その店の名は"とば寿司"
研修初日、僕は大きな声で挨拶した。勤務中の制服として店長に手渡されたのは紺色のはっぴと白色の帽子。
フリーターとしてのデビューは回転寿司店だった。
Ngày đầu tiên tập sự, tôi đã cất tiếng chào thật dõng dạc. Bộ đồng phục làm thêm mà quản lý trao cho tôi là một chiếc áo Happi màu xanh thẫm và một chiếc mũ màu trắng.
Màn ra mắt với tư cách là một "freeter" của tôi chính là tại cửa hàng sushi băng chuyền này.
「初めまして、今日からよろしくお願いします!」
「Rất vui được gặp mọi người, từ hôm nay mong được mọi người giúp đỡ ạ!」
「新人さんですね。よろしくお願いします!」
「Cậu là người mới nhỉ. Rất vui được gặp cậu, cùng cố gắng nhé!」
とば寿司。
TOBA-SUSHI.
「あなたの疲れをふっとば寿司!」というCMが一躍有名となり、大人気の回転寿司チェーンストアとして発展を遂げた。寿司だけの提供に拘らず、らーめん・丼物・デザートなどのサイドメニューも充実しているのが特徴的だ。
Câu slogan "Sự mệt mỏi của bạn bị thổi bay(Futtobasushi!)" bỗng trở nên nổi tiếng rầm rộ, đưa thương hiệu này phát triển thành một chuỗi sushi băng chuyền cực kỳ ăn khách.
Điểm đặc trưng của chuỗi cửa hàng này là thực đơn món phụ vô cùng phong phú, không chỉ bó hẹp ở sushi mà còn có cả ramen, các món cơm bát (donburi) và món tráng miệng.
そのとば寿司の新柏店でアルバイトとして働くことにした。自宅の近くには丸亀製麺やサイゼリヤやマクドナルドや牛丼店などの飲食店があったが、僕はとば寿司に属することを選択した。
Tôi đã quyết định làm thêm tại chi nhánh Shinkashiwa của tiệm Toba-sushi. Dẫu cho quanh nhà có rất nhiều cửa hàng ăn uống khác như Marugame Seimen, Saizeriya, McDonald's hay các tiệm cơm thịt bò, nhưng tôi đã lựa chọn trở thành một phần của Toba-sushi.
(どうせ会えないんだけどな)
(Dẫu sao thì, cũng chẳng thể gặp lại được nữa đâu.)
それは髪色が自由という理由以外にもあった。大学三年生の夏、気まずい形で別れてしまった元恋人。生魚が口に合わないと言っていた彼女。私はハンバーグや玉子焼きしか食べられないからとおどけていた彼女。その姿が無意識のうちに脳裏をよぎったから、とば寿司の求人に目が吸い寄せられたのかもしれない。
自分が過去に囚われていると答え合わせするような志望理由であった。ふっと自嘲気味な笑みが浮かぶ。
Lý do tôi chọn nơi này không chỉ nằm ở việc được tự do về màu tóc. Hình bóng của người yêu cũ – người mà tôi đã chia tay trong một bầu không khí gượng gạo vào mùa hè năm thứ ba đại học – đã vô thức lướt qua tâm trí tôi. Cô ấy từng nói rằng mình không hợp với cá sống. Cô ấy còn đùa vui rằng vì mình chỉ ăn được sushi hamburger hay trứng cuộn thôi. Có lẽ vì thế mà ánh mắt tôi đã bị thu hút bởi thông tin tuyển dụng của Toba-sushi.
Đó là một lý do ứng tuyển giống như lời giải đáp cho việc tôi vẫn còn đang bị giam cầm trong quá khứ. Một nụ cười tự giễu khẽ hiện lên trên khuôn mặt tôi.
「どうして、ここで働こうと思ったんですか?」
「Tại sao anh lại muốn làm việc ở đây thế?」
「熱いのが苦手だからかな。ほら、うどん屋さんとかだと湯切りしなくちゃいけないよね。ファミレスも熱々の鉄板ステーキとか運ばなくちゃいけないだろうし。お寿司なら熱々ってことは無いだろうってね」
「Chắc là vì anh không giỏi chịu nhiệt đâu ạ. Em thấy đấy, như tiệm mì Udon thì phải trụng mì trong nước sôi sùng sục nè. Hay ở mấy nhà hàng gia đình thì phải bưng bê những đĩa bít tết nóng hổi trên bàn là gang nữa. Anh nghĩ làm ở tiệm sushi thì chắc sẽ chẳng bao giờ phải đụng vào đồ gì nóng quá đâu.」
過去の恋人への未練や自嘲は隠し、おどけて見せるかのように軽やかな理由を口にした。
「あははっ、そんな理由で選んだんですね。でも、この店を選んで正解だったと思います。ここは学生の数が多くて話しやすい職場ですから」
「Ha ha, ra là anh chọn vì lý do đó hả. Nhưng mà, em nghĩ anh chọn tiệm này là đúng đắn đấy. Ở đây có nhiều sinh viên lắm nên môi trường làm việc rất dễ trò chuyện và thoải mái.」
とば寿司新柏店は高校生や大学生のアルバイトが従業員の大半を占めていた。それも素直で若い子が多い印象を受けた。僕のようなフリーターにも偏見を持たず、誰もが明るく話しやすい職場だった。
僕に仕事を教えてくれたのは、今年で大学二年生になる片桐さんという亜麻色の髪の女の子だった。敬語混じりで快活に話しかけてくる彼女の笑顔は、僕をリラックスさせてくれた。心の中の緊張が解けるにつれて、こちらの口数も自然と増えていた。
Tại tiệm Toba-sushi chi nhánh Shinkashiwa, đa số nhân viên là học sinh cấp ba và sinh viên đại học. Tôi có ấn tượng rằng ở đây có rất nhiều bạn trẻ và ngoan ngoãn. Họ không hề có định kiến với một "freeter" như tôi; đây thật sự là một môi trường làm việc tươi sáng và dễ gần.
Người hướng dẫn công việc cho tôi là Katagiri-san, một cô gái có mái tóc màu vàng tro, năm nay là sinh viên năm hai đại học. Cách em ấy trò chuyện hoạt bát xen lẫn những lời kính ngữ cùng nụ cười rạng rỡ đã giúp tôi cảm thấy thư giãn hơn. Khi sự căng thẳng trong lòng dần tan biến, tôi cũng tự nhiên nói chuyện với em ấy nhiều hơn.
「でも意外と寿司屋でも、厨房ではネタの炙りだったり、揚げ物とか熱い仕事もやらされますよ。フロアで良かったですね」
「Nhưng mà bất ngờ là ngay cả ở tiệm sushi, trong bếp người ta vẫn phải làm những việc nóng như khò lửa cho mặt sushi hay làm đồ chiên đấy ạ. May mà anh làm ở sảnh ngoài nhỉ.」
「うん。本当にそう思うよ」
「Ừm. Anh cũng thực sự nghĩ vậy đấy.」
飲食店の業務は主に二手に分かれる。
料理を提供する厨房と。
もう一つが。
Công việc trong một nhà hàng chủ yếu được chia làm hai mảng.
Một là bộ phận bếp, nơi trực tiếp chế biến món ăn.
Và mảng còn lại chính là.
「あっ、会計が終わったみたいですね。まだ仕事に慣れてないでしょうし、一緒に18番テーブル行きましょうか」
「A, hình như bàn đó thanh toán xong rồi ạ. Anh vẫn chưa quen việc lắm nên để em cùng anh ra bàn số 18 nhé.」
「ありがとう、とても助かります」
「Cảm ơn em, giúp anh nhiều quá.」
片桐さんに手招きされる。
紺色のはっぴをはためかせて、大きく息を吸い込んだ。
Em ấy vẫy tay ra hiệu cho tôi.
Tà áo Happi màu xanh thẫm khẽ phấp phới, tôi hít một hơi thật sâu.
「お客様お会計です!」
「Quý khách thanh toán ạ!」
「「ありがとうございます!!!」」
「「Xin chân thành cảm ơn quý khách!!!」」
客への声掛けやテーブルの片付け、これらの業務を総称してフロアと呼ぶようだった。どうやらコミュニケーションが得意な人材は、接客担当へと回される仕組みになっているようだった。明らかに社交的な若者がフロアに集められている。この店でバイトを始めて数日だが、厨房の同僚よりもフロアの同僚の方が会話しやすいと感じていた。
Các nghiệp vụ như chào khách hay dọn dẹp bàn ăn, tất cả được gọi chung là "Sảnh ngoài" (Floor). Có vẻ như những nhân sự có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ được luân chuyển sang bộ phận tiếp khách này. Những người trẻ rõ ràng là rất hướng ngoại đều được tập trung tại đây. Dù mới bắt đầu làm ở tiệm này được vài ngày, tôi đã cảm thấy những đồng nghiệp ở sảnh ngoài dễ trò chuyện hơn hẳn so với những đồng nghiệp trong bếp.
いや、そう感じた最大の理由は。
Không, lý do lớn nhất khiến tôi cảm thấy như vậy là.
「それにしても驚きませんでしたか。厨房で働く人の半分はベトナム人なんですよ」
「Nhưng mà anh có ngạc nhiên không? Một nửa số người làm trong bếp là người Việt Nam đấy ạ.」
「最初は驚いたね。でも、日本人のバイトがフロアに集中するのは納得いったよ。何だか、厨房はベトナム語でコミュニケーション取ってる方がスムーズに仕事回りそう」
「Lúc đầu anh cũng bất ngờ lắm. Nhưng giờ thì anh hiểu tại sao nhân viên người Nhật lại tập trung hết ở sảnh ngoài rồi. Có vẻ như trong bếp, họ dùng tiếng Việt để trao đổi thì công việc sẽ trôi chảy hơn.」
「ふふっ、確かに」
「Hì hì, đúng là vậy thật ạ.」
何を隠そう、厨房で寿司を握っている従業員の殆どはベトナム人で構成されていた。とば寿司での職歴は五年目、いくつもの店舗を経験したという片桐さんが言うにも、これは新柏店だけの特徴らしい。
Thật vậy, hầu hết những người đang đứng nắm sushi trong bếp đều là người Việt Nam. Theo lời của Katagiri-san – người đã làm việc tại Toba-sushi được 5 năm và kinh qua nhiều chi nhánh – thì đây là đặc điểm riêng chỉ có ở tiệm Shinkashiwa này.
ちなみに、とば寿司の制服であるはっぴの左胸あたりを見れば外国人の判別は容易だった。そこにある名札の表記が漢字なら日本人。そうでないならベトナム人だ。
お互いが呼びやすいようにとの配慮だろう。ティエンやゴック、アインなど。日本人の発音に合わせたカタカナが刻まれていた。
Tiện đây, chỉ cần nhìn vào phía ngực trái của chiếc áo Happi là có thể dễ dàng nhận ra ai là người nước ngoài. Nếu tên trên bảng tên là chữ Hán, đó là người Nhật. Nếu không, đó là người nước ngoài.
Có lẽ đó là sự tinh tế để mọi người dễ gọi tên nhau hơn. Những cái tên như Tiên, Ngọc, Ánh... được khắc bằng chữ Katakana để phù hợp với phát âm của người Nhật.
「でも、あの人達は日本語も上手なんですよね。私たちへ普通に日本語で挨拶してくれますし」
「Nhưng họ giỏi tiếng Nhật lắm anh ạ. Họ vẫn chào hỏi bằng tiếng Nhật rất tự nhiên.」
「そこも驚いたよ。こんにちはとか、ありがとうございますとか、本当にペラペラだったね」
「Anh cũng ngạc nhiên về điều đó. Những câu như 'Xin chào' hay 'Cảm ơn', họ nói thực sự trôi chảy.」
現代の企業が海外からの留学生を積極的に受け入れている話は知っていたが、その状況に自分が居合わせるとなるとは思わなかった。まして和食の代表である寿司屋で。
Tôi biết chuyện các doanh nghiệp hiện nay tích cực tiếp nhận du học sinh nước ngoài, nhưng chưa từng nghĩ chính mình lại rơi vào hoàn cảnh đó. Huống hồ lại là ở một tiệm sushi – biểu tượng của ẩm thực Nhật Bản.
「あはは、向こうの人もお寿司は好きみたいですね。えびアボカドとか炙りサーモンとか、よく休憩中にカウンター席を利用してるの見かけます。まぁ、こっちから話しかけたりはしないですけどね」
「Ha ha, hình như họ cũng thích sushi lắm ạ. Em hay thấy họ ăn sushi tôm bơ hay cá hồi khò lửa ở quầy khách trong giờ nghỉ. Có điều em cũng chẳng bắt chuyện được với họ.」
「結構、日本に馴染んでるんだね。まぁ、フロアで働く分にはあまり関わらないか」
「Họ hòa nhập với Nhật Bản khá tốt nhỉ. Mà thôi, làm ở sảnh ngoài thì chắc cũng chẳng mấy khi liên quan đến nhau đâu.」
「ですね。私もあまり話したことないです」
「Vâng, em cũng ít khi trò chuyện với họ lắm.」
ここの従業員は事務所で各々の休憩時間を使う。それは日本人もベトナム人も共通で。それにしては異文化交流が積極的に行われている様子はなかった。同じ国同士の間柄で談笑したり、体育座りでスマホをいじったり。その光景は授業が始まる前の講義室を想起させた。
Nhân viên ở đây đều dùng văn phòng để nghỉ ngơi. Cả người Nhật lẫn người Việt đều như vậy. Thế nhưng, chẳng thấy có dấu hiệu nào của việc giao lưu văn hóa diễn ra tích cực cả. Ai nấy đều tán gẫu với đồng hương của mình, hoặc ngồi bó gối lướt điện thoại. Cảnh tượng đó gợi tôi nhớ về một phòng giảng đường trước giờ vào lớp.
「うん、そういうものだよね」
「Ừm, chuyện đó cũng là lẽ thường thôi mà.」
人間、どこに行っても、どこで生まれても同じだ。
どこか達観しているような感想を抱いた。
ベトナム人への悪感情はないが、特に仲良くすることもないだろうなと感じていた。
Con người ta dù đi đâu, hay sinh ra ở đâu thì cũng vậy thôi.
Tôi có cảm giác như mình đang nhìn thấu mọi chuyện với một thái độ bàng quan.
Tôi không có ác cảm với người Việt Nam, nhưng cũng cảm thấy rằng mình sẽ chẳng bao giờ trở nên thân thiết với họ làm gì.




