表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
グラデーション(Thứ bậc màu sắc)  作者: ふくマカロニ
あなたの国で雪は降らない
PR
25/27

頭がズキズキしていた日

 四季が有名な日本だが、雪国は季節の変わり目が分かりづらい。特に初春の時期はそれが顕著だ。雪と桜のコントラストを楽しめる花見を楽しめたり、パッと入った居酒屋で夏野菜を使ったメニューが提供されたりする。

 Nước Nhật vốn nổi tiếng với cảnh sắc bốn mùa phân định rõ rệt, thế nhưng ở những vùng xứ tuyết như nơi đây, bước chuyển giao mùa lại là một điều gì đó vô cùng mơ hồ, khó lòng nhận biết. Đặc biệt là vào thời điểm chớm xuân, cái sự nhập nhằng đó lại càng hiển hiện một cách rõ nét hơn bao giờ hết. Người ta vừa có thể tận hưởng một buổi ngắm hoa anh đào với sự tương phản đầy thú vị giữa sắc tuyết trắng và hoa ban, lại vừa có thể bất chợt bước đại vào một quán nhậu izakaya nào đó rồi lật giở những thực đơn tràn ngập các món ăn sử dụng nông sản mùa hè.

 

「うぅ、頭ズキズキ、ズッキーニ……なんか寒いな?」

「Ui da…… Đầu nhức ong ong, nhức như cái ong…… ủa mà sao lạnh thế nhở?」


 3月中旬、まだまだ長岡の朝は冷え込む。

 初めての二日酔いに朦朧としていると、そんな僕を労わるような優しい声が隣の布団から返ってきた。

 Thời điểm giữa tháng ba, bầu không khí ban sớm ở Nagaoka vẫn còn vương lại cái lạnh giá đến thấu xương.

 Trong lúc tôi còn đang ở trạng thái mơ màng, choáng váng vì lần đầu tiên trong đời phải nếm trải cảm giác say nguội sau một đêm quá chén, thì từ phía bên kia của chiếc nệm trải giường, một giọng nói dịu dàng, đầy vẻ vỗ về, xót thương cho tôi khẽ cất lời đáp lại.

 

「まだ酔ってるみたいね。昨日は飲み過ぎだったんだよ。初めての居酒屋なのに無理するから」

「Xem ra vẫn còn đang say quắc cần câu chưa tỉnh nồng độ cồn kìa. Hôm qua rõ ràng là em đã uống quá chén rồi mà. Đã bảo là lần đầu tiên đặt chân vào quán nhậu mà cứ cố công gồng mình uống cho lắm vào làm chi.」

 

「だって、堂々と外で飲めるのが嬉しくて。うぅ、頭の中でドラムを叩かれているみたいにガンガンします……」

「Tại vì…… cảm giác được đường đường chính chính bước ra ngoài uống rượu bia nó phấn khích quá mà chị. Ui da, cái đầu của tôi lúc này nó cứ nện chan chát, như thể có ai đang ra sức gõ trống bần bật ở bên trong ý……」

 

「そっか、そっか、冷たい水で目を覚ましてきたら?」

「Thôi được rồi, được rồi, mau đi vào vốc một vốc nước lạnh cho đầu óc nó tỉnh táo bớt đi nha.」

 

 大学二年生の春休み、やっと僕は遅ればせながら誕生日を迎えて二十歳となった。昨夜は、その記念として柚城さんと初めての居酒屋に行ったのを思い出す。頭の中で断続する痛みに苦しみながら、ふらっと覚束ない足取りで洗面所へと向かった。

 Kỳ nghỉ xuân của năm hai đại học, tôi rốt cuộc cũng đã đón cái ngày sinh nhật muộn màng của mình để chính thức chạm ngưỡng hai mươi tuổi tròn. Đêm ngày hôm qua, như một cột mốc để kỷ niệm cho sự kiện trọng đại ấy, tôi và Yuzuki-san đã cùng nhau dắt tay nhau đi đến quán nhậu izakaya lần đầu tiên trong đời. Vừa phải chống chọi với những cơn đau nhức nhối liên hồi nện từng nhịp trong đại não, tôi vừa bước đi với những bước chân loạng choạng, xiêu vẹo hướng về phía phòng vệ sinh.


「ひどい顔だ」

「Trông thảm hại thật sự.」


 洗面所の鏡には目が死んでいる冴えない男が映し出されていた。丁寧に寝癖を直す気にもなれなくて、適当に冷水で前髪を後ろに流して、モコモコのヘアバンドで擬似的なオールバックの髪型を作り出した。自宅だから許された壊滅的なファッションセンスである。

 Nhìn vào tấm gương nơi phòng bồn rửa mặt, hình ảnh một gã trai xơ xác, kém sắc với đôi mắt lờ đờ, chết trân như cá ươn đang hiện ra mồn một. Bản thân tôi lúc này cũng chẳng còn chút tâm trí hay năng lượng nào để đi vuốt ve, sửa sang lại mái tóc đang bù xù do ngủ dậy nữa, đành tiện tay vốc một ngụm nước lạnh vuốt ngược phần tóc mái ra phía sau, rồi dùng chiếc băng đô cài tóc (hair band) xù lông bọc lại để tạo thành một kiểu tóc vuốt ngược giả lập.


「ふふっ、魂が抜けてるね。食欲はある?」

「Hì hì, trông kìa, hồn vía bay phách tán lên mây hết rồi kìa. Sao rồi, có cảm giác thèm ăn chút gì không em?」

 

「ないです……」

「Dạ không ạ……」

 


 洗面所から出てきた僕を見て、柚城さんが苦笑した。

 Nhìn thấy tôi lủi thủi bước ra từ phòng vệ sinh, Yuzuki-san liền nở một nụ cười bất lực đầy vẻ chiều chuộng.

 

「とりあえず、何かは胃の中に入れよう。あったかいもの、お味噌汁でいいかな」

「Trước mắt thì cứ phải nạp cái gì đó vào cái dạ dày trống rỗng đã nào. Để chị nấu món gì đó ấm nóng nhé, một bát canh tương miso được không nè.」


 甘やかし上手な恋人に手を引かれて、リビングまで放心状態で歩いていく。しばらくして、湯気を立てたインスタントの味噌汁が机に置かれた。さっきは食欲がないと言ったが、いい匂いには逆らえない。

 Được người yêu (một bậc thầy trong khoản nuông chiều, làm nũng người khác) nắm tay dắt đi, tôi cứ thế bước đi như một cái xác không hồn hướng về phía phòng khách. Chẳng mấy chốc sau, một ly canh tương miso ăn liền nóng hổi, nghi ngút khói đã được đặt ngay ngắn trên mặt bàn. Dẫu cho lúc nãy vừa mới mở miệng bảo là không có cảm giác thèm ăn, thế nhưng đứng trước cái hương vị thơm ngon nức mũi này thì quả thực là không tài nào cưỡng lại nổi.


「ありがとうございます。味噌汁っておいしいですね」

「Tôi cảm ơn chị nhiều nhé ạ. Công nhận là canh miso ngon thật đấy.」


 あさりの優しい風味が胃に染み渡った。

 Cái dư vị thanh tao, dịu dàng của nghêu (Asari) như thấu suốt, ngấm dần và xoa dịu đi cái dạ dày đang cồn cào của tôi.

 

「二日酔いに効くからね。気分はスッキリしてきた?」

「Món này cực kỳ có hiệu quả trong việc giải rượu, trị say nguội mà lại. Sao rồi, tinh thần đã thấy sảng khoái, tỉnh táo hơn chút nào chưa?」

 

「まぁまぁです。めっちゃ頭割れそう。頭痛やばい。頭痛が痛い……」

「Cũng tạm tạm rồi ạ. Nhưng mà cái đầu của tôi nó cứ như sắp sửa nứt toác ra làm đôi ý. Nhức đầu kinh khủng khiếp. Cái đầu đau nó cứ đau cái đầu ý……」

 

「ふふっ、いつもの語彙力はどこに行ったのかな。頭痛が痛いなんて言い方、君は絶対に使おうとしないでしょ」

「Hì hì, cái kho vốn từ vựng thường ngày của em nó bay đi đâu mất tiêu rồi hả? Cái kiểu diễn đạt ngây ngô 'đầu đau nó cứ đau cái đầu' kia, bình thường một người như em có bao giờ thèm thốt ra đâu cơ chứ.」

 

「うん、でも今はいいんです……」

「Thì đúng là vậy mà, nhưng mà riêng lúc này thì sao cũng được hết á……」


 からかうような笑い声に力無く頷いた。

 Tôi chỉ biết bất lực gật đầu chịu trận trước những lời trêu chọc đầy tinh nghịch của chị.

 

 柚城さんとの交際は一年を過ぎても良好な関係を築けている。お互いに肩の力を抜いていられる居心地の良い相手だった。

 Mối quan hệ yêu đương giữa tôi và Yuzuki-san dẫu đã chính thức bước qua cột mốc một năm tròn, thế nhưng hai đứa vẫn luôn duy trì được một sợi dây liên kết vô cùng tốt đẹp, bền chặt. Cả hai đều đã trở thành một chỗ dựa, một bến đỗ bình yên mà đối phương có thể hoàn toàn rũ bỏ mọi phòng bị, thả lỏng toàn bộ cơ thể khi ở bên.


「そっちも寝癖ついてますよ」

「Mà đầu tóc phía bên chị cũng đang bù xù hết cả lên do ngủ dậy kìa.」

 

「誰かさんが死にそうな顔をしてるから、一番に洗面所を使う権利を譲ってあげたんだよ。そんなこと言うなら、君が直してっ。私のかわいいかわいい鏡さんっ?」

「Chứ không phải tại vì có ai đó đang bày ra cái bộ dạng sống dở chết dở kia, nên bà chị này mới rộng lượng nhường cho cái quyền được ưu tiên sử dụng phòng vệ sinh trước hay sao. Đã nói thế rồi thì em chịu trách nhiệm vuốt tóc, sửa sang lại cho chị đi chứ chỉnh đi nha. Hỡi tấm gương kính đáng yêu, ngoan ngoãn của riêng mình chị ơi?」

 

「はいはい、どうぞ」

「Dạ vâng vâng, xin mời bà chị.」


 空になった味噌汁のカップを横にどけて、机の上のスペースを空ける。机の向かい側に座っていた柚城さんが嬉しそうな表情を浮かべて、ぐっと身を乗り出して頭を下げてくる。寝起きだというのにサラサラとした手触りの髪を指先で優しく梳いていく。んーっと心地良さそうに喉を鳴らす反応が返ってきた。彼女の機嫌が良さそうで何より。

 Tôi liền dọn dẹp chiếc cốc canh miso đã cạn sạch sang một góc, giải phóng một khoảng không gian trống trải trên mặt bàn. Yuzuki-san vốn đang ngồi ở phía đối diện lập tức bày ra một khuôn mặt vô cùng hớn hở, rạng rỡ, chị khẽ rướn hẳn nửa thân người về phía mặt bàn rồi cúi đầu xuống trước mặt tôi. Dẫu cho là mái tóc vừa mới thức dậy sau một giấc ngủ dài, thế nhưng khi những đầu ngón tay tôi luồn vào và chầm chậm chải chuốt, nó vẫn mang lại một cảm giác vô cùng suôn sẻ, mềm mại như lụa. Từ phía chị bỗng cất lên một tiếng "ừm~" đầy vẻ mãn nguyện, rên rỉ nhẹ nhàng――cái phản ứng quen thuộc mỗi khi tâm trạng của chị đang ở trạng thái cực kỳ tốt.


「はい、終わりましたよ。もう寝癖は取れました」

「Dạ rồi, xong rồi đó ạ. Giờ thì đầu tóc không còn một cọng tóc bù xù nào nữa rồi nha.」


 目の前のつむじに顔を埋めて、彼女の匂いを胸いっぱいに吸い込みたくなる。そんな欲求を隠しながら、僕は手をどかした。

 Nhìn cái xoáy tóc ngay trước mắt bấy giờ, thâm tâm tôi bất giác trỗi dậy một niềm khao khát muốn được vùi sâu khuôn mặt mình vào đó. Nhưng rồi, khéo léo che giấu đi thứ ham muốn ấy, tôi chầm chậm dời bàn tay mình ra xa.

 

「ありがとうっ、私のかわいいかわいい鏡さんっ?」

「Chị cảm ơn em nhiều nhé, hỡi tấm gương kính đáng yêu, ngoan ngoãn của riêng mình chị ơi?」

 

「もう、その変な呼び方に昨日からハマってますよね。僕としては恥ずかしいんですけど」

「Ơ kìa, từ ngày hôm qua đến giờ chị cứ bị cuồng, bị nghiện cái cách gọi tên kỳ cục đó thế nhở. Bản thân mình thì lại thấy ngượng ngùng, xấu hổ chết đi được đây này.」


 一年前は自分を守るための生存戦略だった僕なりの比喩表現を、今では恋人が極上の甘え文句として包み込んでくれる。確かに恥ずかしいけど悪くない気分だった。

 Vào thời điểm một năm về trước, đó vốn dĩ là một phép ẩn dụ, một cách thức diễn đạt mang đậm chiến lược sinh tồn để tự bảo vệ bản thân của riêng tôi, vậy mà giờ đây, người yêu tôi lại biến nó thành một câu nũng nịu, một lời âu yếm cực kỳ ngọt ngào để bao bọc lấy tôi. Quả thực dẫu có chút thẹn thùng thật đấy, nhưng cái cảm giác này xem ra cũng không đến nỗi tệ.

 

「ふふっ、だって気に入っちゃったんだもん」

「Hì hì, tại vì chị lỡ đâm ra yêu thích, mê mẩn cái tên gọi đó mất rồi mà.」

 

 さっきまで僕に委ねていた毛先に触れて、機嫌良さそうに目を細める恋人が愛おしかった。

 Khẽ đưa tay chạm nhẹ vào những lọn tóc vốn dĩ vừa mới được phó mặc cho những đầu ngón tay tôi chải chuốt lúc nãy, người con gái tôi yêu khẽ nheo đôi mắt đầy vẻ mãn nguyện, hạnh phúc. Dáng vẻ ấy của chị trông đáng yêu, tội nghiệp đến nhường nào.

 

「そっちも飲み終わったならカップください。僕が捨てておきますから」

「Nếu bên phía chị cũng đã uống xong rồi thì đưa chiếc cốc đây cho tôi nhé. Để tôi mang đi vứt luôn cho.」

 

「はーい、ありがとう」

「Vâng ạ, chị cảm ơn em nha.」

 

 軽く水でゆすいだ二人分の味噌汁カップをキッチンのゴミ箱に捨てる。早足でリビングに戻って、柚城さんと一緒にソファへと座り込んだ。自然と恋人繋ぎをするように指先が絡み合う。いつもなら映画でも観て時間を潰すところだが、今はそんな気分にはなれなかった。

 Cầm lấy hai chiếc cốc canh miso đã cạn sạch, tôi đem tráng sơ qua với nước lạnh rồi thẳng tay vứt vào thùng rác nơi xưởng bếp. Tôi nhanh chân rảo bước quay trở lại phòng khách, rồi ngồi sụp xuống chiếc ghế sofa ngay bên cạnh Yuzuki-san. Một cách vô cùng tự nhiên, những đầu ngón tay của hai đứa lại khẽ đan chặt vào nhau theo kiểu đan tay người yêu. Nếu là như thường lệ, hai đứa chúng tôi sẽ lựa chọn bật một bộ phim điện ảnh nào đó lên để giết thời gian, thế nhưng vào lúc này, tâm trí tôi hoàn toàn không có chút hứng thú nào cho việc đó cả.


「まだ、しんどいよね?」

「Vẫn còn đang thấy mệt mỏi, khó chịu lắm đúng không em?」


 どこまでも察しの良い柚城さんに微笑みかけられる。

 Nhìn vào người con gái luôn có một năng lực thấu hiểu tâm can, nắm bắt tình hình một cách nhạy bén tột cùng là Yuzuki-san, tôi chỉ biết nở một nụ cười trừ.


「ううぅ……本当に頭痛が痛いです」

「Uiii da…… Cái đầu đau nó cứ đau cái đầu thật sự luôn á chị.」

 

「まだ言うか。ちょっと楽しくなってるでしょ」

「Lại nữa rồi. Em đang bắt đầu thấy trò này vui vẻ, thú vị rồi đúng không hả?」

 

「うん、変な日本語を使いたい年頃なんです。まだ二十歳になったばかりですから」

「Dạ vâng, tại vì tôi đang ở cái độ tuổi muốn được tự do sử dụng những thứ tiếng Nhật kỳ quặc, sai lệch mà cấu trúc mà. Dẫu sao thì tôi cũng vừa mới chạm ngưỡng hai mươi tuổi đầu thôi mà lị.」


 僕たちは二人とも相変わらず、外ではもう一つの自分を演じている。常に他人の機微を読み、周囲の視線を意識した可愛げを出して、他者との関わりを乗り切っている。

 Hai đứa chúng tôi, dẫu cho có là ở thời điểm hiện tại đi chăng nữa thì suy cho cùng vẫn hoàn toàn giống nhau, khi bước chân ra thế giới ngoài kia, mỗi người đều đang gồng mình đóng tròn một vai diễn, một bản ngã khác của chính mình. Lúc nào cũng phải căng não dò xét từng chuyển biến tâm lý nhỏ nhặt của người đời, luôn tính toán đến những lăng kính, ánh mắt của vạn vật xung quanh để trưng ra một bộ dạng đáng yêu, biết điều nhất nhằm vượt qua những sóng gió của các mối quan hệ xã hội.


「まぁ、いいけど。こんなにぼうっとした君の姿を見られるのは私だけだからね。本当に君はかわいいね」

「Thôi thì sao cũng được vậy. Nhưng mà, cái bộ dạng ngớ ngẩn, đờ đẫn như một khúc gỗ này của em ý, trên đời này chỉ có duy nhất một mình chị là được phép chiêm ngưỡng thôi đấy nhé. Công nhận là em trông đáng yêu thật sự luôn đó.」

 

「ふっ、僕がかわいいなんて当たり前ですよ」

「Hì hì, cái việc tôi đáng yêu nó là một chân lý hiển nhiên, một điều hết sức bình thường rồi chị ơi.」

 

 人生に生きやすさを求めすぎても、それでは歪な怪物が生き残ってしまうだけで。適度に負担をかけなくては堕落するばかりで。恋人と二人きりの世界に引き篭もる訳にも行かないのだから。外の世界では徹底した自己管理の義務を果たす代わり、僕たちは思考を空っぽにできる場所を求めている。

 Nếu như con người ta cứ mãi mưu cầu, tìm kiếm một lối sống quá mực thảnh thơi, dễ dàng cho cuộc đời mình, thì kết cục nhận lại được chẳng qua cũng chỉ là sự sinh tồn của một thực thể quái dị, méo mó mà thôi. Nếu không tự biết cách tạo ra những áp lực, những gánh nặng vừa phải cho bản thân thì con người ta sẽ chỉ ngày một sa đọa, trượt dài vào sự tha hóa mà thôi. Bởi lẽ, hai đứa chúng tôi tuyệt đối không thể nào cứ mãi trốn tránh, co cụm để sinh sống trong cái thế giới thu nhỏ chỉ có hai người của riêng mình được. Chính vì vậy, để đổi lại cái việc phải luôn hoàn hảo quản trị, kiểm soát bản thân ở thế giới ngoài kia, chúng tôi luôn khát khao tìm kiếm một chốn dung thân, một nơi chốn mà bản thân có thể hoàn toàn rút cạn đại não, thả lỏng cho suy nghĩ trở nên hoàn toàn trống rỗng.


「わぁ、言うねぇ」

「Chà chà, gớm chưa, mạnh miệng gớm ghê chưa kìa.」

 

 ぎこちなく片目を瞑ってみせた。誠実さとは見栄を張らないことだ。まだ昨晩の酔いも残っているのか、どうでもいい言葉だけが、頭を空っぽにして話せる安心感が、ふわふわっと口から飛び出していく。

 Tôi khẽ nháy một bên mắt đầy vẻ vụng về, gượng gạo. Sự chân thành, thành thực suy cho cùng chính là việc bản thân không mưu cầu thể diện, không thèm trưng ra cái bộ dạng phô trương, sĩ diện hảo. Có lẽ là do cái dư vị say nồng của men rượu đêm qua vẫn còn đang quanh quẩn, vương vấn đâu đây, nên những câu từ vô thưởng vô phạt, không chút giá trị cứ thế chầm chậm, bồng bềnh tuôn ra khỏi khuôn miệng tôi, mang theo một cảm giác an tâm tột cùng khi được tự do nói chuyện với một cái đầu hoàn toàn trống rỗng.

 

「かわいくない僕というものは存在せず、つまりは僕という単語の中に"かわいい"が内包されているという事実だけがあります。だから"僕はかわいい"と言うと、同じ意味が重複してしまいますが、僕を"とてもかわいいなぁ"と思う柚城さんの気持ちも分かるので、どう採点するべきか、僕としても本当に頭痛が痛いです」

「Một thực thể mang tên "tôi nhưng không có nét đáng yêu" vốn dĩ là một điều không tồn tại trên đời này, nói một cách khác, chỉ có một sự thật hiển nhiên duy nhất là bản thân cái danh từ "tôi" đã tự động chất chứa, bao hàm sẵn cái nghĩa "đáng yêu" bên trong đó rồi. Chính vì vậy, việc thốt ra câu "Tôi đáng yêu" dẫu cho đúng là có sự trùng lặp, lặp ý giống hệt như câu "cái đầu đau nó cứ đau cái đầu" thật đấy, thế nhưng tôi lại hoàn toàn thấu hiểu cho nỗi lòng và tâm tư của Yuzuki-san khi luôn nghĩ rằng tôi "cực kỳ đáng yêu luôn nha". Do đó, việc phải đứng ra chấm điểm, định đoạt cho cái tình huống này ra sao…… quả thực đến cả bản thân tôi cũng đang cảm thấy cái đầu đau nó cứ đau cái đầu thật sự luôn đây này.」

 

「あははっ、私もっ。意味が分からなくて頭が痛いっ!」

「A ha ha! Đến cả chị cũng thế đây này! Chị cũng đang nhức hết cả đầu vì hoàn toàn không tài nào load nổi, không hiểu nổi cái mớ lý thuyết suông của em đây này!」

 

「ふふふふっ、分かってくださいっ!」

「Hì hì hì, chị phải cố công mà thấu hiểu cho em đi chứ nị!」


 二人して大声で笑い合う。昨日の居酒屋でも、こんな感じで取り留めのない話を続けていたら、いつのまにか飲み放題の2時間コースが終わっていた。アルコールが舌の回りを良くするのは本当だった。その饒舌の代償は二日酔いだったけど。

 Cả hai đứa chúng tôi cứ thế cùng nhau phá lên cười một trận vô cùng sảng khoái, vang dội khắp căn phòng. Đêm ngày hôm qua ở quán nhậu izakaya cũng vậy, hai đứa cứ liên tục nối dài những câu chuyện không đầu không cuối, vô thưởng vô phạt như thế này, để rồi ngoảnh đi ngoảnh lại, khóa học uống nước thả ga suốt hai tiếng đồng hồ đã trôi qua từ lúc nào không hay. Xem ra cái nhận định cho rằng chất cồn (alcohol) sẽ giúp cho chiếc lưỡi của con người ta trở nên trơn tru, hoạt bát hơn quả thực là một chân lý không hề sai chạy một chút nào. Cái giá phải trả cho một đêm ngập tràn những lời lẽ dông dài, vung vít chính là trận đau đầu kinh niên của cơn say nguội bám riết lấy tôi vào sáng ngày hôm sau.

 

「うぅ、こんな頭痛で仕事行きたくないです……」

「Ui da…… Với cái đầu búa bổ vì say nguội như thế này, tôi thực sự chẳng muốn lết xác đi làm một chút nào hết á chị ơi……」

 

「ふふっ、今日くらい休んでもいいんだよ」

「Hì hì, nếu là ngày hôm nay thì dẫu em có xin nghỉ một bữa cũng đâu có sao đâu nè.」


 落ち着く声色、僕の弱音を包み込むような柔らかさ。

 Một giọng nói trầm ấm, mang lại một cảm giác vô cùng bình yên, tĩnh tại, khẽ cất lên như để bao bọc, vỗ về cho toàn bộ những lời oán thán, sự yếu đuối của con người tôi bấy giờ.

 

「うーん……いや、頑張ってきます」

「Ừm…… Thôi dẫu sao thì…… tôi vẫn sẽ cố công, dốc sức đi làm vậy ạ.」

 

「そっか、偉いね、今日も一緒に頑張ろうか」

「Ra là vậy sao, em ngoan và giỏi giang quá cơ. Vậy thì ngày hôm nay hai đứa mình lại cùng nhau cố gắng, nỗ lực bước tiếp nhé.」

 

 常に可愛げがある印象をコントロールすること。外面を完璧に管理し、他人の機微を読んで生きてきた。そんな僕たちが誰の視線も気にせず、全ての思考を空っぽにして、有象無象の言葉を吐き出せる休息の場所。それこそが、この長岡のワンルームであり、二人で一年をかけて擦り合わせてきた関係性の答えそのものだった。

 Luôn luôn quản trị, kiểm soát một cách hoàn hảo cho cái ấn tượng, diện mạo bên ngoài ngập tràn nét đáng yêu biết điều của bản thân, rồi lại căng não dò xét từng chuyển biến tâm lý nhỏ nhặt của người đời để sinh tồn. Một chốn dung thân, một nơi chốn nghỉ ngơi lý tưởng―nơi mà những kẻ như hai đứa chúng tôi có thể hoàn toàn rũ bỏ mọi phòng bị, tuyệt đối không cần bận tâm đến bất cứ ánh mắt, lăng kính của vạn vật xung quanh, rồi cứ thế rút cạn đại não để tự do tuôn ra những câu từ vô thưởng vô phạt, không chút giá trị. Chính cái không gian căn phòng một phòng ngủ (one room) ở Nagaoka này đây, và chính cái luật chơi ngầm đầy kỳ lạ mà cả hai đứa đã phải mất trọn vẹn một năm trời để chầm chậm mài giũa, dung hòa lại với nhau…… mới thực sự là câu trả lời, là kết quả vẹn toàn nhất cho cái gọi là bản chất của một mối quan hệ yêu đương giữa tôi và người con gái ấy.


ーーー


 床にこびりついた油汚れをブラシで擦る。スーパーの精肉部門での清掃にも慣れてきた。今日はバックヤードの掃除が終わったタイミングで早めに退勤することを許されている。僕がスーパーの裏口から抜け出したのは、普段より早めの20時過ぎという頃合いだった。

 Tôi dùng bàn chải ra sức cọ xát những vệt vết bẩn dầu mỡ bám chặt trên mặt sàn. Cái công việc dọn dẹp vệ sinh ở thịt tươi của siêu thị này, tự bao giờ tôi cũng đã dần trở nên vô cùng quen tay. Ngày hôm nay, ngay khi vừa hoàn thành xong việc quét dọn ở khu vực hậu trường (backyard), tôi đã được cấp trên tâm lý cho phép chấm công ra về sớm hơn thường lệ. Thời điểm tôi lách mình bước ra khỏi cánh cửa hậu của siêu thị, đồng hồ mới vừa vặn điểm qua ngưỡng hơn 20 giờ tối một chút, sớm hơn hẳn so với mọi khi.


 (はぁ、意外と二日酔いでも働けるもんだな。もっと仕事に支障が出るくらい引きずるものだと思っていたけど)

 (Hầy, hóa ra là dẫu cho có bị say nguội đi chăng nữa thì con người ta vẫn có thể còng lưng ra làm việc một cách ngon lành đấy thôi. Thế mà cứ ngỡ cái sự mệt mỏi ấy phải kéo dài, dằn vặt đến mức làm đình trệ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả công việc cơ chứ)


 柚城さんのマンションの前まで辿り着いた。正社員の彼女は僕よりも一時間だけ早く退勤しているはずだ。

 Chẳng mấy chốc, tôi đã lết bước đến trước cửa tòa chung cư của Yuzuki-san. Vốn là một nhân viên chính thức, chị ấy chắc chắn đã hoàn thành ca làm và tan sở trước tôi khoảng tầm một tiếng đồng hồ.


 (早く会いたい)

 (Mình muốn được gặp chị ấy càng sớm càng tốt)

 

 たまに言いようのない不安が襲ってくる。まるで溺れているかのように、僕を取り囲む世界の音がくぐもって聞こえてくる。そう頻繁でもない。今は二ヶ月に一度くらいの周期だけど、この挫折から一歩手前のような感覚は断続的に訪れている。

 Thi thoảng, thâm tâm tôi lại bị bủa vây bởi một nỗi bất an, lo lắng tột cùng không sao tả xiết bằng lời. Cứ như thể bản thân đang bị nhấn chìm, chết đuối dưới làn nước sâu, mọi thanh âm của thế giới vạn vật xung quanh truyền đến tai tôi đều trở nên ù ù, nghẹt đặc. Tần suất xảy ra chuyện này dẫu không quá dày đặc, hiện tại cứ tầm hai tháng một chu kỳ, thế nhưng cái cảm giác bất lực, chực chờ như thể bản thân sắp sửa sụp đổ, nếm trải sự thất bại (toả chiết) này vẫn cứ ngắt quãng, tục ghé thăm tôi.


 (そろそろ、新学期が始まっちゃうな)

 (Thấm thoắt một cái, học kỳ mới lại sắp sửa bắt đầu rồi nhở)


 まだ大学二年生の春休み。されど大学三年生を控えた春休み。これからはインターンや就活などの将来も考えなくてはいけない。プロダクトデザイン学部で目立った成果を出せていないのは自分だけだと、このままでは周囲に置いてかれてしまうような不安が胸に巣食っている。

 Hiện tại vẫn đang là những ngày nghỉ xuân của năm hai đại học. Thế nhưng, đây lại là kỳ nghỉ xuân ngay trước ngưỡng cửa bước sang năm ba đại học đầy bản lề. Kể từ nay về sau, bản thân tôi sẽ bắt buộc phải nghiêm túc suy nghĩ về tương lai, về những chuyện như đi thực tập (internship) hay tìm kiếm việc làm. Cái nỗi bất an mang tên ở phân khoa thiết kế sản phẩm (product design) này, dường như chỉ có duy nhất một mình mình là tịnh không làm nên trò trống gì, không gặt hái được bất cứ thành tựu nổi bật nào cả' cứ thế chực chờ găm rễ, làm tổ ngay trong lồng ngực tôi, kéo theo nỗi sợ hãi bản thân sẽ bị vạn vật xung quanh bỏ lại phía sau đường đua.


 (僕はどんなデザイナーになれるんだろう。あとで相談してみようかな)

 (Liệu rằng sau này, mình có thể trở thành một nhà thiết kế (designer) như thế nào đây? Lát nữa có nên thử mở lời tham khảo ý kiến, tâm sự với chị ấy không nhở)

 

 見えない不安を抱えて生きるのは難しい。漠然としたものに怯えて暮らすのは辛い。まるでお互いがお互いの北極星であるかのように。きっと近しい存在が先の見えない不安を可視化してくれるから、そのために僕たちは。

 Việc gánh vác trên vai những nỗi bất an mơ hồ, không thể nhìn thấy để tiếp tục sinh tồn quả thực là một điều vô cùng gian nan. Việc phải sống mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ trước những điều định hình không rõ ràng như thế thật là đau khổ biết bao. Cứ như thể, hai đứa chúng tôi bấy giờ đang tự nguyện biến đối phương thành ngôi sao Bắc Cực duy nhất của cuộc đời mình vậy. Chính vì có một sự tồn tại cận kề nhất sẵn lòng đứng ra cụ thể hóa, định hình cho những nỗi bất an không thấy rõ tương lai phía trước kia, nên hai đứa chúng tôi mới có thể.

 

 僕は使い慣れた合鍵を差し込み、ドアノブを捻った。

 Tôi chầm chậm tra chiếc chìa khóa vạn năng đã quen tay vào ổ, khẽ vặn nhẹ nắm đấm cửa.


「おかえり、早かったね!」

「Em đã về rồi đấy à, hôm nay về sớm thế em!」

 

「ただいま、とっても頑張りましたよ。あの、今日も……ぎゅってしてください」

「Dạ tôi về rồi đây ạ, hôm nay tôi đã cực kỳ dốc sức, cố gắng làm việc luôn đấy nhé. À mà…… hôm nay chị lại ôm tôi thật chặt (gyu) một cái nữa đi mà.」

 

「はい、どうぞ」

「Vâng ạ, xin mời cậu em.」


 僕は靴を脱いで、だらんと両腕を力無く広げた。

 Tôi cởi bỏ giày dép, rồi cứ thế buông thõng hai bờ vai, dang rộng hai cánh tay một cách hoàn toàn rệu rã, không chút lực lượng.

 

 もう一年以上の付き合いになるが、いまだに柚城さんの人物像を一言で表すのは難しい。ただ大人っぽいお姉さんというだけでなく、彼女特有のあどけなさを溢れさせることもあった。そのギャップに魅了されていた。

 Dẫu cho mối quan hệ yêu đương giữa hai đứa đã chính thức bước qua cột mốc hơn một năm trời, thế nhưng cho đến tận lúc này, việc dùng một từ ngữ gãy gọn nào đó để định hình, khắc họa nên bức chân dung con người của Yuzuki-san đối với tôi vẫn là một bài toán vô cùng nan giải. Chị ấy không đơn thuần chỉ là một bà chị lớn tuổi mang phong thái chín chắn, trưởng thành, mà ở người con gái ấy, thi thoảng vẫn luôn để lộ ra những nét ngây thơ, non nớt đến ngỡ ngàng. Bản thân tôi đã hoàn toàn bị mê hoặc, quyến rũ bởi chính cái khoảng cách thế giới (gap) đầy thú vị đó.

 

「ふふっ、甘えたさんだね。よしよし」

「Hì hì, đúng là một đứa trẻ thích làm nũng mà cơ. Ngoan nào, ngoan nào.」

 

「んっ……っぅっっ」

「Ưm…… ứ……」

 

「んー、もっと強く抱きしめてくれていいんだよ?」

「Nào~ em hoàn toàn có thể dùng lực ôm chị mạnh mẽ hơn nữa cũng được mà?」


 ぎゅっとハグされる感触で、さっきまでの疲れがシャボン玉のように吹き飛んでいく。

 Cái cảm giác được bao bọc, ôm chặt vào lòng khiến cho toàn bộ những sự mệt mỏi, tổn hao sinh lực sau một ngày dài lao động vất vả bỗng chốc bay biến sạch sành sanh.

 

 実を言うと、僕はボディタッチが得意なタイプの人間ではない。それでも毎日の疲労やコンプレックスが溜まると、どうしても恋人と触れ合いたいという欲求が抑えられなくなってしまう。だから、僕は彼女を抱きしめるのが、その華奢な体に縋り付くのが、いつまでも不器用なままだった。

 Thực lòng mà nói, bản thân tôi vốn dĩ không phải là kiểu người giỏi khoản đụng chạm da thịt, tiếp xúc cơ thể (body touch) cho lắm. Thế nhưng, mỗi khi những áp lực, sự mệt mỏi thường nhật cùng những nỗi mặc cảm, tự ti tích tụ lại đến một ngưỡng giới hạn, thâm tâm tôi lại tịnh không cách nào kìm nén nổi cái khát khao, ham muốn được tiếp xúc, chạm vào người yêu. Chính vì thế, cái cách tôi ôm chặt lấy chị, cái cách tôi bám víu, rúc sâu vào cơ thể mảnh mai, gầy guộc ấy của chị, dẫu qua bao lâu đi chăng nữa, vẫn mãi luôn là một hành vi vô cùng vụng về, gượng gạo.


「ほら、ご飯にしよう。ずっと帰ってくるの待ってたんだから。最近は君に冷蔵庫の管理も任せっきりだからさ。私一人だと、どのタッパーから手を付ければいいか、よく分からなかったんだよね」

「Thôi nào, hai đứa mình cùng ăn cơm thôi. Chị đã ngồi đây đợi em cung kính trở về suốt từ nãy đến giờ rồi đấy nha. Dạo gần đây việc quản lý tủ lạnh chị toàn phó mặc hết cho em, thành ra nếu chỉ có một mình, chị cũng chẳng biết phải đụng đũa vào chiếc hộp nhựa đựng thức ăn (tupper) nào trước nữa cơ.」


 柚城さんが恥ずかしそうに微笑む。

 Yuzuki-san khẽ nở một nụ cười mỉm đầy vẻ thẹn thùng.

 

「そうですか。二日前に作ったおかずの残りがあるはずなので、それから消費していきましょう。あとは生野菜とかも使っちゃいますか」

「Ra là vậy sao ạ. Trong tủ chắc là vẫn còn lại phần thức ăn thừa của món ăn tôi nấu cách đây hai ngày trước đấy, hai đứa mình cứ ưu tiên tiêu thụ, giải quyết dứt điểm phần đó trước nhé chị. Sau đó thì tiện tay xử lý luôn cả đống rau sống này đi ạ.」

 

「分かった、サラダなら任せて!」

「Ok em, nếu là món salad thì cứ tin tưởng giao phó hoàn toàn cho chị nha!」


 こうして遅めの夕食の準備に取り掛かった。僕が豚キムチの入ったタッパーを電子レンジで温めていると、柚城さんはアボカドと生ハムのサラダを大皿によそってくれていた。

 Hai đứa bắt tay vào công đoạn chuẩn bị cho một bữa tối ăn muộn. Trong lúc tôi đang đứng chờ lò vi sóng hâm nóng chiếc hộp nhựa chứa món thịt lợn xào kim chi, thì Yuzuki-san cũng đã nhanh tay bày biện xong đĩa salad bơ kèm thịt giăm bông xông khói ra chiếc đĩa lớn.


「はい、いただきます」

「Dạ, chị xin phép ăn cơm ạ.」

 

「いただきます」

「Mời em ăn cơm nhé.」

 

 二人して空腹を落ち着かせるように箸を無言で動かす。

 あっという間に食事の時間は終わった。

 Cả hai đứa cứ thế im lặng đưa đũa gắp thức ăn như để nhanh chóng vỗ về cái dạ dày đang biểu tình vì đói khát.

 Chẳng mấy chốc, khoảng thời gian dành cho bữa tối đã nhanh chóng trôi qua.


「はい、毛布だよ。ぱさっ」

「Này, chăn len của em đây nha. Pasa.」

 

「ふふっ、ありがとうございます。あったかいですね」

「Hì hì, cảm ơn chị nhiều nhé ạ. Ấm áp quá cơ.」

 

「まだ春にしては寒いよね。これぞ長岡って感じ」

「Dẫu đã là mùa xuân rồi nhưng tiết trời vẫn còn lạnh giá quá nhở. Đúng là đặc sản đặc trưng của vùng Nagaoka có khác.」


 二人分の負荷にくたびれた様子のソファ。そこでブランケットに包まりながら、柚城さんが好きなドラマを何ともなしに眺めていた。コポコポとお湯が沸く音とテレビの雑音が混ざり合う。あまりにも穏やかな時間だった。

 Trên chiếc ghế sofa dường như đã có phần rệu rã, xuống cấp vì phải gánh vác sức nặng của cả hai đứa bấy lâu nay, tôi khẽ cuộn tròn mình trong chiếc chăn ủ ấm, rồi cùng Yuzuki-san chăm chú dõi mắt nhìn theo một bộ phim truyền hình (drama) đang phát trên màn hình một cách vô thưởng vô phạt. Tiếng nước sôi sùng sục reo vang (kopokopo) hòa lẫn cùng những tạp âm phát ra từ chiếc tivi khéo léo đan cài vào nhau. Đó quả thực là một khoảng thời gian vô cùng bình yên, tĩnh tại.

 

 ふと、隣に座る恋人の好きなところが脳裏に浮かんでくる。こういうのは言える時に言っておくべきだ。

 Bất chợt, thâm tâm tôi lại trỗi dậy những dòng suy nghĩ về những nét tính cách, những điều mà tôi yêu thích nhất ở người con gái đang ngồi ngay cạnh bên này. Những điều như thế này, một khi đã có cơ hội thì bắt buộc phải nói ra ngay lập tức mới phải.


 鍵を閉める時に"かちゃっ"と。

 Mỗi khi vặn ổ khóa cửa, chị lại phát ra âm thanh "kacha".

 

 風の強い日には"びゅーっ"と。

 Vào những ngày lộng gió, chị lại thốt lên từ "byu".

 

 毛布を掛けながら"ぱさっ"と。

 Và ngay cả khi đắp chăn cho tôi lúc nãy, chị cũng khẽ kèm theo từ "pasa".

 

「僕、柚城さんの言葉選びが好きなんですよ」

「Tôi ý mà, tôi cực kỳ yêu thích cái cách thức lựa chọn từ ngữ, diễn đạt của chị Yuzuki luôn đấy.」

 

「私の声とかじゃなくて、私の言葉なのね。あと、可愛いから敬語は許すけど、柚城さんじゃないでしょ。二人きりの時は違う呼び方にしてって言った!」

「Ơ hay, không phải là yêu thích giọng nói của chị, mà là yêu thích từ ngữ của chị cơ à. Với cả, dẫu vì em đáng yêu nên chị có thể rộng lượng tha thứ cho việc em dùng kính ngữ, thế nhưng từ 'Yuzuki-san' nghe xa cách quá đi thôi. Chị đã bảo là những lúc chỉ có hai đứa mình ở bên nhau thì phải dùng một cách gọi tên khác rồi cơ mà!」

 

「えっ、あれは酔ってる時のノリだと思ってましたけど」

「Ơ kìa, tôi cứ ngỡ cái tên gọi lúc đó dẫu sao cũng chỉ là cái trò đùa, cái hứng chí nhất thời trong cơn say rượu đêm ngày hôm qua thôi chứ ạ.」

 

「ううん。今、言ってほしいな!」

「Không có đâu nha. Mau lên, gọi lại cho chị nghe ngay bây giờ đi!」


 寄せ合っていた肩が離れて、抗議を示すようにぶつかってくる。頬が熱くなってしまうのを我慢した。

 Hai bờ vai vốn đang kề cận, sát rạt bỗng chốc giãn ra, chị khẽ huých mạnh vào người tôi như một sự phản kháng, hờn dỗi đầy đáng yêu. Tôi phải ra sức kiềm chế để giữ cho hai gò má mình không bị đỏ ửng lên vì ngượng.


「……うん、ゆずの言葉選びが好きです……」

「……Vâng ạ, tôi…… tôi cực kỳ yêu thích cái cách lựa chọn từ ngữ của Yuzu ạ……」

 

「ふふっ、よろしい。でも、急にどうしたの?」

「Hì hì, biết nghe lời thế là tốt. Mà tự dưng sao đột ngột em lại hỏi chuyện này thế?」

 

「ずっと……知りたかったんです」

「Tại vì…… tôi đã luôn khao khát muốn biết lý do từ bấy lâu nay rồi mà.」


 いつも二人きりになると、僕たちの小さな世界を擬音で飾ってくれるような人だった。その奇妙な習慣の理由が、どうしてもデザイナーとして気になった。何かのヒントになるかもしれない。だから素直に訊くことにした。

 Bởi lẽ, mỗi khi thế giới thu nhỏ chỉ còn lại duy nhất hai người, chị luôn là một con người thích tô điểm, trang hoàng cho không gian của hai đứa bằng những từ mô phỏng âm thanh, từ tượng thanh (nghĩ âm từ) đầy kỳ lạ như thế. Đứng ở cương vị của một nhà thiết kế tương lai, cái thói quen kỳ quặc ấy của chị cứ thôi thúc, khiến tôi không tài nào ngó lơ cho được. Biết đâu chừng, nó lại là một manh mối, một gợi ý (hint) quý báu cho công việc của mình không biết chừng. Chính vì thế, tôi đã lựa chọn thành thực mở lời hỏi thẳng chị.

 

「いつかは分からないけどね。自分の世界から音が消えてしまっても、普段と変わらずに生きていきたいの」

「Chị cũng không biết cái thói quen ấy bắt đầu từ lúc nào nữa. Chỉ là, dẫu cho có một ngày nào đó, toàn bộ thanh âm, tiếng động có đột ngột biến mất hoàn toàn khỏi thế giới của riêng chị đi chăng nữa, chị vẫn muốn bản thân có thể tiếp tục sinh tồn một cách bình thường, không có bất cứ sự thay đổi nào so với thường nhật mà thôi.」


 もし自分の耳が聴こえなくなっても、それでも時計の針は止まってくれないから。孤独を気遣ってくれない世界でも、自分勝手な絶望をしたくはないから。不必要に誰かを悲しませたくもないから。私は可愛いままでいたいから。

 Vào cái ngày mà đôi tai của chính mình tịnh không còn khả năng nghe thấy bất cứ điều gì nữa, dẫu cho là như vậy, kim đồng hồ của thời gian vẫn sẽ tuyệt đối không vì một ai mà dừng lại. Ngay cả ở trong một thế giới lạnh lùng, tàn nhẫn không một ai thèm bận tâm, sái vai cho nỗi cô độc của bản thân, chị vẫn tuyệt đối không muốn bản thân phải rơi vào cái trạng thái tuyệt vọng một cách ích kỷ, tùy tiện. Chị lại càng không muốn biến bản thân thành lý do khiến cho một ai đó phải gánh chịu nỗi đau buồn không đáng có. Và trên hết, vì chị muốn bản thân phải luôn duy trì được diện mạo đáng yêu nhất.

 

 そう、普段と変わらぬ表情で彼女は呟いていた。

 Đúng vậy, người con gái ấy đã chầm chậm lẩm bẩm tiếng lòng của mình bằng một khuôn mặt bình thản, an nhiên y như mọi ngày thường nhật.


「そこまでするんですね」

「Chị chịu gồng mình, chuẩn bị tâm lý đến tận mức đó cơ ạ.」

 

「ふふっ、当たり前のことなんてないと思うのよ」

「Hì hì, tại vì chị nghĩ trên đời này vốn dĩ làm gì có cái điều gì được gọi là hiển nhiên, đương nhiên đâu cơ chứ em.」


 自分を見失うとは世界の崩壊と同じだ。

 Việc bản thân đánh mất đi bản ngã, đánh mất đi chính mình, suy cho cùng cũng đồng nghĩa với việc toàn bộ thế giới vạn vật bị sụp đổ hoàn toàn mà thôi.

 

 きっと柚城さんは、外面の可愛さを形取る過程で内面の何かを削り取りながら、その痛みを生きやすさの必要経費として払っている。それに躊躇せず、自分自身の生きやすさのために生きている。それが彼女の自嘲めいた微笑の理由なのだろう。

 Chắc chắn là, trong cái quá trình gọt giũa, nhào nặn để kiến tạo nên cái diện mạo đáng yêu hoàn hảo ở thế giới ngoài kia, Yuzuki-san đã phải chấp nhận tự tay khoét bỏ, bào mòn đi một phần cốt lõi nào đó nơi thâm tâm của chính mình, rồi lại cắn răng chịu đựng, xem cái nỗi đau đớn ấy như một khoản chi phí cần thiết, một thứ "kinh phí tất yếu" để đổi lấy một lối sống suôn sẻ, dễ dàng hơn cho cuộc đời. Chị hoàn toàn không có một chút do dự, chần chừ, tất cả chỉ vì mưu cầu một đường sinh lộ cho chính bản thân mình mà thôi. Thiết nghĩ, đó chính là cái lý do lớn nhất ẩn đằng sau nụ cười mỉm mang theo vài phần tự giễu, chế giễu bấy lâu nay của chị.


「何が起きようと、私は揺らぎたくないの」

「Dẫu cho có bất cứ chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, chị tuyệt đối không muốn bản thân mình bị dao động, lung lay.」


 見えない不安を抱えて生きるのは難しい。漠然としたものに怯えて暮らすのは辛い。

 Việc gánh vác trên vai những nỗi bất an mơ hồ, không thể nhìn thấy để tiếp tục sinh tồn quả thực là một điều vô cùng gian nan. Việc phải sống mà lúc nào cũng nơm nớp lo sợ trước những điều định hình không rõ ràng như thế thật là đau khổ biết bao.


「……」

「……」


 世界の脆さを愛しながら、その脆さを信じていない人だった。この人は薄氷の上を渡るような意識で生きているのだと気付いた。だから何も言わずに両腕を広げた。

 Chị là một con người luôn nâng niu, yêu thương cái sự mỏng manh, dễ vỡ của thế giới này, thế nhưng thâm tâm lại tuyệt nhiên chưa từng đặt một ngôi sao niềm tin vào cái sự mỏng manh ấy. Tôi bỗng chốc nhận ra rằng, người con gái trước mặt bấy lâu nay luôn sinh tồn bằng một tâm thế, một sự tự ý thức can trường tựa như kẻ đang dấn bước, rón rén đi qua một lớp băng mỏng chực chờ nứt toác vậy. Chính vì lẽ đó, tôi tịnh không thốt thêm bất cứ lời nào nữa, chỉ lặng lẽ dang rộng hai cánh tay của mình ra.


「なぁに?」

「Gì thế em?」

 

「はい、どうぞ。ゆずの番です、とか言ってみたり……」

「Dạ, xin mời chị vào lòng tôi nè. Lần này đến lượt bên phía tôi ra tay rồi nhé, kiểu kiểu vậy đó……」

 

 彼女の好きなところは言える時に言っておくべきだと、当たり前を信じていないのは僕も同じだ。お互いに同族の性根を持っているから、お揃いの憂いを帯びた瞳で見つめ合うのだろう。

 Cái việc yêu thích những nét tính cách, những điều tốt đẹp ở người con gái mình yêu, một khi đã có cơ hội thì bắt buộc phải nói ra ngay lập tức mới phải, bởi lẽ chính bản thân tôi cũng là một kẻ tuyệt đối không đặt một ngôi sao niềm tin vào cái gọi là 'sự hiển nhiên, đương nhiên' ở trên đời này. Chính vì cả hai đứa chúng tôi đều đang mang trong mình một thứ bản chất, một thứ căn tính của những kẻ cùng chung một giuộc, nên hai đứa mới có thể nhìn ngắm nhau bằng hai cặp mắt chứa chan cùng một nỗi sầu muộn, ưu tư giống hệt như thế kia.


「いつも……ありがとうね」

「Lúc nào cũng…… cảm ơn em nhiều nhé.」


 それでも、僕が細い体を抱きしめた時には"ぎゅっ"と。

 そっと照れ隠しのように呟く女の子で。

 そういうところが好きだった。そこに惚れていた。

 Thế nhưng, dẫu cho thâm tâm có can trường, sắt đá đến đâu đi chăng nữa, thì vào cái khoảnh khắc tôi dùng lực ôm chặt lấy tấm thân mảnh mai, gầy guộc ấy vào lòng, từ phía chị vẫn khẽ phát ra âm thanh "gyu" (ôm chặt) đầy vẻ chân thực.

 Người con gái ấy vẫn khẽ lẩm bẩm những câu từ nhỏ nhẹ như một cách thức để che giấu đi sự thẹn thùng, xấu hổ của bản thân.

 Tôi thực sự yêu cái nét tính cách ấy của chị vô cùng. Tôi đã hoàn toàn đổ gục, bị hớp hồn bởi chính cái khoảnh khắc đó ở người con gái tên Yuzu.


 彼女とのお別れは半年後だった。

 Cái ngày tôi và chị chính thức nói lời chia tay, ly biệt chính là thời điểm của nửa năm sau đó.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ