表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
2/15

いざ、千葉へ

 新潟の大学を卒業して、22歳になった春を迎えた。

 Tốt nghiệp đại học tại Niigata, tôi đón cái tuổi 22 vào một buổi xuân sang.

 

 僕が大学生の4年間を過ごした新潟県の長岡市は、11月の半ばから空が白み始め、一夜にして雪が通学路を覆いつくす。あの時は11月だと油断して、長靴を準備していなかった己の迂闊さを悔やんだ。また3月になって桜が咲いても、溶け残った雪が己の居場所を譲ろうとしない過酷な土地だった。冬場は路面凍結を防ぐため、常に融雪パイプが控えめな噴水で道路を濡らしていた。その何とも言えない異臭を覚えている。

 Tại thành phố Nagaoka, tỉnh Niigata – nơi tôi đã trải qua 4 năm đại học – bầu trời bắt đầu chuyển sang một sắc trắng xóa từ giữa tháng 11, và chỉ sau một đêm, tuyết đã phủ kín mọi nẻo đường tới trường. Khi ấy, vì chủ quan nghĩ rằng mới là tháng 11, tôi đã vô cùng hối hận vì sự sơ suất của mình khi chưa chuẩn bị sẵn ủng đi tuyết.

 Ngay cả khi tháng 3 tới, hoa anh đào đã nở rộ, những mảng tuyết chưa tan vẫn cứng đầu chẳng chịu nhường chỗ. Đó là một vùng đất khắc nghiệt. Vào mùa đông, để ngăn mặt đường đóng băng, những ống phun nước chống tuyết luôn làm ướt sũng mặt lộ bằng những tia nước nhỏ như đài phun mạn yếu ớt. Tôi vẫn còn nhớ như in cái mùi lạ đặc trưng, không sao tả xiết từ dòng nước ấy.


 (もう、大雪は勘弁したいよ)

 (Thật lòng, tôi chẳng muốn phải chịu đựng thêm những trận đại tuyết như thế nữa đâu.)

 

 ずっと寒さに疲れた心身を癒そうと決めていた。

 Tôi đã tự nhủ rằng mình sẽ xoa dịu thân tâm này, nơi đã kiệt sức sau những tháng ngày lạnh lẽo.

 

「叔父さん、次は千葉に住もうと思っているんだ。物件の下見に付き合ってくれない?」

「Chú ơi, sắp tới cháu định chuyển đến sống ở Chiba. Chú đi xem nhà cùng với cháu được không ạ?」

 

 関東には実の両親や歳の近い従兄弟が住んでいることもあり、4月から千葉県の新柏市に引っ越すことにした。

 家賃三万円でロフト付き。駐車場は無いが、もう運転には雪国で疲弊していたので車を手放すことにした。最寄り駅まで徒歩20分圏内であるし、たまに公園での縄跳びやジョギングをしていたので体力には自信があった。

 Vì có nhà bố mẹ đẻ và các anh chị em họ trạc tuổi đang sống ở vùng Kanto, tôi đã quyết định chuyển đến thành phố Shinkashiwa, tỉnh Chiba từ tháng Tư.

 Đó là một căn phòng có gác lửng với giá thuê 30.000 yên. Không có bãi đậu xe, nhưng vì đã quá kiệt sức với việc lái xe giữa vùng đất tuyết, tôi quyết định từ bỏ chiếc xe của mình. Khoảng cách đến nhà ga gần nhất là 20 phút đi bộ, nhưng tôi vốn có thói quen nhảy dây và chạy bộ ở công viên nên khá tự tin vào thể lực của mình.


 (そろそろバイト先を探さないとね)

 (Đã đến lúc phải tìm việc làm thêm rồi nhỉ.)


 そして引っ越しから二週間が経ち、いよいよフリーターとしての収入源を確保しようと考えた。

 大学生の時は大型スーパーの精肉部門での仕事に4年間を費やした。自宅から徒歩10分という距離は、雪国での通勤にとって非常に魅力的であった。その決断あってか、無遅刻、無欠勤で働いていたため、僕に対する勤務先での評判は悪くないものだった。スーパーで働く従業員の年齢層は高い。バイトとしての役割を淡々とこなすだけで、周囲の大人に真面目な子だと褒められるのは気分が良かった。

 Hai tuần trôi qua kể từ khi chuyển nhà, tôi bắt đầu nghĩ đến việc đảm bảo nguồn thu nhập cho cuộc sống của một "freeter".

 Suốt 4 năm đại học, tôi đã dành trọn thời gian làm việc tại bộ phận thịt của một siêu thị lớn. Khoảng cách 10 phút đi bộ từ nhà là một lợi thế vô cùng lớn cho việc đi làm ở vùng đất tuyết. Nhờ quyết định đó, tôi đã làm việc mà không một lần đi trễ hay nghỉ phép, vì thế uy tín của tôi tại nơi làm việc không hề tệ chút nào. Độ tuổi trung bình của nhân viên ở siêu thị khá cao. Chỉ cần hoàn thành thản nhiên vai trò của một người làm thêm mà được những người lớn xung quanh khen ngợi là "đứa trẻ nghiêm túc", cảm giác ấy thật không tồi.


 (よし、未経験者歓迎って書いてあるな)

 (Được rồi, ở đây ghi là hoan nghênh người chưa có kinh nghiệm.)

 

 だから今回も、徒歩で通える近場の求人情報を探すことにした。髪色自由という募集条件を見て、すぐに面接を申し込んだ。店の事務所で面接を終えた帰り道、卒業間近に染めたばかりの金髪が陽光を反射していた。

 Chính vì thế, lần này tôi cũng quyết định tìm những thông tin tuyển dụng ở gần nhà để có thể đi bộ đi làm. Thấy điều kiện tuyển dụng là "màu tóc tự do", tôi đã lập tức đăng ký phỏng vấn.

 Trên đường về sau khi kết thúc buổi phỏng vấn tại văn phòng của cửa hàng, mái tóc vàng mà tôi vừa mới nhuộm ngay sát kỳ tốt nghiệp lấp lánh phản chiếu dưới ánh nắng mặt trời.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ