV bảo muốn gặp anh ạ.」
「うん、ありがとう」
「Ừ, cảm ơn em.」
僕は店長に通話中のスマホを手渡した。
Tôi trao chiếc điện thoại vẫn đang trong cuộc gọi cho quản lý.
「はい、私の指導が行き届いていなかったこともあり…」
「Vâng, cũng là do tôi chưa hướng dẫn chu đáo ạ...」
電話を代わった中島店長も神妙な顔をしている。彼は普段から優しげに社員とバイトの誰にでも分け隔てなく接する、メガネをかけた優しそうな風貌の24歳だ。彼も僕と同じように店長より上の役職であるSVに指導されているのだろう。しょんぼりとレンズ越しに見える目が伏せられていた。
Quản lý Nakajima, người vừa cầm máy, cũng đang lộ rõ vẻ mặt nghiêm nghị. Anh ấy là một người 24 tuổi với vẻ ngoài hiền lành sau cặp kính cận, thường ngày luôn đối xử tử tế và công bằng với tất cả nhân viên chính thức cũng như người làm thêm. Có lẽ anh ấy cũng giống như tôi, đang bị SV – người có chức vụ cao hơn quản lý – chỉ bảo. Qua lớp mắt kính, tôi thấy đôi mắt anh ấy rũ xuống đầy buồn bã.
それは一週間前の夜も遅い時間のことだった。
Sự việc đó đã xảy ra vào một đêm muộn của một tuần trước.
僕がテーブルを片付けていると、気難しそうな顔をした中年の男性が語気を荒げて話しかけてきた。そのまま彼が座っているテーブルまで同行を余儀なくされる。
Khi tôi đang dọn dẹp bàn, một người đàn ông trung niên với khuôn mặt khó chịu tiến lại gần và gằn giọng nói với tôi. Tôi buộc phải đi theo ông ta tới tận bàn ăn.
「このお餅入りチョコパイのお餅が硬いんだけど。これってさ、こういう商品ってことでいいのかなぁ!」
「Cái bánh chocolate pie nhân mochi này, phần mochi cứng ngắc à. Cho tôi hỏi, bộ sản phẩm này vốn dĩ nó như thế này hả?」
「お餅が硬いですか……そういう商品だと思います」
「Mochi bị cứng ạ... Tôi nghĩ vốn dĩ sản phẩm nó là như vậy đấy ạ.」
(うーん、厨房がミスするなんてあり得ないよな。お客さんの勘違いかな。そもそもお餅が硬いって何だ?)
(Hừm, chẳng lẽ bếp lại mắc lỗi sao, không thể nào. Chắc là khách nhầm lẫn thôi. Mà mochi cứng là sao nhỉ?)
「あっそ。じゃあ、もういいわ」
「À, ra thế. Vậy thì thôi được rồi.」
「……失礼します……???」
「……Xin thất lễ ạ……???」
今日、店全体で情報共有をしたところ、その商品の中に入っているお餅が解凍されていなかったらしい。
厨房が調理工程を間違えて提供してしまった商品。その質問を僕に問いかけられた。僕がクレーム対応を実際にするのは初めてだったこと。その時間、たまたま僕一人だけでフロアの作業を行っていたこと。夜遅い時間ということもあり、厨房にも日本人の店員がいなかったこと。
Hôm nay, sau khi toàn bộ cửa hàng chia sẻ thông tin, tôi mới biết rằng phần mochi trong sản phẩm đó thực sự đã không được rã đông.
Đó là một sản phẩm mà bếp đã làm sai quy trình chế biến trước khi đem ra cho khách. Và tôi chính là người bị khách chất vấn về điều đó. Vì đây là lần đầu tiên tôi thực sự phải xử lý phàn nàn của khách hàng; vì vào thời điểm đó, tình cờ chỉ có một mình tôi trực ở sảnh ngoài; và cũng vì đêm đã muộn nên trong bếp không có nhân viên người Nhật nào cả.
様々な要因が重なり、僕は初めてのクレームをもらった。僕のミスは厨房に確認を取らず、独断かつ曖昧な返事を返してしまったこと。店長のミスはシフト体制と新人への教育に対する管理不行き届き。
本来なら店長による直接指導で終わる程度の内容なのだが、ここ一週間は新柏店が全体的にゴタゴタしていたこともあって、このクレーム対応の件についての情報共有がされていなかった。一週間が経って、痺れを切らしたSVが店長に直接電話をかけてきた次第である。
Rất nhiều yếu tố chồng chéo lên nhau khiến tôi nhận lấy lời phàn nàn đầu tiên trong đời. Lỗi của tôi là đã không xác nhận lại với phía bếp mà tự ý đưa ra câu trả lời mơ hồ. Lỗi của quản lý là thiếu sót trong việc quản lý ca làm việc và đào tạo nhân viên mới.
Lẽ ra, sự việc này chỉ dừng lại ở mức quản lý trực tiếp nhắc nhở là xong, nhưng vì tuần qua chi nhánh Shinkashiwa đang trong tình trạng lộn xộn nên thông tin về vụ phàn nàn này đã không được chia sẻ kịp thời. Một tuần trôi qua, vị SV đã hết kiên nhẫn và trực tiếp gọi điện cho quản lý.
(嘘でしょ)
(Không thể tin được.)
当事者の僕としても、急にテーブルまで呼び出されてチョコパイの感想を聞かされた程度の認識だった。今日になって指導されるまで、自分が対応したのが商品へのクレームだったことも知らなかった。本当に他責思考な言葉になってしまうが、僕は厨房を完璧な聖域のように思っていた。SVに叱られて初めて、厨房でも失敗する事があると知った。
新潟のスーパーでの勤務経験から来る厨房への信頼感と飲食店での経験不足による戸惑い。その二つが最悪な形で重なってしまった。
Với tư cách là người trong cuộc, lúc đó tôi chỉ nhận thức đơn giản là mình bất ngờ bị gọi ra bàn để nghe cảm nhận về cái bánh chocolate pie. Cho đến tận hôm nay khi bị chỉ trích, tôi thậm chí còn không biết rằng lần ứng phó đó chính là một vụ phàn nàn về sản phẩm. Nghe có vẻ như đang đổ lỗi cho người khác, nhưng thật sự tôi đã luôn coi nhà bếp như một "thánh địa" hoàn hảo. Chỉ đến khi bị SV mắng, tôi mới biết rằng ngay cả trong bếp cũng có lúc sai lầm.
Sự tin tưởng tuyệt đối dành cho nhà bếp có được từ kinh nghiệm làm việc tại siêu thị ở Niigata, kết hợp với sự bối rối do thiếu kinh nghiệm làm việc tại các nhà hàng ăn uống. Hai điều đó đã chồng chéo lên nhau theo cách tồi tệ nhất có thể.
「はい、失礼します」
「Vâng, xin chào ông.」
店長が電話を切る気配がして、俯いていた顔を上げる。
Cảm nhận được quản lý đã cúp máy, tôi mới ngẩng khuôn mặt đang cúi gằm của mình lên.
「店長。本当にすいませんでした」
「Quản lý. Tôi thực sự xin lỗi anh.」
「こっちもクレーム対応の指導不足だった。ごめんね」
「Anh cũng có lỗi vì đã thiếu sót trong việc hướng dẫn cách xử lý phàn nàn của khách. Xin lỗi em nhé.」
お互いに叱られた直後の暗い顔で謝り合う。何とも情けない成人男性であった。そのまま二人で事務所へと歩みを進める。僕は店長の顔を見れなかった。
Hai người đàn ông trưởng thành, với khuôn mặt u ám sau khi bị mắng, cứ thế nói lời xin lỗi nhau. Thật là một cảnh tượng thảm hại. Cả hai cùng bước về phía văn phòng. Tôi đã không thể ngẩng đầu nhìn thẳng vào mặt quản lý.
「まぁ、失敗は誰にでもあるからさ。次から気を付けてくれれば大丈夫だよ。普段の勤務態度見てても、今回の件はわざとではないと分かってるからさ!」
「Thôi, ai mà chẳng có lúc thất bại. Từ lần sau em chú ý hơn là được rồi. Nhìn thái độ làm việc hàng ngày của em, anh biết chuyện lần này không phải em cố ý mà!」
「はい……」
「Vâng...」
「じゃあ、このまま休憩いってらっしゃい!」
「Vậy bây giờ em đi nghỉ giải lao đi nhé!」
「はい……」
「Vâng...」
相手が店長とはいえ、2歳しか歳の離れていない相手に22歳の僕は手厚く慰められてしまっていた。大学を卒業してから、誰かに叱られるのは久々の体験だった。みっともない自分が恥ずかしくて、事務所の椅子に座るでもなく、隅っこの床に体育座りをして静かに膝を抱えた。
Dẫu đối phương là quản lý, nhưng tôi – một thanh niên 22 tuổi – lại đang được người chỉ hơn mình vỏn vẹn 2 tuổi an ủi một cách nồng hậu. Kể từ khi tốt nghiệp đại học, đã lâu lắm rồi tôi mới lại bị ai đó mắng nhiếc như thế này. Cảm thấy xấu hổ vì sự thảm hại của bản thân, tôi đã không ngồi vào ghế mà chọn một góc sàn nhà, ngồi bó gối và lặng lẽ ôm lấy hai chân mình.
(ダサいなぁ……)
(Thật là thảm hại quá đi...)
しばらく何をするでもなく自己嫌悪に浸っていた。そこまで落ち込むほどのクレーム内容ではないと、片桐さんや他の同僚には慰められた。しかし、僕にとっては心にくるほどの衝撃であった。真面目な新人として積み上げてきた自信が、たった一本の電話で音を立てて崩れていくような感覚だった。グラグラと視界が揺れる。
Tôi cứ thế chìm đắm trong sự chán ghét bản thân mà chẳng buồn làm gì suốt một hồi lâu. Dẫu cho Katagiri-san và các đồng nghiệp khác có an ủi rằng nội dung lời phàn nàn đó không đến mức phải suy sụp như vậy, nhưng đối với tôi, đó là một cú sốc chạm đến tận tâm can. Cảm giác như sự tự tin mà tôi đã dày công bồi đắp với tư cách là một "lính mới nghiêm túc" đang vỡ vụn ra sau một cuộc điện thoại duy nhất. Tầm mắt tôi chao đảo dữ dội.
正直に言うと、自分はフロアとして完璧だと自惚れていたのだ。年下の優しい同僚たちが僕の仕事ぶりを褒めてくれるから良い気分に浸っていたのだ。本当に穴があったら入りたい気分だ。ロッカーにでも入ってしまおうか。
Thú thật, tôi đã tự mãn rằng mình là một nhân viên sảnh ngoài hoàn hảo. Vì những đồng nghiệp nhỏ tuổi và tốt bụng luôn khen ngợi cách làm việc của tôi, nên tôi đã đắm chìm trong cảm giác hân hoan đó. Thật sự lúc này tôi chỉ muốn tìm một cái lỗ nào đó để chui xuống cho rảnh. Hay là chui quách vào trong tủ đồ nhỉ.
「っ……」
「Ư...」
壁際に置かれたロッカーに身体をぐっと押し付ける。扉に刺さっていた鍵が背中に当たって、僕は微かに身じろぎした。鈍い痛みで涙が出そうになるのを堪えた。周囲には休憩中のベトナム人が何人かいる。みっともない姿を揶揄われたくない日本人としてのプライドがあった。
Tôi ghì chặt cơ thể mình vào dãy tủ đồ đặt sát tường. Chiếc chìa khóa còn cắm trên cửa tủ đâm vào lưng, khiến tôi khẽ rùng mình. Tôi phải cắn răng kìm nén những giọt nước mắt sắp trào ra vì cơn đau âm ỉ. Xung quanh tôi có vài người Việt Nam cũng đang nghỉ ngơi. Tôi vẫn còn cái lòng tự trọng của một người Nhật, không muốn để lộ dáng vẻ thảm hại này để rồi bị họ đem ra làm trò cười.
その時だった。
視界の端から黄色い果物が覗き込んできた。
Chính lúc đó.
Từ góc tầm mắt tôi, một loại quả màu vàng hiện ra.
「えっ、バナナ?」
「Ơ, chuối sao?」
僕が座り込んでいる場所の対角線上。そこで談笑していたベトナム人。僕と年齢は大差ないような二人の女の子。
そのうちの一人が、手に持っているバナナを半分に割って、食べて、と言うように微笑みながら差し出してきた。
Phía đối diện nơi tôi đang ngồi, có hai cô gái người Việt Nam trạc tuổi tôi đang tán gẫu. Một trong hai người họ bẻ đôi quả chuối đang cầm trên tay, rồi mỉm cười đưa cho tôi như muốn nói: "Anh ăn đi".
「あ、ありがとう。いいの?」
「A, cảm ơn chị. Tôi ăn thật nhé?」
こくっと頷く彼女。何か自分も渡せるものを探そうと、がさごそとバッグの中身を漁ったが、都合よく持ち歩いているお菓子は何もなかった。
Chị ấy khẽ gật đầu. Tôi vội vàng lục lọi trong túi xách để tìm thứ gì đó có thể tặng lại, nhưng chẳng đào đâu ra được một món bánh kẹo nào cả.
僕が顔を上げると彼女と視線が合った。急にバッグの中を漁り出した日本人を不思議そうに眺めていた。
気の利いたお返しはできそうにない。
僕は観念して、半分になったバナナを顔の横で軽く振った。せめて感謝の気持ちだけでも届けたい。
Khi tôi ngẩng mặt lên, ánh mắt hai đứa chạm nhau. Chị ấy nhìn tôi với vẻ thắc mắc, có lẽ vì thấy tôi chàng người Nhật này tự dưng lại cuống cuồng lục túi.
Chẳng có món quà nào tinh tế để đáp lại lúc này cả.
Tôi đành chấp nhận, khẽ giơ nửa quả chuối lên ngang mặt và vẫy nhẹ. Ít nhất, tôi cũng muốn gửi gắm lòng biết ơn của mình.
「ありがとう、バナナ、好きだよ!」
「Cảm ơn chị nhé!Tôi... thích chuối lắm!」
「っ……!」
「..……!」
なんだかカタコトになってしまったが、ちゃんと僕の喜びは伝わったようだった。こくっと満面の笑みを浮かべる彼女。その胸元の名札にはウーと書かれていた。
Dẫu câu nói có chút ngọng nghịu, nhưng dường như niềm vui của tôi đã được truyền tải trọn vẹn. Chị ấy nở một nụ cười rạng rỡ và gật đầu. Trên bảng tên gắn ở ngực chị ấy có ghi chữ "Ước".
「バイバイ」
「Bye bye.」
僕がバナナを齧りながら手を振ると、ウーさんも手を振り返しながら友達の方へと帰っていった。そのままベトナム語で何やら談笑しながら事務所を出ていった。その後ろ姿を静かに見送った。いつしか淀んだ心は晴れていた。
Vừa ăn chuối tôi vừa vẫy tay chào, chị Ước cũng vẫy tay lại rồi quay về phía người bạn của mình. Họ vừa nói chuyện gì đó bằng tiếng Việt vừa cùng nhau rời khỏi văn phòng. Tôi lặng lẽ dõi theo bóng lưng ấy. Chẳng biết từ lúc nào, tâm trí vốn đang đình trệ của tôi đã trở nên nhẹ nhõm và sáng sủa hơn.
(お礼したいけど、僕に何ができるだろう……)
(Mình muốn cảm ơn chị ấy quá, nhưng không biết có thể làm gì nhỉ...)
ウーさんの顔を覚えられる自信はなかった。彼女の長い黒髪と肌が色白なのは目に焼き付けたが、厨房で働く従業員はマスク着用が義務なこともあり、勤務中と休憩中では顔の印象が違ってくる。ましてフロアと厨房では仕事中に接する機会もほとんどないだろう。
Tôi không tự tin lắm vào việc có thể nhớ mặt chị Ước. Dẫu mái tóc đen dài và làn da trắng ngần của chị đã in sâu vào tâm trí, nhưng nhân viên làm trong bếp bắt buộc phải đeo khẩu trang, nên ấn tượng khuôn mặt lúc làm việc và lúc nghỉ ngơi chắc chắn sẽ khác nhau. Huống hồ, làm ở sảnh ngoài và trong bếp thì cũng chẳng mấy khi có cơ hội chạm mặt nhau trong giờ làm.
とりあえず、ウーという名前を覚えると決めた。
また、彼女と休憩の時間が重なることもあるだろう。
Trước mắt, tôi quyết định sẽ ghi nhớ cái tên "Chị Ước".
Chắc chắn rồi sẽ có lúc giờ nghỉ ngơi của chúng tôi lại trùng nhau một lần nữa thôi.
「甘い」
「Nó ngọt ngào.」
そして僕は最後の一口を飲み込んだ。
Và rồi, tôi uống cạn ngụm cuối cùng.
この太陽のような優しさを、ずっと覚えている。
Tôi sẽ mãi ghi nhớ sự dịu dàng tựa như ánh mặt trời này của chị.
一度も話したことのない外国人を相手に、自分の持っているバナナを分けてくれたこと。この時の僕はクレームの指導をされた後ということもあって、決して近寄りやすい雰囲気ではなかったと思うのに。
Chị đã chia sẻ quả chuối mình có cho một người ngoại quốc mà chị chưa từng nói chuyện cùng. Lúc ấy, tôi vừa mới bị khiển trách vì một lời phàn nàn của khách hàng, chắc hẳn trông tôi chẳng hề dễ gần chút nào.
多分、あなたは僕以外の人が相手でも同じように優しくしたのだろう。この時まで、僕とあなたは一度も話したことがなかったのだから。
Có lẽ, dù đối phương không phải là tôi, chị vẫn sẽ dịu dàng như thế. Bởi cho đến tận khoảnh khắc đó, tôi và chị vẫn là những người xa lạ chưa một lần cất lời.
その在り方が素敵だと思ったから、僕の脳は灼かれて、とば寿司で働くベトナム人への心理的な隔たりが陽光の中に溶けていったのだった。
Chính vì phong thái ấy quá đỗi tuyệt vời, tâm trí tôi như bị thiêu đốt, và mọi rào cản tâm lý đối với những người Việt Nam làm việc tại TOBA-SUSHI đã tan chảy hoàn toàn trong ánh nắng mai.
この日、僕は誓った。
どんなことがあっても、ウーさんの前では優しい日本人として在り続けると。
Ngày hôm ấy, tôi đã thề với lòng mình.
Dẫu có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, trước mặt chị, tôi sẽ luôn là một người Nhật Bản dịu dàng.
いつまでも彼女が笑っていられますように。
この人が悲しんだり傷つくような世界は許せない。
もし避けようのない痛みがあるなら代わってあげたい。
Cầu mong chị có thể mãi luôn mỉm cười.
Tôi không thể cam lòng trước một thế giới khiến chị phải buồn đau hay tổn thương.
Nếu có những nỗi đau chẳng thể nào tránh khỏi, tôi nguyện được gánh chịu thay chị.
一方的で拗れた願いだったが、男なんてそんなもんだ。
Dẫu biết đó chỉ là một ước muốn phiến diện và đầy rắc rối, nhưng đàn ông suy cho cùng cũng chỉ đến thế mà thôi.




