柚城さんという生き方
日本の古き文豪、夏目漱石の"愛嬌というのは自分より強いものを倒す柔らかい武器"という言葉を心に刻んでいる。
Tôi luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của đại văn hào Nhật Bản thuở xưa, Natsume Soseki: "Sự đáng yêu, suy cho cùng chính là một thứ vũ khí mềm mại để đánh đổ những kẻ mạnh hơn mình."
ああ、この現実が小説だったなら。好きな人の心の奥深くをはっきりと読み解けるのに。今は想像するしかない。
Ôi, giá kể như cái hiện thực này là một cuốn tiểu thuyết thì tốt biết bao. Nếu được như vậy, tôi đã có thể thấu hiểu, đọc vị một cách rõ ràng tận sâu thẳm tâm can của người mình yêu rồi. Còn hiện tại, tôi chỉ có thể gửi gắm qua những dòng suy đoán, tưởng tượng của bản thân mà thôi.
(あっ、柚城さんが同僚に話しかけられてる。彼は同期の社員さんって言ってたな)
(A, Yuzuki-san đang được một người đồng nghiệp bắt chuyện kìa. Chị ấy từng bảo người đó là nhân viên chính thức vào làm cùng đợt với chị ấy thì phải)
サービスカウンターで働く恋人の姿は眩しい。
その一挙一動を参考にしたくて、たまに見惚れることにしていた。好きな人を眺めながら給料が発生するのが職場恋愛の良さでもある。
Dáng vẻ của người con gái tôi yêu khi làm việc tại quầy dịch vụ (service counter) trông tỏa sáng, lấp lánh đến nhường nào.
Vì muốn lấy từng nhất cử nhất động ấy của chị để làm tài liệu tham khảo cho bản thân, tôi đã tự quy định rằng thi thoảng mình phải hướng mắt ngắm nhìn chị đến mức ngẩn ngơ, mê mẩn. Việc vừa được thảnh thơi chiêm ngưỡng người mình yêu mà lại vừa được tính lương hành chính, có lẽ chính là một trong những điểm phúc lợi tuyệt vời nhất của cái gọi là yêu đương chốn công sở này.
「柚城さん、忙しいところにごめんね。ちょっといいかな。ここの発注をかけたいんだけど」
「Yuzuki-san này, xin lỗi vì đã làm phiền em trong lúc đang bận rộn như thế này nhé. Cho anh xin vài phút được không. Anh muốn tiến hành lên đơn đặt hàng cho khu vực này một chút.」
「はい、どこの発注ですか?」
「Dạ vâng ạ, anh muốn lên đơn đặt hàng cho khu vực nào thế anh?」
誰にでも分け隔てなく接して、笑顔を絶やさない。それが忙しい時でも、急に仕事を振られても、平等に優しくあれるように。そんな彼女を素敵だと思っている。
Chị luôn đối xử với bất cứ một ai một cách vô cùng bình đẳng, không chút phân biệt đối xử (vạn phương mỹ nhân), và nụ cười thì chưa bao giờ tắt trên môi.
彼女が同期の男性に話しかけられている光景を見ても、僕が嫉妬することはない。天真爛漫で、打算的で、八方美人で、あざとくて、そんな表裏のどちらを見せても可愛いと思ってしまうのだと。その愛嬌が溢れんばかりの立ち振る舞いに独占欲が湧くよりも、己が目指す到達点として感心するばかりだった。
Dẫu cho có phải chứng kiến cảnh tượng người con gái mình yêu đang vui vẻ trò chuyện cùng một gã đàn ông đồng nghiệp cùng đợt đi chăng nữa, thâm tâm tôi tuyệt nhiên chưa từng trỗi dậy một chút lòng ghen tuông, đố kỵ nào. Bởi lẽ, dẫu cho chị có phơi bày ra bộ dạng thiên chân vạn lạn, đầy tính toán, hay một kẻ khéo léo lấy lòng thiên hạ, một cố tình tỏ ra đáng yêu đi chăng nữa, thì dẫu là ở mặt tiền hay mặt trái của tấm huân chương ấy, tôi vẫn đều thấy chị vô cùng đáng yêu. Đối diện với một phong thái cử chỉ tràn ngập sự đáng yêu, khéo léo đến nhường ấy, thay vì nảy sinh lòng độc chiếm ích kỷ, thâm tâm tôi phần nhiều chỉ còn lại sự thán phục, cảm phục sâu sắc, xem đó như một đích đến, một cột mốc tối thượng đáo đạt điểm mà bản thân mình buộc phải hướng tới.
他人から見える自分の像を意識して、そして周囲に好かれるように振る舞うこと。
Luôn tự ý thức một cách cao độ về bức chân dung, hình ảnh của bản thân trong lăng kính của người đời, để rồi từ đó điều chỉnh hành vi, cử chỉ sao cho bản thân luôn nhận được sự yêu mến từ vạn vật xung quanh.
柚城さんは、それを割り切っているのだろうか。割り切っていると口では言いながらも、たまに彼女の表情に影が落ちている理由をずっと気にかけていた。
Yuzuki-san, liệu chị đã hoàn toàn chấp nhận từ bỏ, cam chịu đoạn tuyệt với những đấu tranh nội tâm để sống như vậy rồi hay chưa? Dẫu cho khuôn miệng chị lúc nào cũng nói cứng rằng bản thân đã hoàn toàn thông suốt, tuyệt không bận tâm, thế nhưng thi thoảng, việc một vệt bóng tối chầm chậm đổ sập xuống biểu cảm gương mặt của chị vẫn luôn là điều khiến tôi không khỏi bận lòng.
「いまさら、ちっちゃな罪悪感を抱いたところで、何になるんだろうね」
「Cho đến tận nông nỗi này rồi, thì việc bản thân có chợt nảy sinh một chút lòng tội lỗi, cảm giác tội lỗi (tội ác cảm) nhỏ nhoi đi chăng nữa, thì phỏng có ích gì cơ chứ.」
そうやって身を切るように、うそぶくような人だったから。
Chị vốn dĩ chính là một con người luôn nói cứng, dùng những lời lẽ bất cần như muốn che giấu đi tâm can của mình theo kiểu như vậy đấy.
「確かに私はあざといかもしれないけど、絶対に八方美人にはならないよ。自分のペースに引きずり込んでやろうって意思はあるんだけどね」
「Đúng là có thể bản thân tôi có chút "Azatoi" thật đấy, nhưng tôi tuyệt đối sẽ không bao giờ biến mình thành một kẻ bát phương mỹ nhân, khéo léo lấy lòng tất cả mọi người đâu nha. Dẫu sao thì, trong thâm tâm tôi luôn có một ý chí mạnh mẽ muốn kéo đối phương rớt thẳng vào cái nhịp độ, cái bẫy của riêng mình mà lị.」
柚城さんは多くの人に好かれている。
それらの好意を受け取るも、それらを受け取めすぎないという取捨選択が上手な女の子だった。
Yuzuki-san đang nhận được sự yêu mến, hảo cảm từ rất nhiều người xung quanh.
Chị là một cô gái vô cùng tài tình, khéo léo trong việc thực hiện các công đoạn thủ thải, lựa chọn tức là sẵn lòng đón nhận những thứ tình cảm hảo cảm ấy, thế nhưng tuyệt đối sẽ không để bản thân bị nhấn chìm, không thèm tiếp nhận chúng một cách quá mức.
「大丈夫、本当に無理はしてないからさ」
「Không sao đâu mà, thực sự là chị không hề gượng ép, quá sức bản thân một chút nào đâu.」
たくさんの好意を受け取めすぎないこと。それへの感謝は忘れてはいけないけど、その全てを地面に落として、その上を飄々と歩かなくてはいけない。
Việc không để bản thân tiếp nhận một cách quá mức những hảo cảm của người đời. Bản thân tuyệt đối không được phép lãng quên lòng biết ơn đối với những thứ tình cảm ấy, thế nhưng, ta lại bắt buộc phải lạnh lùng hất văng toàn bộ chúng xuống mặt đất, rồi cứ thế tiến bước một cách hiên ngang, thảnh thơi trên chính đống đổ nát ấy.
好きって感情は綺麗な側面を持つけれど、あっけなく砕けてしまうような脆さも伴っていて。自分が踏み躙ってきたものから目を逸らさないこと。まるでガラスの破片の上を素足で歩くような感覚になるのかもしれない。その痛みから逃れるべきではなく、そうしなくては打算と罪悪感の釣り合いが取れなくなってしまう。誰か個人への執着は捨てた方がいい。こんなことを続けていて、いつかは報いを受けるかもしれないけど。それでも……。
Thứ tình cảm mang tên "yêu thích" dẫu đúng là có sở hữu một khía cạnh vô cùng tươi đẹp, thế nhưng đi kèm với nó lại là một sự mỏng manh, dễ vỡ đến độ có thể dễ dàng tan tành mây khói chỉ trong một nốt nhạc. Việc bản thân tuyệt đối không được phép ngoảnh mặt làm ngơ, trốn tránh trước những thứ mà chính chân mình đã từng giẫm đạp, chà đạp lên. Cái cảm giác ấy, phải chăng cũng giống hệt như việc bản thân đang dùng đôi bàn chân trần để bước đi trên đống mảnh vỡ thủy tinh găm rắm vậy. Ta tuyệt đối không nên trốn chạy khỏi cái nỗi đau đớn ấy, bởi lẽ nếu không làm như vậy, cán cân giữa sự tính toán và lòng tội lỗi sẽ lập tức bị mất đi thế cân bằng tột cùng. Có lẽ tốt nhất là nên triệt để vứt bỏ hoàn toàn mọi sự chấp niệm, chấp trước vào bất kỳ một cá nhân cụ thể nào thì hơn. Việc cứ tiếp tục duy trì những hành vi như thế này, biết đâu chừng vào một ngày nào đó trong tương lai, bản thân sẽ phải gánh chịu quả báo, quả báo đích đáng không biết chừng. Thế nhưng, dẫu là như vậy đi chăng nữa……
「ねぇ、私たちさ。ここまで打算的なのに、いつまで可愛くいられるんだろうね。いつかは幻滅される日が来るのかな」
「Này em, hai đứa chúng mình ý…… dẫu cho bản thân có luôn tính toán, đầy rẫy sự đả toán đến mức độ này đi chăng nữa, thì liệu hai đứa có thể tiếp tục duy trì được diện mạo đáng yêu này cho đến bao giờ đây nhở? Liệu rằng có một ngày nào đó, hai đứa mình sẽ phải đối diện với cái ngày đối phương hoàn toàn vỡ mộng, ảo diệt về nhau hay không.」
はっきりと言葉にはしないけど。お互いが共通で抱いている不安でもある。かわいいの第一印象が移ろいゆく外見から始まることを思えば、その武器が錆びてしまう未来を予想するのも当然の帰結だった。いつか、言葉の通じない環境に放り込まれたら、この"あざとさ"という共通言語が通じなくなったとき、自分たちの輪郭は崩れてしまうのではないか。このような漠然とした不安が浮かんでくるのも自然の摂理だった。
Dẫu cho chị không hề thốt ra thành những câu từ gãy gọn, thế nhưng đó lại chính là nỗi bất an, lo lắng chung mà cả hai đứa chúng tôi đều đang âm thầm ôm ấp trong lòng. Nếu nghĩ đến việc cái ấn tượng đầu tiên của sự 'đáng yêu' vốn dĩ luôn được khơi mào, bắt nguồn từ một vẻ bề ngoài luôn biến đổi, xoay vần theo thời gian, thì cái viễn cảnh thứ vũ khí ấy bỗng chốc bị hoen gỉ, hao mòn vào một ngày nào đó trong tương lai suy cho cùng cũng chỉ là một kết cục tất yếu mà thôi.
僕も気付くと、うそぶくような言葉選びをしていた。
Tôi chợt nhận ra, tự bao giờ chính bản thân mình cũng đã bắt đầu học theo cái cách thức lựa chọn từ ngữ nói cứng, ngụy biện giống hệt như chị.
「それは環境によるでしょうね。いつかは言葉が通じない人の相手をする時もあるかもしれない。このスーパーも、最近は留学生の従業員が増えてきたらしいですから」
「Chuyện đó thì chắc là phải tùy thuộc vào môi trường xung quanh nữa chị ạ. Biết đâu chừng sẽ có một ngày, bản thân chúng ta sẽ phải đứng ra làm việc, đối ứng với những con người hoàn toàn không thể thông hiểu ngôn ngữ, lời nói thì sao. Cái siêu thị này cũng vậy, nghe nói dạo gần đây số lượng nhân viên là du học sinh đang ngày một tăng lên rồi mà.」
「ふふっ、そうだね。それでも、君なら大丈夫な気がしちゃうな。君のかわいさは万国共通だったらいいな。ズルい私のようなあざとさでは、同じ言葉が通じない人の相手は無理だからね」
「Hì hì, đúng là vậy nhở. Thế nhưng, nếu là em thì chị lại cứ có một cảm giác an tâm rằng dẫu có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa thì em vẫn sẽ ổn thỏa cả thôi. Giá mà cái sự đáng yêu ấy của em là một thứ chân lý vạn năng, có thể thông hành trên toàn thế giới thì tốt biết bao. Chứ còn cái kiểu "Azatosa" mang đầy sự gian xảo, ranh mãnh của chị ý, bảo chị đi đối ứng với những người không cùng chung ngôn ngữ thì quả thực là một điều hoàn toàn bất khả thi rồi.」
どんな時間にも終わりはある。そう達観するような目線が僕らの共通項で、お互いに割り切った関係性でいられるように。一時的な快楽に溺れたくないという気高さが、孤独な冬の寂しさで揺らがぬように。その場の衝動的に後悔するくらいならば、似たもの同士で先んじて心の穴を埋め合えるように。だから、この関係を維持していた。
Bất kỳ một khoảng thời gian nào, dẫu có tươi đẹp đến đâu, thì suy cho cùng cũng đều sẽ phải đón nhận một hồi kết thúc. Cái lăng kính nhìn đời đầy vẻ đạt quan, thấu suốt ấy chính là điểm chung, là mẫu số chung lớn nhất kết nối hai đứa chúng tôi lại với nhau, để từ đó hai đứa có thể luôn duy trì một mối quan hệ vô cùng rõ ràng, sòng phẳng, biết điểm dừng. Để bản thân không bị dao động, lung lay trước cái sự cô quạnh, hiu quạnh của mùa đông lạnh giá. Để nếu như có lỡ nảy sinh lòng hối hận trước những sự bốc đồng, xung động nhất thời, thì những kẻ có tâm tính, căn tính giống nhau như hai đứa đã có thể chủ động đi trước một bước, tự nguyện lấp đầy cho những khoảng trống hoác, những lỗ hổng nơi thâm tâm của đối phương từ trước mất rồi. Chính vì lẽ đó, hai đứa chúng tôi mới tiếp tục nỗ lực duy trì cái mối quan hệ này.
「先のことを考えるの苦手です。だから、いいんですよ。柚城さんの、そういう世渡り上手で、ちょっとズルい自覚があるのも魅力的だと思ってます」
「Tôi vốn dĩ cực kỳ kém khoản suy nghĩ về những chuyện tương lai xa xôi. Chính vì thế, như thế này lại tốt chị ạ. Bản thân tôi luôn nghĩ rằng cái nét tính cách khéo léo đưa đẩy, thế độ giỏi giang, lại có phần tự ý thức được sự gian xảo, ranh mãnh của chính mình ấy ở chị…… thực sự là một điều vô cùng quyến rũ và tràn đầy mị lực.」
「そうね。私も、そんな風に言葉を尽くしてくれる君のことが大好きなんだよ」
「Chị hiểu rồi. Bản thân chị cũng vậy, chị luôn nghĩ rằng cái việc em luôn dùng hết tâm can, dốc cạn mọi ngôn từ để bày tỏ lòng mình như thế kia…… chính là một nét mị lực vô cùng quyến rũ của riêng em đó.」
そういう世代に生きているから。そんなありふれた言葉で飾りたくはないけど。SNSで呟かれるような安っぽい恋バナの枠組みに収まりたくはなかったけど。自分たちの関係だけは特別な聖域にあると信じたかったけど。そうも行かなかった。
Bởi lẽ, hai đứa chúng tôi đều đang sinh tồn trong một thời đại, một thế hệ mang đặc trưng như thế. Dẫu cho thâm tâm tuyệt đối không muốn dùng những câu từ sáo rỗng, tầm thường ấy để tô vẽ cho tình cảm của hai đứa, dẫu cho bản thân tuyệt không muốn mối quan hệ này bị gói gọn, thu hẹp trong chiếc khung của những câu chuyện tình yêu nhan nhản trên mạng xã hội SNS, dẫu cho hai đứa đã từng khát khao muốn tin tưởng rằng chỉ có duy nhất mối quan hệ của riêng hai đứa mình mới là một sự tồn tại "đặc biệt" trên đời…… Thế nhưng, rốt cuộc thì mọi chuyện cũng tịnh không thể nào diễn ra theo cái chiều hướng lý tưởng như vậy được.
ーーー
「えっ、柚城さんが異動って言いましたか……どうして、何の理由ですか!?」
「Cái gì cơ ạ…… Chị bảo là Yuzuki-san sẽ bị điều chuyển công tác đi nơi khác ư…… Tại sao lại như vậy, lý do cụ thể là gì thế ạ!?」
大学一年生の冬から大学三年生の夏まで。
Từ những ngày đông giá rét của năm nhất đại học, cho đến tận mùa hạ chói chang của năm ba đại học.
その夏、雪をきっかけに始まった交際関係があっけなく溶けていった。柚城さんが別の店舗に異動することになった。新潟の土地は広い。ここから車で三時間もかかるような新しい住居に彼女は引っ越しすることを強いられた。
Vào chính cái mùa hạ năm ấy, mối quan hệ yêu đương vốn được khơi mào, bắt đầu từ những bông tuyết trắng tinh khôi bỗng chốc tan chảy một cách hoàn toàn. Yuzuki-san đã chính thức nhận được quyết định điều động công tác sang một chi nhánh cửa hàng khác. Đất đai vùng Niigata vốn dĩ vô cùng rộng lớn. Người con gái ấy đã bị ép buộc phải thu dọn hành lý, chuyển đến một nơi ở mới cách tòa chung cư hiện tại tận 3 tiếng đồng hồ chạy xe ô tô.
「ずっと断ってはいたんだけど、しつこく誘ってくる同期がいてね。その人が新しい店長に私たちの関係を報告したみたい。街中で二人で手を繋いでいるのを目撃したって。ふふっ、私のリスク管理もまだまだ改善の余地ありってことだね」
「Chị thì lúc nào cũng tìm cách khước từ, từ chối rồi, thế nhưng ở chỗ làm lại có gã đồng nghiệp cứ lầm lì, lải nhải bám riết lấy chị mãi không buông cơ. Hình như chính gã đó đã thẳng thừng báo cáo mối quan hệ giữa hai đứa mình lên cho quản lý cửa hàng mới rồi thì phải. Gã bảo đã tận mắt chứng kiến hai đứa mình nắm tay nhau đi trên phố. Hì hì, xem ra cái khả năng quản trị rủi ro (risk management) này của chị vẫn còn rất nhiều điểm cần phải cải thiện, nâng cấp thêm em nhở.」
事の発端は、僕たちの社内恋愛が新しい店長に発覚したらしい。以前の店長は、職場恋愛が仕事の妨げにならないなら鷹揚に見逃してくれるというスタンスだったから、その暗黙の了解が永遠に続くと甘えてしまっていた。
Sự tình khởi nguồn của mọi chuyện, hóa ra là việc mối quan hệ luyến ái chốn công sở của hai đứa chúng tôi đã không may bị vị quản lý mới của cửa hàng phát giác. Vị quản lý tiền nhiệm vốn là một con người vô cùng rộng lượng, ưng thuận, luôn mắt nhắm mắt mở bỏ qua nếu như việc yêu đương không gây ảnh hưởng hay cản trở đến tiến độ công việc, chính cái sự dung túng ngầm ấy đã khiến hai đứa chúng tôi sinh lòng ỷ lại, cứ ngỡ cái sự ngọt ngào này sẽ kéo dài mãi mãi đến tận thiên thu.
「っ……」
「Hức……」
アルバイトの僕には特に通達も処分もなかった。だから本当に何も知らなかった。僕は無力だった。柚城さんへの事実確認は水面下で行われたようで、彼女が異動する本当の理由は殆どの社員も知らないようだった。いつかは噂になってしまうのだろうけど。
Là một nhân viên bán thời gian, tôi tịnh không hề nhận được bất cứ một lời thông cáo hay hình thức xử phạt nào cả. Chính vì thế, tôi thực sự hoàn toàn mù tịt, không hề hay biết một chút gì về giông bão ngoài kia. Bản thân tôi lúc ấy quả thực là vô cùng bất lực, vô lực. Việc xác nhận sự thật với Yuzuki-san dường như đã được ban quản lý tiến hành một cách vô cùng âm thầm dưới mặt nước, thành ra cái lý do thực sự khiến chị phải điều chuyển công tác, hầu như toàn bộ các nhân viên chính thức khác trong cửa hàng đều không một ai hay biết. Dẫu biết rằng rồi đây, chuyện này thế nào cũng sẽ biến thành những lời đồn thổi, đồn đại khắp nơi mà thôi.
「もう、そんな顔しないの。私はこうなるリスクも理解していて告白したし、それに君も応えてくれたんだから。それを気に止む必要はないし、ずっと前にも言ったでしょ。どんな風に世界が変わっても、私たちが自分の生き方を貫く限り、私たちは生きていけるんだと思うよ」
「Thôi nào, đừng có trưng ra cái bộ mặt thảm hại như thế nữa mà em. Chị vốn dĩ đã hoàn toàn thấu hiểu, ý thức rõ về những rủi ro (risk) như thế này ngay từ trước khi mở lời tỏ tình với em rồi, và chính em cũng đã dũng cảm đáp lại tấm chân tình ấy của chị cơ mà. Em tuyệt đối không cần phải để tâm, tự dằn vặt bản thân làm gì cả, chẳng phải từ rất lâu trước đây chị đã từng bảo với em rồi sao. Dẫu cho thế giới vạn vật ngoài kia có xoay vần, biến đổi theo cái cách thức như thế nào đi chăng nữa, chỉ cần hai đứa mình vẫn kiên định quán triệt lối sống của riêng bản thân, thì chị tin là hai đứa chúng mình vẫn có thể sinh tồn một cách tốt đẹp mà thôi.」
こっちに罪悪感を抱かせまいとする明るい声色に、僕は無力感に打ちひしがれて俯くしかなかった。
Thế nhưng, đối diện với cái tông giọng tươi vui, sáng sủa ấy của chị, tôi chỉ biết bất lực cúi gằm mặt xuống sàn nhà.
「……ごめんなさい。あなたの居場所を壊してしまって」
「……Tôi xin lỗi chị. Tôi xin lỗi vì đã nhẫn tâm phá vỡ đi chốn dung thân, nơi chốn thuộc về của chị.」
「しょうがないよ。もし、ずっと可愛がられる条件があるとしたら、ずっと迷惑をかけないでいることだから。このまま狭い場所で噂が広がっちゃったら、新店長の考えだと色々とまずいのかもね」
「Chuyện đã rồi thì đành chịu thôi chứ biết sao bây giờ em. Nếu như trên đời này thực sự tồn tại một thứ điều kiện tiên quyết để một ai đó luôn nhận được sự yêu thương, cưng chiều từ người đời, thì đó chính là việc bản thân ta phải tuyệt đối không được gây phiền hà, không được đem lại vương víu, rắc rối cho họ. Cứ cái đà này, nếu như những lời đồn thổi cứ thế lan rộng ra trong cái không gian chật hẹp này, thì đứng ở cương vị, góc nhìn tư duy của vị quản lý mới kia, có lẽ sẽ nảy sinh rất nhiều điều bất cập, không hay ho cho xem.」
柚城さんが冗談めかした笑みを浮かべた。こんな時でも彼女は大人だった。彼女の表情を直視できずに俯いていると、冷たくも優しい指先が僕の前髪を払ってくれた。
Yuzuki-san khẽ nở một nụ cười đùa cợt, mang vài phần tiếu ngạo. Ngay cả vào những thời khắc như thế này, người con gái ấy vẫn luôn tỏ ra vô cùng chín chắn, trưởng thành. Vì mình không cách nào dũng cảm nhìn thẳng vào biểu cảm gương mặt của chị bấy giờ, tôi cứ thế cúi gằm mặt xuống, để mặc cho những đầu ngón tay vừa lành lạnh lại vừa ngập tràn sự dịu dàng của chị khẽ vén nhẹ phần tóc mái trước trán của tôi lên.
「うーん、駆け落ちはダメだよね……それとも一回くらい試してみる?」
「Hửm xem nào, việc hai đứa mình cùng nhau bỏ trốn, dắt tay nhau chạy trốn thì chắc chắn là không được rồi nhở…… Hay là hai đứa mình cứ liều mình thử nghiệm một lần cho biết xem sao đi?」
「……本当にごめんなさい」
「……Tôi thực sự xin lỗi chị, tôi xin lỗi chị nhiều lắm.」
自分のせいで、自分のせいで、好きな人に迷惑をかけてしまった。その責任を取ることさえも出来ていない。
Chính vì bản thân mình, chính vì sự tồn tại của mình mà người con gái mình yêu thương nhất đã phải gánh chịu biết bao phiền hà, rắc rối.
「そんなに謝らないでよ。最近は大学の授業に出るのも楽しくなってきたんでしょ。周りとの差にコンプレックスを抱いていたのに授業が楽しくなってきたのは、間違いなく君の努力が実を結んだって証拠だよ。ずっと知ってるし、ずっと隣で見てきたんだから」
「Em đừng có mở mồm ra là liên tục xin lỗi chị như thế nữa mà. Chẳng phải dạo gần đây, việc em đến trường tham gia các buổi học ở giảng đường đại học đã dần trở nên vô cùng vui vẻ, ngập tràn hứng khởi rồi đó sao. Bản thân em rõ ràng đã từng ôm giữ biết bao nỗi mặc cảm, tự ti trước khoảng cách, sự chênh lệch năng lực với bạn bè xung quanh, thế mà giờ đây việc học tập lại trở nên vui vẻ đến nhường ấy, đó chính là một minh chứng, một bằng chứng đanh thép cho thấy những nỗ lực, cố gắng bấy lâu nay của em đã thực sự kết trái, đơm hoa rồi đấy. Chị luôn biết rõ điều đó mà, bởi lẽ chị đã luôn ở ngay cận kề, luôn dõi theo em từ hàng ghế bên cạnh suốt bấy lâu nay rồi còn gì.」
こんな時でも柚城さんは優しかった。遠い地に飛ばされる彼女を見て痛々しいと思うことも、僕が勝手な憐憫を抱くことさえ許さぬように。
Ngay cả vào những thời khắc như thế này, Yuzuki-san vẫn luôn dịu dàng với tôi đến thế. Cứ như thể, chị tuyệt đối không muốn cho phép tôi được nảy sinh cái tâm lý tội nghiệp, thương hại đối với một kẻ sắp sửa bị thổi bay, điều động đến một mảnh đất xa xôi, hẻo lánh như chị vậy.
その気高い優しさに包まれて、慰められて、愛されて、勝手に口が動いていた。
Được bao bọc, vỗ về bởi chính cái sự dịu dàng cao khiết, đầy kiêu hãnh ấy của người con gái trước mặt, chiếc khuôn miệng tôi cứ thế tự động mấp máy, thốt lên thành lời một cách vô thức.
「あなたのおかげで自分を好きになれたから。こんな自分でも誰かを笑顔にできるんだって。ごめんなさい、大学は辞めたくないです。学費を払ってくれた両親に迷惑がかかるし……大学も今では僕の居場所だから」
「Chính là nhờ có chị, nhờ có sự hiện diện của chị nên tôi mới có thể học được cách yêu thương chính bản thân mình của hiện tại. Tôi mới biết được rằng, hóa ra dẫu là một kẻ như tôi thì vẫn có năng lực mang lại nụ cười, sưởi ấm cho một ai đó ở trên đời. Tôi xin lỗi chị…… tôi thực sự không muốn từ bỏ, không muốn thôi học đại học đâu ạ. Làm như vậy sẽ gây phiền hà, mang lại gánh nặng lớn cho bố mẹ, những người đã còng lưng chi trả học phí cho tôi…… Với cả, ngôi trường đại học ấy, giờ đây cũng đã trở thành một chốn dung thân, một nơi chốn thuộc về của riêng tôi rồi.」
このまま別れるか、僕が大学を辞めて一緒に暮らすか。
Cứ thế này rồi nói lời chia tay, đoạn tuyệt, hay là bản thân tôi sẽ thẳng thừng thôi học đại học để chuyển đến sống chung, cùng nhau sinh tồn với chị.
逡巡すれど、答えの決まりきった二択だった。
答えが決まりきっていても、僕の視界は歪んでいた。
Thâm tâm dẫu có không ngừng dao động, đắn đo, thế nhưng đó lại là một bài toán hai lựa chọn vốn dĩ đã có sẵn một đáp án vô cùng rõ ràng, quyết định từ trước.
Dẫu cho đáp án đã hiển hiện mồn một trước mắt, thế nhưng lăng kính, tầm nhìn của tôi bấy giờ vẫn không cách nào ngăn được sự nhòe nhoẹt, méo mó vì những giọt nước mắt.
「そういう君の誠実さが好きだったよ。君を初めて見た時から、ずっと素敵な人に囲まれて生きてきたんだろうなって思っていた。私も素敵な思い出として君の記憶に残りたかったの。そうしたら恋人にまでなれちゃった。だから泣かないでよ、そんなに鼻水でグシャグシャな顔だと、流石にかわいくはないからさ?」
「Chị thực sự vô cùng yêu thích cái sự thành thực, thành kính ấy ở con người em đấy. Ngay từ cái khoảnh khắc đầu tiên khi nhìn thấy em, thâm tâm chị đã luôn nghĩ rằng, cậu em này chắc chắn đã luôn được bao bọc, sinh tồn trong sự yêu thương của những con người vô cùng tuyệt vời, tử tế xung quanh rồi. Bản thân chị cũng vậy, chị đã từng khát khao muốn biến mình thành một mảnh ký ức, một kỷ niệm vô cùng tuyệt vời khắc sâu trong tâm khảm của em. Ai mà ngờ được là sau đó, chị lại có thể thuận lợi biến thành người yêu của em luôn cơ chứ. Chính vì thế, em đừng có khóc nhè nữa mà, cái bộ dạng mặt mũi nhòe nhoẹt, be bét nước mắt nước mũi như thế kia, nhìn kiểu gì thì nhìn cũng tuyệt đối chẳng có một chút đáng yêu nào đâu đấy nhé?」
「っ、ナイーブな男の子をいじめないでくださいっ……」
「Hức…… chị đừng có nhẫn tâm bắt nạt một đứa con trai đang nhạy cảm, ngây thơ (naive) như thế này nữa đi mà……」
「ごめんごめん、はい、ティッシュ使ってね」
「Chị xin lỗi, chị xin lỗi mà nè, ngoan nào, cầm lấy khăn giấy (tissue) rồi lau mặt đi em.」
柚城さんが微笑みながら、ティッシュの箱を差し出してくる。これから遠くに飛ばされる彼女の方が被害者であるはずなのに。その指先の冷たさと優しさが、これが最後の擦り合わせであることを告げているようだった。
Yuzuki-san khẽ mỉm cười, chầm chậm đưa hộp khăn giấy về phía tôi. Rõ ràng, người con gái sắp sửa bị thổi bay, điều động đến một mảnh đất xa xôi hẻo lánh như chị mới chính là nạn nhân chịu nhiều bất công nhất trong câu chuyện này cơ mà. Thế nhưng, cái cảm giác vừa lành lạnh lại vừa ngập tràn sự dịu dàng nơi đầu ngón tay ấy của chị, bấy giờ lại như đang lặng lẽ tuyên cáo với thâm tâm tôi rằng―đây chính là công đoạn cọ xát, hòa hợp cuối cùng của hai đứa chúng tôi mất rồi.
ーーー
「これで、荷物は全部ですね」
「Thế này là toàn bộ hành lý đã xong xuôi rồi chị nhở.」
「うん、朝から手伝ってくれてありがとう」
「Ừm, cảm ơn em vì đã đến phụ giúp chị từ sáng sớm nhé.」
そして8月3日、長岡花火大会の当日だった。夕暮れの街並みが日本一の夜空の祭典を前にして、どこか浮足立った熱気に包まれていく特別な日だった。花火会場へと向かう人々で外が騒がしくなる中、がらんとした部屋に二人で座り込んだ。部屋の隅に積まれた段ボール箱に背中を預けた。この背中に感じる寄り掛かりにも、明日には引っ越し業者が綺麗さっぱりと回収にきてしまう。
Và rồi, ngày 3 tháng 8 cũng đã đến―đó chính là ngày diễn ra Lễ hội pháo hoa Nagaoka. Giữa bối cảnh bầu không khí bên ngoài cửa sổ đang dần trở nên vô cùng náo nhiệt, ồn ã bởi dòng người đang nô nức đổ về phía khán đài xem pháo hoa, thì ở bên trong căn phòng trống hoác gầy guộc này, hai đứa chúng tôi lại cùng nhau ngồi bệt xuống sàn. Tôi tựa tấm lưng mình vào đống thùng các-tông đang chất đống ở góc phòng. Cái điểm tựa mà tôi đang nương gá này, suy cho cùng thì cũng chỉ ngay ngày mai thôi, bên phía công ty vận chuyển nhà sẽ đến và thu dọn sạch sành sanh.
「ふふっ、私がいなくなっても元気でいてね」
「Hì hì, dẫu cho sau này không có chị ở bên cạnh nữa thì em cũng phải sống thật vui vẻ, khỏe mạnh đấy nhé.」
「はい、もう食中毒にはなりませんよ」
「Vâng ạ, tôi tuyệt đối sẽ không để bản thân bị ngộ độc thực phẩm thêm một lần nào nữa đâu mà.」
「それは本当に気を付けてね。これからは私も自炊しないとだけど」
「Chuyện đó thì em thực sự phải đặc biệt lưu tâm, chú ý đấy nhé. Từ nay trở đi, bản thân chị cũng phải bắt đầu tự mình xuống bếp nấu nướng mất rồi.」
恋人関係の破局を前提に未来予想図を思い浮かべる。それが僕たちの最後の営みだった。
Lấy tiền đề là sự đổ vỡ, chấm dứt hoàn toàn của mối quan hệ người yêu, hai đứa chúng tôi cùng nhau vẽ ra một bức họa đồ, viễn cảnh tương lai trong tâm tưởng.
「もう夕食の時間ですね、どこかに行きますか?」
「Cũng đã đến giờ ăn tối rồi chị nhở, hai đứa mình có đi đâu ăn chút gì không chị?」
「うーん、外は花火大会で通行規制があるからね。どうしようかな」
「Ừm, ở bên ngoài vì có lễ hội pháo hoa nên người ta đang tiến hành phân luồng, hạn chế giao thông dữ dội lắm đấy. Giờ phải làm sao bây giờ nhở.」
二人して首を傾げる。最後の日にしては、いつも通りの日常だった。この期に及んで、僕たちの関係を密告した同期や新しい店長を非難するような醜い言葉で、恋人として最後の営みを汚したくなかった。
Cả hai đứa cùng nhau khẽ nghiêng đầu suy nghĩ. Đối diện với cái ngày cuối cùng bên nhau này, mọi thứ diễn ra sao mà cứ như một ngày nhật thường, ngày thường nhật bình dị như bao ngày khác vậy. Cho đến tận nông nỗi này rồi, hai đứa chúng tôi tuyệt nhiên không muốn dùng những lời lẽ xấu xí, tồi tệ để oán trách, sỉ vả gã đồng nghiệp đã nhẫn tâm mách lẻo, hay vị quản lý cửa hàng mới kia, bởi làm như vậy chẳng khác nào đang tự tay vấy bẩn lên cái nghi thức, cái danh phận người yêu cuối cùng của hai đứa cả.
「結局、こうなりますよね」
「Rốt cuộc thì, mọi chuyện lại diễn ra theo cái kịch bản như thế này chị nhở.」
「あははっ、私たちらしくていいんじゃない。最後の食事が菓子パンっていうのもさ」
「A ha ha, chẳng phải phong cách như thế này lại giống hệt với hai đứa chúng mình nhất hay sao. Ngay cả bữa ăn cuối cùng bên nhau mà lại là mấy chiếc bánh mì ngọt mua ở cửa hàng tiện lợi như thế này cơ chứ.」
もそもそと甘いクリームパンを咀嚼する。隣の彼女も同じようにパンを齧っていた。
Tôi cứ thế chậm rãi, nhai mỏm mẻm từng miếng bánh ngọt khô khốc trong miệng.
遠距離恋愛という可能性はなかった。僕たちはお互いの在り方を尊重している。他人に可愛いと持て囃される恋人の姿を見ても、その裏の素顔を同棲によって共有しているから嫉妬などしない。しかし、もう同棲生活が破綻してしまうならば、その甘い前提も砂の城のように崩れ去ってしまう。本来なら、もっと早くに嫉妬すべきだったのかもしれない。僕も柚城さんもお互いに優しすぎた。自分で決めた理想のために周囲の好意を踏み躙る覚悟を決めたのに、一番近くにいるお互いの偶像だけは例外なのだと見て見ぬふりをしていた。やっかみも逃げ出すような愛想を振り撒きながら、夜は薄暗い部屋で傷を舐め合っていた。そうすることでしか心に刺さった棘が抜けなかったから。
Giữa hai đứa chúng tôi, tuyệt nhiên chưa từng tồn tại cái khả năng gọi là viễn cự ly luyến ái. Bởi lẽ, hai đứa chúng tôi luôn tôn trọng phương thức tồn tại, cách thức sống của đối phương. Dẫu cho có phải chứng kiến cảnh tượng người yêu của mình luôn nhận được sự săn đón, cưng chiều và khen ngợi là đáng yêu từ vạn vật xung quanh đi chăng nữa, thâm tâm tôi cũng chưa từng nảy sinh một chút lòng ghen tuông ích kỷ nào, bởi lẽ chính nhờ việc sống chung, đồng sàng cộng chính mà tôi đã được diện kiến và chia sẻ toàn bộ bộ mặt thật phía sau tấm màn nhung ấy của chị rồi. Thế nhưng, một khi cái cuộc sống đồng thê ấy buộc phải đi đến hồi phá sản, đổ vỡ, thì cái tiền đề ngọt ngào ấy cũng sẽ lập tức tan tành mây khói, sụp đổ như một tòa lâu đài cát trước biển mà thôi. Nghĩ lại thì, đáng lẽ ra từ trước đó, bản thân tôi phải biết ghen tuông một chút mới phải nhở. Cả tôi và Yuzuki-san, hai đứa chúng tôi suy cho cùng đều đã quá đỗi dịu dàng với đối phương mất rồi. Bản thân rõ ràng đã hạ quyết tâm, chấp nhận gánh chịu vết thương để chà đạp, giẫm đạp lên những hảo cảm của vạn vật xung quanh nhằm đạt được cái lý tưởng mà mình đã chọn, thế nhưng chỉ riêng đối với hình bóng, thần tượng của đối phương ở ngay cận kề bên cạnh, hai đứa lại cứ vờ như mù lòa, nhắm mắt làm ngơ chọn cách không thèm nhìn thấu. Để rồi cứ thế vạn phương đưa đẩy, gieo rắc sự đáng yêu khiến cho những lời đồn đại, ghen ghét cũng phải chào thua, còn khi màn đêm buông xuống, hai đứa lại rúc vào nhau trong căn phòng tối tăm để âm thầm liếm láp vết thương cho nhau. Bởi lẽ, hai đứa hiểu rằng chỉ có bằng cái cách thức ấy, cái dằm, cái gai găm rắm sâu thẳm nơi thâm tâm mới có thể tạm thời được nhổ bỏ ra ngoài.
他人に好かれるための"あざとさ"という武器の限界と、狭いコミュニティでの付き合いを知っていたからこそ、彼女は誰も巻き添えにせず、たった一人でガラスの破片の上を歩いて去っていく道を選んだのだろう。
Chính vì bản thân đã thấu hiểu quá rõ về cái giới hạn của thứ vũ khí mang tên cố tình tỏ ra đáng yêu để nhận được sự yêu thích từ người đời, cũng như hiểu rõ cái bản chất của những mối quan hệ trong một cộng đồng chật hẹp, nên người con gái ấy mới chủ động lựa chọn phương án không kéo theo bất kỳ một ai vào vòng xoáy rắc rối, một mình âm thầm bước đi trên đống mảnh vỡ thủy tinh găm rắm để rời đi.
こんな終わり方になってまで、完璧にリスクを管理して、飄々と生きる強い人として、そっといなくなろうとする気高さが好きだった。僕には割り切れなかったから。
Dẫu cho kết cục có phải đón nhận một hồi kết thúc thảm hại đến nhường này đi chăng nữa, chị vẫn luôn quản trị rủi ro một cách vô cùng hoàn hảo, rồi cứ thế khẽ khàng rời đi với tư cách là một con người mạnh mẽ, tiến bước một cách hiên ngang, thảnh thơi trên đời. Tôi thực sự vô cùng yêu thích cái sự cao khiết, kiêu hãnh ấy ở chị. Bởi lẽ, bản thân tôi vốn dĩ không cách nào có thể sống một cách rõ ràng, sòng phẳng, dứt khoát được như chị.
どうか、幸せになってください。
Cầu mong cho chị, từ nay về sau sẽ luôn được hạnh phúc.
これが蛇足だと分かっていても、伝えたくなってしまうから。こんな安っぽい言葉を贈っても、自己満足の結晶でしかないと分かっているのに。
Dẫu biết rõ rằng đây chỉ là một lời thừa thãi, một chiếc đuôi rắn không hơn không kém, thế nhưng thâm tâm tôi bấy giờ lại cứ thôi thúc, muốn được thốt ra thành lời bằng được. Dẫu biết rằng việc trao gửi một câu từ rẻ rúng, tầm thường đến nhường này suy cho cùng cũng chỉ là kết tinh của sự ích kỷ, tự thỏa mãn của bản thân mà thôi, thế nhưng.
「ねぇ、柚城さん」
「Này chị, Yuzuki-san……」
「どうしたの?」
「Có chuyện gì thế em?」
重苦しい雰囲気の中、花火より小さく脆い、淡いシャボン玉のようなプライドがパチンと割れる音がした。
Giữa bầu không khí đang dần trở nên vô cùng nặng nề, u uất ấy, thâm tâm tôi chợt nghe thấy tiếng một bong bóng xà phòng mang tên lòng tự trọng, niềm kiêu hãnh (pride) mỏng manh bỗng chốc vỡ tan tành cái "tách".
「……好きです。幸せになってくださ……」
「……Tôi thích chị. Cầu mong cho chị từ nay về sau sẽ luôn được hạnh phú……」
「ねぇ、やめてね。ちゃんと別れよう。好きだから別れるみたいな言葉を最後にするのは不幸になる。お互い、自分の生き方を貫くって決めたんだから。そういう心残りはノイズになるよ。もうかわいくなれなくなっちゃう」
「Nè em, dừng lại ở đó đi nha. Hai đứa mình hãy nói lời chia tay một cách thật gãy gọn, dứt khoát đi nào. Việc đem những câu từ kiểu như "vì còn yêu nên mới phải chọn cách buông tay" để làm lời kết cho một mối tình, suy cho cùng chỉ chuốc lại sự bất hạnh mà thôi. Chẳng phải hai đứa mình đã thống nhất, quyết định là sẽ kiên định quán triệt lối sống của riêng bản thân rồi hay sao. Những sự vương vấn, lòng tâm bận kiểu như thế kia, rốt cuộc cũng chỉ biến thành những tạp âm, tiếng nhiễu (noise) nhiễu loạn mà thôi. Cứ như vậy là hai đứa mình sẽ không thể tiếp tục giữ được diện mạo đáng yêu được nữa đâu đấy.」
僕の言葉は食い気味に打ち切られる。
Câu từ của tôi bấy giờ đã bị chị thẳng thừng chặn đứng, đánh gãy ngay từ khi chưa kịp thốt ra trọn vẹn.
いつも愛嬌が溢れんばかりの柚城さんに哀しそうな表情をさせてしまっていた。
Chính bản thân tôi bấy giờ đã vô tình khiến cho khuôn mặt của Yuzuki-san nhuốm lên một biểu cảm vô cùng sầu muộn, u buồn.
「私たちは、打算的に生き抜く道を選びながら、どこか非日常に憧れを抱いてしまう。ただの失恋に大層な理由を取ってつけて、悲劇のヒロインを気取りたくなる。吐き気と高熱で弱々しくなった歳下の男の子を看病して、献身的で天使のようなお姉さんだと思わせたくなる。君が好きだと言ってくれた言葉選びも、何の変わり映えもしない日常に不思議なお姉さんの感じを演出したかったから」
「Hai đứa chúng mình ý mà, dẫu lựa chọn con người, con đường sinh tồn một cách đầy tính toán, đả toán tính, thế nhưng sâu thẳm thâm tâm lúc nào cũng ôm giữ một niềm khát khao, ngưỡng mộ hướng về những điều phi nhật thường. Chỉ là một chuyện thất tình bình thường ở đời thôi, thế mà hai đứa mình cứ thích tìm kiếm, áp đặt cho nó những lý do vô cùng to tát, đại ngôn để rồi từ đó tự biến mình thành một nhân vật bi kịch, đóng vai một nàng nữ chính bi kịch tội nghiệp. Giống như cái việc chị chăm sóc cho một cậu em trai nhỏ tuổi hơn đang nằm bẹp gí vì những trận buồn nôn và sốt cao ấy, thâm tâm chị bấy giờ chẳng phải cũng là vì muốn khiến cho đối phương phải nghĩ rằng, ôi người chị này mới hiến dâng, hi sinh và giống như một thiên sứ dịu dàng làm sao đấy ư. Ngay cả cái cách thức lựa chọn câu từ mà em luôn bảo là yêu thích ở chị cũng vậy, suy cho cùng cũng chỉ là vì chị muốn cố tình dàn dựng, đạo diễn ra một cảm giác về một người chị gái vô cùng thần bí, kỳ lạ lồng ghép vào cái cuộc sống nhật thường vốn dĩ chẳng có một chút gì thay đổi, biến chuyển này mà thôi.」
他人の努力を認めることは躊躇わないのに、自分自身の優しさだけは素直に認められない人だった。
Chị ấy vốn dĩ là một con người luôn như vậy―chưa từng một chút đắn đo, do dự khi đứng ra công nhận, ngợi ca lòng tốt, sự dịu dàng của người đời, thế nhưng chỉ riêng đối với lòng tốt, sự dịu dàng của chính bản thân mình thì lại tuyệt đối không cách nào thành thực, thản nhiên thừa nhận cho được.
「そんな風に言わなくても、ちゃんと知ってましたよ、あなたが自分のことを好きになり切れないこと。ねぇ、柚城さん……」
「Dẫu cho chị có cố tình dùng những lời lẽ như thế để tự hạ thấp bản thân đi chăng nữa, thì thâm tâm tôi bấy giờ đã hoàn toàn biết rõ hết cả rồi mà. Tôi biết rõ rằng, bản thân chị thực chất chưa từng có cách nào để học được cách yêu thương trọn vẹn chính con người mình cả. Này chị, Yuzuki-san……」
「私たちは似ているね。あざとくする頭のネジの外し加減も、真面目な時に現実逃避できないところも」
「Hai đứa chúng mình quả thực là vô cùng giống nhau em nhở. Từ cái cách thức nới lỏng, tháo gỡ chiếc đinh ốc nơi đại não để cố tình tỏ ra đáng yêu, cho đến cả cái sự bất lực, không cách nào tiến hành trốn tránh hiện thực mỗi khi bản thân phải đối diện với những thời khắc nghiêm túc, chân phương trên đời.」
柚城さんが段ボール箱の影に隠れるように、僕に背を向けた。僕は問い詰めるべきか、ずっと迷っていたことを口にすると決めた。
Yuzuki-san khẽ quay lưng về phía tôi, như thể muốn thu mình, trốn chạy vào sau bức bóng của đống thùng các-tông. Bản thân tôi bấy giờ đã hạ quyết tâm phải thốt ra thành lời cái điều mà bấy lâu nay tâm trí luôn không ngừng đắn đo, tự vấn xem có nên gặng hỏi chị hay không.
"伝えるべき"と"伝えないと気が済まない"は、ちゃんと区別しなくてはいけないと頭では分かっている。
これは、どっちなのだろうか。
Đại não tôi vốn dĩ thấu hiểu rất rõ rằng, bản thân bắt buộc phải phân định một cách rạch ròi giữa hai khái niệm: "điều thực sự cần phải truyền tải" và "điều mà nếu không nói ra thì bản thân sẽ không cách nào cam tâm, nguôi ngoai cho được".
Thế nhưng, cái điều sắp sửa diễn ra này, rốt cuộc là thuộc về vế nào đây nhở.
「うん、あなたのように生きるつもりです。ずっと本当にありがとうございました……先輩……」
「Vâng ạ, từ nay về sau tôi cũng sẽ học theo cách thức tồn tại, quyết tâm sinh tồn giống hệt như chị. Suốt khoảng thời gian dài vừa qua, tôi thực sự vô cùng cảm ơn chị…… thưa tiền bối (senpai)……」
「っっ!?……どうして気付いたの?」
「Hức……!? ……Sao, sao em lại có thể nhận ra chuyện đó được chứ?」
バッと柚城さんが振り返る。その顔がくしゃっと泣きそうに歪んだ。最後のピースが嵌まっていくようだった。
Yuzuki-san đột ngột xoay phắt người lại. Biểu cảm gương mặt của người con gái ấy bấy giờ bỗng chốc co rúm, méo mó đi như thể chực chờ muốn khóc nhè đến nơi rồi. Cái khoảnh khắc ấy, cứ như thể mảnh ghép cuối cùng của bức tranh câu đố đã hoàn toàn được khảm chặt vào nhau vậy.
(やっぱり隠しておきたかったのか、ごめんなさい)
(Hóa ra quả thực là chị luôn khao khát muốn chôn giấu, che đậy cái quá khứ ấy đi đến tận cùng sao, tôi thực sự xin lỗi chị)
この長岡市にデザイン大学は一つしかない。彼女が僕を気にかけてくれるようになったのは、自分の通う大学を明かしてからだった。彼女の部屋でオンライン授業を受けていると、どこか眩しいものを見つめるように目を細めながら、僕の頭を撫でてくれた。どこか泣きそうな表情にも見えて、いつも不思議に思っていた。年齢を重ねると涙脆くなってしまうのかな、と失礼な考えを抱いていたのは秘密だ。そして三年生になって、だんだんと大学の授業を楽しめるようになったと打ち明けた時、ようやく僕の努力が実を結んだのだと自分のことのように喜んでくれた。
Cái mảnh đất thành phố Nagaoka này, suy cho cùng thì cũng chỉ sở hữu duy nhất một ngôi trường đại học chuyên về ngành thiết kế (design đại học) mà thôi. Cái thời điểm chị bắt đầu đặc biệt lưu tâm, dành sự quan tâm và lo lắng cho tôi, chính là sau khi tôi chủ động khai báo, tiết lộ về ngôi trường đại học mà mình đang theo học. Mỗi khi tôi ngồi ngay tại căn phòng của chị để tham gia các buổi học trực tuyến (online), chị lại khẽ nheo đôi mắt như thể đang dõi nhìn theo một thực thể vô cùng lấp lánh, rồi lại chầm chậm đưa tay vuốt ve, xoa đầu tôi. Biểu cảm gương mặt khi ấy của chị, nhìn kiểu gì cũng thấy phảng phất một nét gì đó như thể chực chờ rơi lệ, khiến thâm tâm tôi lúc nào cũng cảm thấy vô cùng hiếu kỳ, kỳ lạ. Bản thân tôi thuở ấy còn âm thầm giữ kín một bí mật, một dòng suy nghĩ có phần hơi thất lễ rằng, phải chăng khi con người ta ngày một nhiều tuổi lên thì tuyến lệ cũng theo đó mà trở nên nhạy cảm, dễ khóc nhè hơn hay không. Để rồi, vào cái năm tôi bước sang tuổi năm ba đại học, khi tôi thành thực bày tỏ, thú nhận với chị rằng bản thân đã dần tìm thấy niềm vui, sự hứng khởi trong các tiết học ở giảng đường, thì chị lại là người đầu tiên bộc lộ niềm vui sướng, hạnh phúc tột cùng như thể chính những nỗ lực của bản thân mình đã gặt hái được quả ngọt vậy, cứ như thể đó là chuyện của chính bản thân chị vậy.
柚城さんがこのスーパーに入社したのは19歳の春だったと偶然に知ってしまった。ずっと彼女が語らなかった、高卒で就職したというには一年間の謎の空白がある。私室の奥底に隠されていた画材用具。自分の力量を思い知らされて、大学生の一年目でドロップアウトする生徒をたくさん見てきたという教授の言葉。僕がパワーポイントの課題で行き詰まった時、彼女はPCのマウスを一緒に握りながらプレゼンボードの作成を手伝ってくれた。その的確な助言を社会人としての積み重ねによるものだと思っていたが、あれは彼女にとっても見覚えのある課題だったのかもしれない。
Thế rồi, tôi lại vô tình biết được một sự thật rằng, cái thời điểm Yuzuki-san chính thức gia nhập, vào làm việc tại cái siêu thị này là vào mùa xuân của năm chị tròn 19 tuổi. Cái quá khứ mà chị luôn tuyệt khẩu không bao giờ nhắc tới, cái gọi là 'tốt nghiệp cấp ba rồi đi làm ngay' ấy, thực chất lại chứa đựng một khoảng trống hoác, một khoảng lặng bí ẩn kéo dài trọn vẹn một năm trời. Rồi còn cả đống dụng cụ, họa cụ chuyên dụng ngành họa vốn được cất giấu cẩn thận tận sâu thẳm nơi tư thất của chị nữa chứ. Cả lời vị giáo sư từng cảm thán trên giảng đường rằng, thầy đã từng chứng kiến biết bao lứa sinh viên vừa bước chân vào năm nhất đại học đã ngay lập tức bị nếm mùi thất bại, nhận ra giới hạn năng lực của bản thân để rồi chọn cách bỏ học, buông xuôi (dropout). Ngay cả cái lần tôi bị tắc nghẽn, gặp bế tắc trước bài tập thuyết trình bằng PowerPoint, chính chị đã là người chủ động tiến đến nắm chặt lấy chiếc chuột máy tính (mouse) cùng tôi, tận tình hỗ trợ tôi hoàn thành tấm bảng thuyết trình (presentation board). Cái sự chỉ dẫn, trợ giúp vô cùng chuẩn xác, đanh thép ấy của chị, thuở ban đầu tôi cứ ngỡ tất cả là nhờ vào vốn kinh nghiệm tích lũy suốt bao năm lăn lộn ngoài xã hội của một người trưởng thành mà có, thế nhưng biết đâu chừng, đó thực chất lại là một dạng bài tập vô cùng quen thuộc, một bài toán mà chính bản thân chị cũng đã từng phải đối diện trong quá khứ không biết chừng.
「ごめんなさい、そんな顔をさせたくて気付いた訳じゃないんです。どうしても気になっちゃって」
「Xin lỗi chị, tôi tịnh không hề có ý muốn đào bới để khiến chị phải trưng ra cái biểu cảm đau khổ như thế này đâu ạ. Chỉ là thâm tâm tôi thực sự không cách nào kìm nén được sự bận lòng, tò mò mà thôi.」
彼女が過去を打ち明けなかった理由なんてどうでもいい。どんな思い入れを重ねていたとしても、あの秋に僕のことを救ってくれたのは彼女本来の優しさだ。
それだけでいい。
Cái lý do khiến người con gái ấy lựa chọn việc triệt để chôn giấu, tuyệt không hé răng nửa lời về quá khứ của bản thân, đối với tôi giờ đây thực sự đã không còn quan trọng nữa rồi. Dẫu cho chị có từng gửi gắm, chồng chất biết bao nhiêu nỗi niềm, tâm tư đau đớn lên mảnh đất ấy đi chăng nữa, thì có một sự thật bất biến là vào cái mùa thu năm ấy, thực thể đã chìa bàn tay ra để cứu rỗi, kéo tôi lên khỏi vũng lầy suy cho cùng vẫn chính là lòng tốt, là sự dịu dàng nguyên bản (nguyên bản ưu tú) của riêng con người chị.
Chỉ cần như thế thôi, đối với tôi là đã quá đủ rồi.
「本当にごめんなさい。幸せになってください、なんてありきたりな言葉で自分の気持ちを伝えようとして。でも、僕は、本当に、あなたに変えてもらったんです……」
「Tôi thực sự xin lỗi chị nhiều lắm. Việc tôi cứ cố công dùng những câu từ vô cùng sáo rỗng, tầm thường như "cầu mong cho chị luôn được hạnh phúc" để truyền tải tiếng lòng của bản thân quả thực là nực cười thật. Thế nhưng, đối với tôi mà nói, thực sự. tôi đã hoàn toàn được tái sinh, được thay đổi thành một con người khác là nhờ có sự hiện diện của chị……」
「……もう言わないで……」
「……Đừng nói nữa…… xin em đừng thốt thêm lời nào nữa mà……」
柚城さんの声が震えていた。もう引き返せない。
Tông giọng của Yuzuki-san bấy giờ đã run rẩy lên bần bật.
「いやです。僕はあなたのおかげでっ……」
「Tôi không muốn. Chính là nhờ có chị nên tôi mới có thể……」
「もう、いいのっ!」
「Đủ rồi, như vậy là quá đủ rồi mà!」
菓子パンの包装の残骸だけが手の中に残った。気まずい形で何度も通ってきた玄関を後にする。いつのまにか、花火大会も終わっていた。駅へと向かう人混みの流れに揉まれながら、僕は一人暮らしの部屋に戻った。
Rốt cuộc, thứ duy nhất còn sót lại bên trong lòng bàn tay tôi bấy giờ chỉ còn là phần xác phế thải, tàn dư của chiếc vỏ bọc bánh mì ngọt khô khốc. Tôi lầm lũi quay lưng bước ra khỏi cánh cửa chiếc hiên chạy quen thuộc, nơi mà hai đứa đã từng vô số lần đi qua đi lại trong một bầu không khí vô cùng ngượng ngùng, ngột ngạt. Tự bao giờ, Lễ hội pháo hoa ngoài kia cũng đã chính thức đi đến hồi hạ màn, kết thúc. Hòa mình và để mặc cho dòng người đang nô nức chen chúc đổ xô về phía nhà ga xô đẩy, nhào nặn, tôi lầm lũi bước đi một mình để trở về căn phòng trọ đơn thân của chính mình.
(この手紙って……)
(Bức thư này là sao đây nhỉ……)
花火大会の一ヶ月後、ポストに宛先も宛名もない封筒が入っていた。窓のカーテンを閉め切った薄暗い部屋で手紙を開ける。自然と指先が震えていた。
Thời điểm một tháng sau khi Lễ hội pháo hoa Nagaoka chính thức khép lại, tôi bất chợt phát hiện bên trong hòm thư của mình có xuất hiện một phong bì thư hoàn toàn không để lại bất cứ thông tin nào về tên tuổi người gửi lẫn danh tính người nhận. Đứng bên trong không gian căn phòng trọ đang được kéo kín toàn bộ rèm cửa, tôi chầm chậm bóc mở bức thư ra.
そこには見覚えのある筆跡でこう書いてあった。
Ở ngay trên mặt giấy bấy giờ, hiện ra một nét chữ, một phong cách bút tích vô cùng quen thuộc mà tôi đã từng nhìn thấy không biết bao nhiêu lần, khẽ khắc ghi những dòng chữ như sau:
拝啓、元気に暮らしていますか?
私は新しい職場でもすぐに馴染めるようになりました。
だから、もし私の心配をしているなら安心してね。
でも充分な貯金が貯まったら、この店を退職して九州の
方へと引っ越すつもりです。雪国は一人暮らしには向いてないよね。今度は暑いところで過ごしたいな。日焼けする準備を整えないとね(笑)
君が新人として入ってきた時、大学名を聞いてびっくりしました。殆どの大学生は大学の近くのマンションに住むから。毎日の登校で自転車に乗って信濃川を渡っていると聞いて、勝手に心配していました。でも、君は弱音を全く吐かない男の子だったね。いつでも頼ってほしくて連絡先を交換したけど、私たち全然話さなかったよね(笑)
だから、君が熱を出した時は仲良くなるチャンスだと思った。そしたら本当に危ない状況だったなんてね。
もう食中毒にはならないでね。君は自覚していなかったと思うけど、あの時の君は本当に死にそうな顔をしていたんだよ。それなのにさ。このご時世だからって私の心配をしてくれて、一人で大丈夫だと強がってドアを閉めようとしたね。結局は君の反対を押し切ってまで看病したけど。
あの後、一人になってから、少しだけ怖かったんだ。
私がしたことは善意の押し付けだったのかなって。それまでLINEでもあまり話してこなかったから。私の距離感は間違っていたかなと悩みました。
だから、君がサプライズでドーナツを持ってきてくれた時は本当に嬉しかったよ。美味しすぎて涙が出ちゃうって誤魔化したけど、実は結構本気で泣いてたんだよ(笑)
君の大学を知って、君のことを意識するようになったのは本当だよ。ずっと言えなくてごめんね。君は空気を読むのが上手というか、本当に察するのが上手だったね。
お別れの日、感情的になってごめんなさい。
でも、ちゃんと伝わってるからね。実は私も察するのが上手なんだよ。私たちお似合いのカップルだったね(笑)
幸せになってね、と言われたのは今でもモヤモヤしてるからね。私だってまだ女の子なんだから、全てを投げ出して責任を取ってもらいたかった。うそ、冗談だからね。
君が私の行動に恩を感じていることは伝わってたよ。それが逆に怖かった。宅飲みするくらい仲良くなれて嬉しかったけど、プライベートの姿を見られたら幻滅されるかもって。ずっと一人で不安になってたんだよ。
でも本当に君は素直な子で、まるで太陽みたいだったからさ。私の心配なんて、君と付き合ってからは一瞬で消えて無くなってしまったんだよ。恋って素敵だよね。
出勤前の化粧。お風呂前のメイク落とし。糖質の制限。自分のスタイルに合った服選び。愛嬌ある振る舞い。
私にとって可愛いを作ることは一生の呪いみたい。それでも、こんな愚痴は同性相手には絶対に言えないから。もし言ったら大ブーイングで敵が増えちゃうだろうね。
でもお風呂上がりのルーティンを教えた時、君は目を輝かせて私の努力を誉めてくれたね。すごい、こんな世界があるんだって、目をキラキラとさせてたの覚えてる(笑)
パック中の間抜けな顔とか、着圧タイツの面倒さとかも君に見せたことがあったね。正直に言って恥ずかしいし、不安だったんだよ。ついに幻滅されちゃうかなって。
それでも君は真っ直ぐなままだった。ずっと真っ直ぐに私の努力を認めてくれたから、私も年上のお姉さんとして
君に可愛くなる魔法をかけてあげられたんだよ。だって、
君の目に映るキラキラは嘘じゃなかったから。
君と同棲してから、本当に癒されてばっかりだった。
これから先も、君を看病したことは絶対に後悔しないと思ってる。たくさんの素敵な思い出をありがとうね。
服選びと肌荒れに気を付けて、たくさん可愛くなってね。
ずっと、みんなに好かれるかわいいひとでいてね。
ずっと、一緒に苦しもうね。
君の先輩より。
Gửi em, em vẫn sống tốt chứ?
Chị đã nhanh chóng làm quen được với nơi làm việc mới rồi.
Nếu em có đang lo lắng cho chị thì cứ yên tâm nhé.
Nhưng khi đã tích cóp đủ tiền, chị dự định sẽ nghỉ việc ở đây và chuyển về phía Kyushu. Xứ tuyết thật sự không phù hợp để sống một mình nhỉ. Lần tới chị muốn sống ở một nơi thật nóng nực. Chắc chị phải chuẩn bị tinh thần để bị cháy nắng thôi (cười).
Hồi em mới vào làm với tư cách là nhân viên mới, chị đã giật mình khi nghe tên trường đại học của em. Vì hầu hết sinh viên đều sống trong các căn hộ gần trường. Nghe nói mỗi ngày đi học em đều đạp xe băng qua sông Shinano, chị đã thầm lo lắng cho em. Nhưng em là một chàng trai chẳng bao giờ thốt ra một lời yếu lòng nào nhỉ. Chị đã trao đổi liên lạc vì muốn em có thể dựa dẫm vào mình bất cứ lúc nào, vậy mà chúng ta chẳng nói chuyện mấy với nhau (cười).
Vì thế, lúc em bị sốt, chị đã nghĩ đó là cơ hội để chúng ta thân thiết hơn. Không ngờ tình hình lúc đó lại nguy hiểm đến thế.
Đừng để bị ngộ độc thực phẩm nữa nhé. Chị nghĩ em không tự nhận ra đâu, nhưng lúc đó trông em như sắp chết đến nơi vậy. Thế mà, dù trong hoàn cảnh đó, em vẫn lo lắng cho chị, còn cố tỏ ra mạnh mẽ nói rằng một mình ổn thôi rồi định đóng cửa lại.
Cuối cùng, chị đã gạt đi sự phản đối của em để ở lại chăm sóc.
Sau đó, khi còn lại một mình, chị đã hơi sợ hãi.
Chị tự hỏi liệu những gì mình làm có phải là sự áp đặt lòng tốt hay không. Vì trước đó chúng ta chưa từng nói chuyện nhiều trên LINE. Chị đã lo lắng không biết khoảng cách của mình có sai lầm không.
Thế nên, lúc em mang bánh donut đến tặng một cách bất ngờ, chị đã thực sự hạnh phúc. Chị đã nói dối là vì bánh quá ngon nên mới rơi nước mắt, nhưng thực ra lúc đó chị đã khóc thật sự đấy (cười).
Việc biết trường đại học của em rồi bắt đầu để ý đến em là sự thật. Xin lỗi vì bấy lâu nay chị không thể nói ra. Em rất giỏi trong việc nắm bắt bầu không khí, hay nói đúng hơn là rất giỏi trong việc thấu cảm.
Ngày chia tay, xin lỗi vì chị đã quá cảm tính.
Nhưng mà, những gì cần truyền đạt đã được gửi gắm cả rồi. Thật ra chị cũng là người rất giỏi thấu cảm đấy. Chúng ta đúng là một cặp đôi xứng đôi vừa lứa nhỉ (cười).
Đến giờ chị vẫn thấy bứt rứt khi em bảo chị hãy hạnh phúc đi đấy. Vì chị cũng là con gái mà, chị đã từng muốn vứt bỏ tất cả để bắt em phải chịu trách nhiệm. Đùa thôi, chị nói giỡn đấy.
Chị cảm nhận được rằng em luôn thấy mang ơn những hành động của chị. Điều đó ngược lại làm chị thấy sợ. Chị rất vui vì chúng ta đã thân thiết đến mức có thể uống rượu tại nhà, nhưng chị lại luôn lo lắng một mình rằng nếu em thấy được vẻ ngoài đời thường của chị, em sẽ vỡ mộng mất.
Nhưng em thực sự là một đứa trẻ thuần khiết, rạng rỡ như ánh mặt trời vậy. Những lo âu của chị đã tan biến ngay lập tức kể từ khi hẹn hò với em. Tình yêu thật kỳ diệu nhỉ.
Trang điểm trước khi đi làm. Tẩy trang trước khi đi tắm. Hạn chế tinh bột. Chọn quần áo phù hợp với phong cách. Cư xử khéo léo duyên dáng.
Đối với chị, việc tạo ra sự 'đáng yêu' giống như một lời nguyền suốt đời vậy. Tuy nhiên, những lời than vãn này chị tuyệt đối không thể nói với những người cùng giới. Nếu nói ra chắc chắn chị sẽ bị phản đối kịch liệt và chuốc thêm kẻ thù thôi.
Thế nhưng khi chị chỉ cho em quy trình sau khi tắm, em đã nhìn chị với đôi mắt sáng rực và khen ngợi sự nỗ lực của chị. Chị vẫn nhớ ánh mắt lấp lánh của em khi thốt lên 'Tuyệt quá, hóa ra có một thế giới như thế này sao' (cười).
Vẻ mặt ngớ ngẩn khi đang đắp mặt nạ, hay sự phiền phức của đôi tất bó chân, chị cũng từng cho em thấy hết rồi. Thú thật là chị vừa thấy xấu hổ vừa thấy bất an. Chị lo rằng cuối cùng em cũng sẽ vỡ mộng.
Dẫu vậy, em vẫn luôn thẳng thắn như thế. Vì em luôn công nhận những nỗ lực của chị một cách chân thành nhất, nên với tư cách là một người chị đi trước, chị cũng đã có thể ban cho em một phép màu để trở nên đáng yêu. Bởi vì, ánh sáng lấp lánh trong mắt em lúc đó không phải là giả dối.
Kể từ khi sống chung với em, chị thực sự chỉ cảm thấy được vỗ về.
Chị nghĩ rằng sau này dù có chuyện gì đi nữa, chị sẽ tuyệt đối không hối hận vì đã chăm sóc em lúc đó. Cảm ơn em vì thật nhiều kỷ niệm đẹp.
Hãy chú ý chọn quần áo và giữ gìn làn da nhé, hãy trở nên thật đáng yêu vào.
Hãy mãi là một người đáng yêu được mọi người yêu mến nhé.
Và hãy cùng đau khổ mãi mãi nhé.
Từ tiền bối của em.
最後まで手紙を読み切って、いつのまにか冷たいフローリングの床に倒れ込んでいた。殺風景なワンルームの天井に見下ろされる。
Sau khi đọc đến tận những dòng chữ cuối cùng của bức thư, tự bao giờ, toàn bộ cơ thể tôi đã hoàn toàn ngã quỵ, đổ sập xuống nền sàn gỗ (flooring) lạnh ngắt. Tôi để mặc cho bản thân bị dõi nhìn, áp đặt bởi chiếc trần nhà của căn phòng trọ đơn thân vô cùng tẻ nhạt, cô quạnh này.
「っ、うぅっっ……それで応援のつもりですかっ……」
「Hức, ư lạp…… chị viết những lời như thế này mà lại dám bảo là đang cổ vũ, động viên tôi đấy à……」
頬を伝う涙を洗い流して、ずっと閉め切っていた部屋を換気して、そして伸びたままの髭を剃ろうと決めた。
Tôi tự hạ quyết tâm rằng, bản thân bắt buộc phải gột rửa, lau sạch toàn bộ những giọt nước mắt này, kéo mở rèm để thông gió, hoán khí cho căn phòng đang kéo kín mít bấy lâu nay, và sau đó…… sẽ tự mình cạo sạch bách mớ râu đang mọc dài lởm chởm ngoài kia.
「やってやる……またかわいくなってみせるっ……」
「Chị cứ chờ mà xem…… tôi nhất định sẽ làm được…… tôi nhất định sẽ lại biến mình trở nên thật đáng yêu thêm một lần nữa cho chị xem……」
周囲の人間に愛される雰囲気の作り方を教わった。先輩が植えてくれた種を芽吹かせるのは後輩の仕事だ。
Bởi lẽ, cách thức để nhào nặn, kiến tạo ra một bầu không khí có thể nhận được sự yêu thương, cưng chiều từ vạn vật xung quanh, tôi đều đã hoàn toàn được chị tận tình chỉ dạy cho rồi. Việc khiến cho hạt giống mà người tiền bối đã cất công gieo rắm vào thâm tâm này được đâm chồi nảy lộc, suy cho cùng chính là phần công việc, là nghĩa vụ của một kẻ làm hậu bối như tôi.
僕たちが別々の場所で同じ呪いを抱えて、同じ苦しみを背負って生き続ける限り、あの日々が無価値だったということには決してならないのだから。
Bởi vì, chỉ cần hai đứa chúng tôi vẫn tiếp tục ôm giữ chung một hồi bản án, lời nguyền ở hai mảnh đất biệt lập, hoàn toàn chia sẻ, san sẻ chung một nỗi đau đớn, khổ cực để sinh tồn trên đời, thì cái khoảng thời gian của những ngày nhật thường nồng đượm ấy tuyệt đối sẽ không bao giờ bị biến thành một hư vô, một điều chưa từng tồn tại cả.
カチャっ、と素足でガラスの破片を踏み締める小さな音が遠くから聞こえてくるようだった。
"Cạch"―Một thanh âm nhỏ nhoi, lách cách tựa như tiếng bước chân trần đang giẫm đạp, nghiến chặt lên những mảnh kính vỡ vụn, dường như đang văng vẳng vọng lại từ một nơi phương xa nào đó.




