ちゃんと言葉にして
もう時間なんか計っていない。ぴちゃっとした水音が頭の中で反響する。僕の耳は柔らかな両手に塞がれていた。今日まで取り繕っていた理性が蕩けていくような感覚。自分の気持ちをさらけ出した直後だからか、息継ぎのタイミングが掴めないからだろうか。僕の目尻は勝手に涙を溜めてしまう。とんとんっと彼女の背中を静かに叩いた。今度からは上手な息継ぎを教えてもらおう。それも可愛さだと思うから。この人には可愛いと思ってもらいたいから。
Tôi chẳng còn mảy may bận tâm đến việc tính toán thời gian nữa. Tiếng nước chạm nhau chút chít, nhóp nhép cứ thế vang vọng, dội lại ở trong đầu. Hai tai của tôi đã bị phong tỏa, che lấp hoàn toàn bởi hai bàn tay mềm mại của chị ấy. Cảm giác như cái lý trí mà tôi vẫn luôn cố công gượng ép, tô vẽ bấy lâu nay đang bị nung chảy, tan chảy ra thành nước. Là vì bản thân vừa mới trút bỏ, phơi bày toàn bộ tiếng lòng của mình xong, hay là vì tôi vẫn chưa thể nắm bắt được cái nhịp điệu, thời điểm để lấy hơi đây nhỉ? Hai bên khóe mắt của tôi cứ tự động dâng lên, tích tụ lại những giọt nước mặn chát. Tôi dùng tay khẽ vỗ nhè nhẹ bộp bộp vào tấm lưng của chị ấy. Từ lần sau, nhất định tôi phải nhờ chị truyền dạy cho cách lấy hơi sao cho thật điêu luyện mới được. Bởi vì tôi nghĩ cái sự vụng về đó cũng là một nét đáng yêu mà. Và vì tôi luôn muốn bản thân mình mãi là một kẻ đáng yêu trong mắt người con gái này.
「ぷはぁっ、ずっと息できなかった。やりすぎです」
「Phù u u, nãy giờ tôi hoàn toàn không thể thở được luôn ý. Chị làm quá trớn, hung hăng quá đi mất thôi.」
「ふふっ、初キスの感想がそれでいいの?」
「Hì hì, cảm tưởng về nụ hôn đầu đời mà lại chỉ có thế thôi á hả?」
「慣れてないもので」
「Tại tôi đã có kinh nghiệm, quen thuộc gì với chuyện này đâu cơ chứ.」
柚城さんは普段通りの大人びた微笑を浮かべた。
Yuzuki-san lại nở một nụ cười mỉm rạng rỡ, hiền hậu như thường ngày.
一ヶ月もの間、同じ部屋で暮らし、お風呂の順番を譲り合い、ソファで髪を乾かしてもらいながらも、お互いへの遠慮と大切に想う気持ちゆえに、一歩を踏み出せずにいた気がする。そんな臆病さも、生きるための打算も、僕の全てを露わにした瞬間に、ようやく二人の世界の境界線が溶けて、本当の意味での恋人関係になった気分となった。
Suốt một tháng trời ròng rã, hai đứa cùng sinh hoạt chung dưới một mái nhà, nhường nhịn nhau thứ tự vào phòng tắm, rồi lại ngồi trên ghế sofa để chị tự tay sấy khô mái tóc cho. dường như chính cái sự giữ kẽ, ngại ngần cùng cái tâm tư trân trọng đối phương quá mức đã khiến cả hai cứ mãi chần chừ, không dám can đảm tiến thêm một bước thì phải. Thế nhưng, chính vào cái khoảnh khắc mà sự nhút nhát đó, cái nét toan tính để sinh tồn đó, tức là toàn bộ bản ngã con người tôi được phơi bày một cách trần trụi nhất, thì cái đường ranh giới phân định thế giới của hai đứa rốt cuộc cũng đã tan chảy, mang lại cho tôi một cảm giác rằng từ nay hai đứa đã thực sự trở thành một cặp người yêu đúng nghĩa.
それでも、ちゃんと確認しておきたかった。
Thế nhưng, tôi vẫn muốn lên tiếng xác nhận lại cho thật rõ ràng.
「幻滅しましたか、色々と?」
「Chị có thấy…… vỡ mộng, hụt hẫng gì về tôi không? Về nhiều mặt ý?」
「幻滅する訳ないでしょう。その時は、ちゃんと言葉にして伝えるから、そのままでいいの。素直な君が、素直に反射して、それで楽に生きていけるなら、それを私が守りたいから」
「Làm sao mà chị có thể vỡ mộng cho được cơ chứ. Nếu như có lúc nào đó chị thấy như vậy, chị nhất định sẽ tự khắc dùng lời nói để truyền đạt rõ ràng cho em biết, thế nên em cứ cứ là chính mình như hiện tại là được rồi. Nếu việc em sống một cách thành thật, rồi dùng tấm gương nội tâm để phản chiếu lại mọi thứ một cách ngay thẳng có thể giúp em có một cuộc đời dễ thở, bình yên hơn, thì chị muốn bản thân mình sẽ là người đứng ra chở che, bảo vệ cho cái cách sống đó của em.」
柚城さんは赤い唇の端から僅かに垂れた唾液を拭って、僕の葛藤に対するベストアンサーをくれた。この人が、その場凌ぎの綺麗事を言わないというのは理解している。
Yuzuki-san đưa tay quệt đi vệt nước bọt vương lại nơi khóe bờ môi đỏ mọng, rồi trao cho tôi một câu trả lời hoàn hảo nhất (best answer) cho tất cả những nỗi giằng xé, hoang mang trong lòng tôi.
「信じることにします。でも、ちゃんと言ってくださいね」
「Tôi sẽ chọn cách tin tưởng chị. Thế nhưng, nếu có chuyện gì thì chị nhất định phải nói thẳng ra cho tôi biết đấy nhé.」
「うん、分かってる。ちゃんと言うよ。君が安心できるまで、一緒に苦しんであげる。私は本気だからね、君が安心できる居場所になりたい」
「Ừm, chị biết rồi mà. Chị sẽ nói rõ ràng cho em hay. Cho đến khi nào em có thể hoàn toàn an tâm thì thôi, chị nguyện lòng ở bên cạnh và cùng em san sẻ cái sự mệt mỏi, khổ sở này. Bản thân chị ý mà, chị muốn mình trở thành một chốn dung thân, một nơi chốn bình yên mang lại sự an tâm tuyệt đối cho em.」
信じたい。信じたい。信じたい。
Tôi muốn tin tưởng. Tôi muốn tin tưởng. Tôi thực sự rất muốn tin tưởng chị.
こうやって何度も質問して、しつこく確認し続けてしまうのは僕の欠点だと思う。それでも誠実でいるというのなら、この臆病さえも隠してはいけないと思ったから。
Tôi biết việc mình cứ gặng hỏi, xác nhận đi xác nhận lại thế này là vô cùng dai dẳng, phiền phức. Thế nhưng, nếu đã tự hứa bản thân phải luôn thành thật, nghiêm túc thì tôi nghĩ mình tuyệt đối không được phép che giấu đi sự yếu đuối của chính mình.
柚城さんに問われたおかげで、自分の"かわいさ"をぎこちなくも言語化することができた。関わった相手の接し方を反射して返すという生き方は、ある意味で他人に期待していない生き方と同義だと思っている。相手の行動に心を動かすよりも、そのままの反射を優先する事で、自分の弱さを保護するという防衛反応でもあるから。この打算的な賢さを"あざとい"なんて言葉で片付けられるのは癪だが、結局は自分本位な生存戦略なのだ。
Nhờ có câu chất vấn của Yuzuki-san mà tôi mới có thể bập bẹ, gượng gạo ngôn từ hóa được cái định nghĩa về sự "đáng yêu" của bản thân. Cái cách sống theo kiểu đối phương đối xử với mình ra sao thì mình phản chiếu, đáp trả lại y như vậy, ở một góc độ nào đó, tôi nghĩ nó đồng nghĩa với một cách sống hoàn toàn không đặt kỳ vọng vào người khác. Bởi lẽ, thay vì để cho tâm can mình bị lay động trước hành động của đối phương, thì việc ưu tiên phản chiếu lại nguyên vẹn những điều đó lại chính là một phản ứng tự vệ để bảo bọc, che chở cho sự yếu đuối của chính mình. Việc đem cái sự khôn ngoan mang tính toan tính này rồi gói gọn một cách phiến diện bằng cái từ "làm màu" thì thực sự là có chút tức tối, hậm hực thật đấy, nhưng suy cho cùng, đây chính là một chiến lược sinh tồn hoàn toàn vị kỷ, chỉ vì lợi ích của bản thân mà thôi.
「いま、安心してます、本当なんです、それでも……」
「Hiện tại, tôi đang thấy rất an tâm, đó là sự thật…… Thế nhưng, dẫu là vậy thì……」
「大丈夫、大丈夫だからね」
「Không sao đâu mà, có chị ở đây rồi, mọi chuyện đều ổn cả thôi em nhé.」
ちゃんと言ってください。それは強さの決意表明ではない。せめて、終わりの通知だけはくださいという懇願めいた祈りだった。僕は全ての結末に対して身支度を済ませているのではなくて、いつ終わるのかも知らない恐怖を誤魔化しているだけ。その弱さと葛藤を理解した上で、柚城さんは僕の強張ってしまう身体を抱き留めてくれていた。どこか安心してしまう。この人の献身は身をもって体験したことがあるから。あの秋の前例が無かったら、自分の弱点をさらけ出せないままだったと思う。この"かわいさ"という小さな鎧を。
Xin chị hãy nói rõ ràng cho em biết. Đó hoàn toàn không phải là một lời tuyên ngôn đanh thép biểu thị cho sự mạnh mẽ. Mà đó giống như một lời khẩn cầu, một lời cầu nguyện đầy van nài rằng: "Ít nhất, nếu mọi chuyện có phải kết thúc, xin hãy gửi cho em một lời thông báo". Tôi không phải là một kẻ đã chuẩn bị sẵn sàng tâm lý cho mọi kịch bản, mà chẳng qua tôi chỉ đang cố gắng lấp liếm, trốn tránh cái nỗi sợ hãi tột cùng trước một cái kết có thể ập đến bất cứ lúc nào mà bản thân không hề hay biết mà thôi. Thấu hiểu được cái sự yếu đuối cùng nỗi giằng xé đó, Yuzuki-san đã dang rộng vòng tay, ôm ghì lấy toàn bộ cơ thể đang co rúm, căng cứng của tôi vào lòng. Tự dưng trong lòng lại dấy lên một cảm giác an tâm đến lạ kỳ. Sự hiến dâng, tận tụy của người con gái này, tự bản thân tôi đã từng được trải nghiệm và nếm trải bằng cả xương máu rồi. Nếu như không có cái tiền lệ vào "mùa thu năm ấy", tôi nghĩ có lẽ bản thân mình sẽ mãi mãi không bao giờ có đủ dũng khí để phơi bày cái điểm yếu, cái tử huyệt này của mình ra đâu. Cái tử huyệt mang tên "bộ giáp nhỏ bé của sự đáng yêu".
「結局、僕は"かわいい"とか良く分かってないです」
「Kết cục thì, bản thân em cũng chẳng thể thấu hiểu rõ ràng cái gọi là "đáng yêu" rốt cuộc là cái gì nữa.」
ぎゅっと強く抱き締められる。お互いにどんな顔をしているかは確認できない。
Chị ấy lại càng siết chặt vòng ôm lấy tôi một cách mãnh liệt. Cả hai đứa đều không thể nhìn thấy gương mặt của nhau lúc này.
「そうなのかもね、君は感覚派ってことだ」
「Có lẽ là vậy nhỉ, em thuộc kiểu người sống theo trực giác, hệ cảm giác phái rồi.」
「ふふっ、そうですね。だからこそ、目に見えるものが眩しくなっちゃって」
Hì hì, chắc là vậy rồi ạ. Chính vì thế nên, những thứ có thể nhìn thấy được bằng mắt thường cứ hễ hiện ra là lại khiến em bị lóa mắt, choáng ngợp mất thôi."
結局は似た者同士なのかもしれない。形ないものを信じ切れず、それでも信じたいともがいている人間が放つ独特の雰囲気。僕たちは苦しみを追いかけたいのだと思う。
Suy cho cùng, có khi hai đứa lại là những kẻ thuộc cùng một giuộc, cùng một kiểu người giống không biết chừng. Cái bầu không khí đặc trưng, độc nhất vô nhị tỏa ra từ những kẻ không thể tin tưởng trọn vẹn vào những thứ vô hình, vô dạng, nhưng dẫu vậy vẫn đang ra sức vùng vẫy, quằn quại vì muốn được tin tưởng. Tôi nghĩ rằng, hai đứa chúng tôi chính là những kẻ muốn lao mình điên cuồng để đuổi theo cái sự mệt mỏi, khổ sở của cuộc đời này.
ーーー
翌朝、ガチャっと鍵の回る音がして目が覚めた。
Sáng ngày hôm sau, tôi giật mình tỉnh giấc bởi tiếng "lạch cạch" của chiếc chìa khóa vặn xoay ổ cửa.
「あれっ、ゆずきさーん?」
「Ủa…… Chị Yuzuki ơiー?」
まだ早朝の時間帯である。僕が寝ぼけ眼を擦りながら、リビングに顔を出すと誰の気配もなかった。充電中のスマホを重石にして、一枚のメモ書きがテーブルに残されていた。くるっと丸みを帯びた可愛らしい文字だった。
Thời gian lúc này vẫn còn là tờ mờ sáng, đang là khung giờ sáng sớm. Tôi vừa dụi dụi đôi mắt ngái ngủ vừa bước ra phòng khách, nhưng tịnh không thấy một bóng dáng ai cả. Lấy chiếc điện thoại đang cắm sạc làm vật đè lên, một tờ giấy nhắn (memo) được để lại ngay ngắn trên mặt bàn. Đó là một dòng lời nhắn ngắn ngủi với nét chữ tròn trịa, đáng yêu.
「朝のパンがなかったから、近くのコンビニまで行ってきます。すぐに戻るから心配しないでね」
「Bánh mì ăn sáng nhà mình hết sạch mất rồi nên chị ra tiệm tiện lợi gần đây mua một chút nha. Chị sẽ về ngay thôi nên em không phải lo lắng đâu nhé.」
深夜コンビニに行くカップルに憧れていたのは子供の頃だし、今は早朝だから大人しく家で待つことにしよう。
洗面所で顔を洗って、もう扱い慣れた電子ケトルでお湯を沸かした。お湯が沸騰するのを待つ間にココアパウダーと牛乳パックを取り出しておく。昨夜は唇を重ねた後、面映い雰囲気を払拭できずにベッドに潜り込んだ。いつまでもソワソワしている訳にもいかない。
20分後、玄関から鍵の差し込む音がした。
Cái việc ngưỡng mộ, khát khao mấy cặp đôi dắt díu nhau đi konbini lúc nửa đêm dẫu sao cũng là chuyện từ hồi tôi còn là một đứa trẻ con rồi, còn bây giờ đang là sáng sớm, tốt nhất là mình nên ngoan ngoãn ở nhà chờ chị ấy về thì hơn.
Tôi vào phòng vệ sinh rửa mặt cho tỉnh táo, rồi dùng chiếc ấm siêu tốc mà bản thân giờ đây đã sử dụng vô cùng thuần thục để đun nước sôi. Trong lúc chờ nước sôi, tôi lôi sẵn bột ca cao cùng hộp sữa tươi trong tủ lạnh ra chuẩn bị. Đêm hôm qua, sau khi hai đứa chạm môi nhau, vì không cách nào xua tan đi được cái bầu không khí ngượng ngùng, ngúng nguẩy ngập tràn căn phòng nên tôi đã lủi thủi chui tọt vào trong chăn ngủ trước. Nhưng dẫu vậy, mình cũng không thể cứ để bản thân đứng ngồi không yên, bồn chồn mãi như thế này được.
20 phút sau, từ phía cửa ra vào vang lên tiếng chìa khóa tra vào ổ kịch kịch.
「あれっ、もう起きてたの?」
「Ơ kìa, em đã dậy rồi đấy à?」
トンっと傘立てに傘を突き刺す音がして、ゆっくりとした足音が近付いてきた。寝起きのすっぴんでコンビニまで歩いてくれたのだろうか。柚城さんは黒いマスクと深めに被ったキャップで表情を隠している。リビングに入ってきた彼女が帽子のつばを上げると、その大きな目を丸くしているのが確認できた。その腕には菓子パンの入ったレジ袋が引っ掛けられている。
Tiếng "bộp" vang lên khi chị ấy cắm chiếc ô vào ống để ô, rồi những bước chân thong thả, từ tốn ngày một tiến lại gần. Chắc là chị ấy cứ để nguyên mặt mộc vừa mới ngủ dậy để lội bộ ra konbini đây mà. Yuzuki-san khéo léo che giấu đi biểu cảm khuôn mặt mình bằng một chiếc khẩu trang màu đen và một chiếc mũ lưỡi trai đội sùm sụp kéo thấp xuống. Ngay khi vừa bước vào phòng khách, chị ấy khẽ đẩy phần lưỡi trai của chiếc mũ lên cao, và tôi có thể nhìn thấy rõ mồn một đôi mắt to tròn của chị đang mở to ra vì kinh ngạc. Trên cánh tay chị ấy đang treo lủng lẳng một chiếc túi nilon đựng mấy chiếc bánh ngọt mua ở tiệm về.
無事に帰ってきてくれた。その安心感には逆らえず、自然と僕の口角は緩んでいった。わぁっと笑顔で手を振る。
Chị ấy đã trở về nhà an toàn rồi. Không thể cưỡng lại cái cảm giác nhẹ nhõm, an tâm ấy, khóe miệng tôi cứ thế tự động giãn ra, nở một nụ cười một cách vô cùng tự nhiên. Tôi vẫy vẫy hai tay, hồ hởi nở một nụ cười rạng rỡ.
「なんか目が覚めちゃいました。おかえりなさいっ」
「Tự dưng tôi lại bị tỉnh giấc ý ạ. Chị đã về rồi đấy ạ, chúc chị buổi sáng tốt lành nhaー!」
「う、うん、ただいま、おはよう!」
「Ừ-Ừm, chị về rồi đây, chào buổi sáng em nhé!」
「パンを買ってきてくれてありがとうございます。体は冷えてないですか?」
「Tôi cảm ơn chị vì đã đi mua bánh mì về cho cả hai đứa nha. Người chị có bị lạnh lắm không ạ?」
どこかぎこちない柚城さんの様子に首を傾げながら、僕は熱々のミルクココアを淹れた。これは彼氏としての務めである。
Liếc nhìn Yuzuki-san đang có chút gì đó ngượng ngập, gượng gạo một cách lạ lùng, tôi khẽ nghiêng đầu rồi bắt tay vào pha một ly ca cao sữa nóng hổi, nghi ngút khói. Tôi tự nhủ đây chính là nghĩa vụ, là bổn phận của một cậu bạn trai cần phải làm.
「そっか、静かに抜け出したつもりだったけどね。君って周りの気配に敏感だよね。二度寝してても良かったのに」
「Ra là vậy, chị đã cố tình rón rén bước đi thật nhẹ nhàng để lẻn ra ngoài rồi cơ đấy. Cơ mà em đúng là một đứa vô cùng nhạy cảm với bầu không khí và tiếng động xung quanh nhỉ. Thật ra em cứ ngủ nướng, ngủ tiếp hiệp hai cũng được mà.」
「一緒に食べたかったので」
「Tại vì tôi muốn được ăn sáng cùng với chị cơ.」
「ふふっ、その時は起こすよ。はい、君が好きなクリームパン買ってきたから。熱々のココアが冷めないうちに朝ご飯にしようか」
「Hì hì, nếu thế thì kiểu gì chị chẳng gọi em dậy. Nè, chị có mua đúng loại bánh mì nhân kem (cream pan) mà em thích nhất về rồi đây. Mau mau ăn sáng thôi kẻo ly ca cao bị nguội ngắt bây giờ.」
テーブルに着いた柚城さんがキャップを脱ぎ、マスクを外した。いつも思っているけど、メイクしていなくても彼女の顔が好きだ。まじまじと見惚れていると、柚城さんは後頭部で一括りにしていた黒髪を解いていた。このポニーテールが崩れる瞬間の、サラッとなびく髪の端っこにヘアゴムが引っ掛かる光景が好きだった。
Yuzuki-san vừa ngồi vào bàn ăn liền cởi bỏ chiếc mũ lưỡi trai và tháo khẩu trang ra. Dẫu cho đây là điều mà bản thân luôn tự nhủ thầm bao nhiêu lần đi chăng nữa, tôi vẫn cực kỳ mê mẩn, yêu thích khuôn mặt của chị ấy ngay cả khi không hề trang điểm, dặm phấn. Trong lúc tôi còn đang chăm chú, mải miết ngắm nhìn đến ngẩn cả người ra, Yuzuki-san đã đưa tay tháo chiếc chun, xõa mái tóc đen tuyền vốn đang được buộc gọn gàng ở phía sau gáy ra. Tôi cực kỳ yêu thích cái khoảnh khắc mà mái tóc đuôi ngựa (ponytail) ấy được bung xõa, rũ xuống, sợi tóc mượt mà bay nhẹ lướt qua, để lại hình ảnh chiếc dây buộc tóc vẫn còn vướng víu, mắc kẹt lại ở phần đuôi tóc phía cuối cùng.
僕がクリームパンを齧っていると、大学の授業に関するメールが届いていた。ざっと内容に目を通して、ふぅっとココアを息で冷ましている猫舌の彼女に話しかける。
Trong lúc tôi đang thong thả gặm chiếc bánh mì nhân kem, điện thoại bất chợt vang lên tiếng báo hiệu có email thông báo về buổi học ở trường đại học. Tôi lướt nhanh qua nội dung, rồi vừa đưa mắt nhìn Yuzuki-san đang chu mỏ thổi phù phù cho ly ca cao bớt nóng vì cái tính sợ đồ ăn nóng (mèo thiệt).
「今日、自宅に戻りますね。画材を取りに帰らないといけないので」
「Hôm nay tôi sẽ xin phép quay trở lại nhà riêng một chuyến nhé ạ. Tôi phải về gom mấy thứ họa cụ mang đi nữa.」
「ええっ、残念。もっと一緒にいようよ」
「Eeeh, tiếc thế. Ở lại đây thêm với chị chút nữa đi mà.」
「木製ボードや水貼りテープとか、どこにしまったのか。本当に覚えてないんですよ。時間をかけて探さないと」
「Mấy thứ như bảng gỗ vẽ tranh (canvas board) với băng keo bồi giấy thủy lực (băng dán nước) này nọ, tôi thực sự không tài nào nhớ nổi mình đã cất tụi nó ở xó xỉnh nào rồi nữa ạ. Phải tốn kha khá thời gian về lục lọi, tìm kiếm mới ra được.」
今日は大学もバイトも休みだけど、明日は一限からデッサンの授業がある。スマホやパソコンなどの電子機器は柚城さんの部屋に持ち込んでいるが、久しぶりに使う木製キャンバスボードや水貼りテープなどの画材用具は自宅に置き去りである。これらの画材用具は置き場のスペースを取ってしまうから、ただでさえ狭い二人暮らしのワンルームが圧迫されてしまうのだ。居候としては気を遣わせたくない。どうやら一度、自分のマンションに戻る必要がありそうだった。
Hôm nay cả trường đại học lẫn chỗ làm thêm của tôi đều được nghỉ, thế nhưng ngày mai ngay từ tiết một đã có buổi học vẽ hình họa phối cảnh (dessin) rồi. Mấy thứ thiết bị điện tử như điện thoại hay máy tính xách tay thì tôi đã mang sang phòng của Yuzuki-san từ trước, nhưng đống họa cụ dùng cho môn vẽ đã lâu không rờ tới như bảng gỗ canvas hay băng dán bồi giấy thì vẫn bị bỏ xó ở nhà riêng của tôi. Mấy thứ đồ dùng học vẽ này vốn dĩ vô cùng cồng kềnh, chiếm diện tích, nếu mang hết sang thì căn phòng trọ một phòng vốn đã nhỏ hẹp của hai đứa sẽ bị bức bối, đè nén thêm mất. Bản thân là một kẻ ở ké (cư lưu nhi), tôi không muốn làm phiền hay khiến chị ấy phải bận tâm, cả nể. Xem ra việc bắt buộc phải lội bộ về căn chung cư (mansion) của mình một chuyến là điều không thể tránh khỏi rồi.
ちびちびとココアを飲みながら、柚城さんが唇を尖らせていた。僕も湯気を立てる黒い液面に口を付ける。
Yuzuki-san vừa nhâm nhi từng ngụm ca cao nhỏ vừa hờn dỗi chu chéo hai bờ môi ra. Tôi cũng đưa mắt nhìn làn khói nghi ngút bốc lên từ mặt chất lỏng màu đen trong ly rồi kề môi nhấp một ngụm.
「そっか、じゃあ泊まっていかないのね。そうですか、そうですか。今夜のお姉さんは寂しくなっちゃうなー。せっかく大きい布団を出したのになー」
「Ra là vậy, thế là đêm nay em không tính ở lại ngủ qua đêm với chị nữa chứ gì. Được lắm, được lắm nhé. Đêm nay bà chị này sẽ bị cô đơn, thèm thuồng lắm cho mà xemー. Người ta đã cất công lôi cái tấm nệm futon cỡ lớn ra sẵn rồi vậy màー.」
「その拗ね方はお姉さんっぽくないですよ」
「Cái kiểu hờn dỗi, nũng nịu đó của chị chẳng giống phong thái của một bà chị lớn chút nào đâu nha.」
「ふんっ!」
「Hứ, mặc kệ chị!」
「僕だって一緒にいたいですけどね。明日は一限からなので、今日中に余裕を持って準備を済ませておきたくて。デッサンの授業は苦手だけど、絶対に遅刻や忘れ物はしたくないので」
「Chính bản thân tôi cũng muốn được ở lại cạnh bên chị lắm chứ bộ. Nhưng vì ngày mai có tiết ngay từ ca một, nên hôm nay tôi muốn chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng từ sớm cho thư thả, đầu óc thoải mái ạ. Dẫu tôi cực kỳ dốt, không có năng khiếu với môn vẽ dessin này thật, nhưng tôi tuyệt đối không bao giờ muốn bản thân bị đi trễ hay quên mang theo đồ dùng học tập đâu.」
僕は曖昧に微笑んだ。自分の画力に対するコンプレックスに関しては既に打ち明けている。その上で、ちゃんと授業に向き合いたいという決意も。その気持ちを慮っているのだろう柚城さんは、まだ微妙に納得いかなそうな表情を浮かべていた。いつも僕の意思は全肯定されがちだったから、どこか新鮮で嬉しい気持ちになってしまう。
Tôi nở một nụ cười mỉm có phần mơ hồ. Về nỗi mặc cảm, tự ti (complex) đối với năng lực hội họa của bản thân, tôi đã sớm bộc bạch, thú nhận hết với chị từ trước rồi. Và cả cái quyết tâm muốn nghiêm túc đối diện, học hành đàng hoàng với buổi học ngày mai nữa. Có lẽ vì thấu cảm, cân nhắc cho tâm tư đó của tôi, Yuzuki-san lúc này đang thoáng hiện lên một biểu cảm có chút gì đó chưa thực sự cam tâm, cam chịu cho lắm. Trước giờ mọi ý chí, quyết định của tôi hầu như đều được chị toàn tâm ủng hộ, tán thành (toàn khẳng định), thế nên việc nhìn thấy dáng vẻ này của chị mang lại cho tôi một cảm giác vô cùng mới mẻ, thú vị.
「そっか、でもね。明日も天気は悪いと思う。さっき歩いた感じ、また雪が積もりそうだったよ。そうだ、明日の朝は大学まで車で送ってあげようか。それなら時間にも余裕できるでしょ?」
「Ra là vậy, nhưng mà này nhé. Chị nghĩ ngày mai thời tiết cũng sẽ xấu lắm đó. Cảm giác lúc nãy chị đi bộ ra ngoài ý, tuyết có vẻ như sắp sửa lại tích tụ, đóng dày lên tiếp rồi kìa. Hay là thế này đi, sáng mai chị lấy xe ô tô đưa em đến tận cổng trường đại học luôn nha? Như thế thì em sẽ dư dả, thoải mái thời gian hơn đúng không nè?」
「大丈夫ですよ、柚城さんは9時から仕事ありますよね。僕は僕で久しぶりに雪道を楽しんできますから」
「Không sao đâu mà chị, 9 giờ sáng mai chị cũng có ca làm việc ở công ty rồi cơ mà. Bản thân tôi thì lại muốn tự mình tận hưởng, trải nghiệm cảm giác đi trên con đường ngập tuyết sau một khoảng thời gian dài xem sao đây ạ.」
「ふーん。そう。君が楽しいなら別にいいけど」
「Hửm. Vậy hả. Nếu em thấy vui vẻ, thích thú với chuyện đó thì tốt rồi.」
「そんな拗ねないでください。大好きですよ」
「Chị đừng có hờn dỗi, xị mặt ra như thế nữa mà. Tôi yêu chị nhiều lắm đó biết không.」
ここまで柚城さんが食い下がるのも珍しい。なだめるような相槌に彼女が頬を膨らませる。こつん、と肩を小突かれてしまった。
Việc Yuzuki-san ngoan cố, ra sức kỳ kèo giữ người đến mức này thực sự là chuyện hiếm thấy. Trước câu đáp nhẹ của tôi, chị ấy khẽ phồng hai bên má lên nũng nịu. "Cộp" một cái, chị ấy dùng bờ vai huých nhẹ, thúc vào vai tôi một cái rõ đau.
「別に拗ねてないから、分かりやすく付け足さないで!」
「Ai thèm hờn dỗi gì chứ, em đừng có mà tự tiện thêm thắt, diễn giải một cách dễ hiểu như thế vào nha!」
「本心ですけどね。あなたを大好きなのは」
「Nhưng đó hoàn toàn là tiếng lòng, là lời nói thật lòng từ tận đáy tim của tôi mà. Chuyện tôi yêu thương chị hết mực ý.」
むぐっと声を詰まらせて、複雑そうな表情を浮かべる柚城さん。これも反射だというの、と小声で呟いていた。その言葉の意図が分からずに首を傾げると、ぎゅっと彼女に両方の手首を掴まれた。まるで手錠を掛けて逮捕されたかのように。
Yuzuki-san bỗng chốc nghẹn ứ họng, ú ớ không thốt nên lời, trên khuôn mặt thoáng hiện lên một biểu cảm vô cùng phức tạp, rối bời. Chị ấy khẽ lẩm bẩm một câu nhỏ như tiếng muỗi kêu: "Cái này mà em cũng bảo là phản chiếu (phản xạ) đấy hả……". Tôi không thấu hiểu được cái ẩn ý đằng sau câu nói đó nên khẽ nghiêng đầu thắc mắc, ngay lập tức, hai bên cổ tay của tôi đã bị chị ấy dùng cả hai tay tóm chặt, siết cứng lấy. Giống hệt như một kẻ tội phạm vừa mới bị tra tay vào còng, áp giải đi vậy.
「なんか、急にかわいさが増してる気がするっ」
「Cái gì thế này, tự dưng chị có cảm giác cái sự đáng yêu của em nó vừa mới tăng vọt lên một cách chóng mặt ý!」
「えっ、何ですか。僕のことを可愛いって言ってくれたのは柚城さんじゃないですか。あれは嬉しかったですよ」
「Ủa, cái gì cơ ạ? Chẳng phải người đầu tiên khen tôi đáng yêu chính là chị Yuzuki sao. Lúc nghe chị khen câu đó, tôi đã cảm thấy vui sướng lắm luôn đấy ạ.」
「そういうとこも!」
「Chính cái kiểu nói chuyện như thế này này!」
柚城さんが手首を押さえたまま、睫毛が触れるほどの至近距離で目を合わせてくる。僕は困惑して間の抜けた声を出した。そう簡単に人という生き物は変わらない。僕が秘めてる可愛げの総量も一晩で増えたりしないだろう。長岡の降雪じゃないんだから。
Yuzuki-san vừa khóa chặt hai bên cổ tay tôi, vừa rướn người tới trước, ép sát đôi mắt chạm nhau với tôi ở một cự ly gần đến mức hai hàng lông mi tưởng chừng như sắp sửa chạm, cọ xát vào nhau. Tôi đâm ra hoang mang, lúng túng thốt lên một tiếng kêu ngớ ngẩn đầy ngây ngô. Con người ta làm sao có thể dễ dàng thay đổi một sớm một chiều như thế được cơ chứ. Cái tổng dung lượng của nét đáng yêu tiềm ẩn bên trong con người tôi chắc chắn cũng chẳng thể nào tự động tăng vọt lên chỉ sau một đêm ngắn ngủi như vậy đâu.
「そんな気軽に"大好き"とか言わなかったでしょ。これまでの君ならさ!」
「Bình thường làm gì có chuyện em lại có thể thốt ra mấy câu kiểu 'Em yêu chị' một cách dễ dàng, trơn tru như thế được chứ. Cậu em của chị trước đây làm gì có chuyện như vậy!」
「そうでしたっけ?」
「Ủa, thế ạ? Có chuyện đó sao chị?」
「一晩で変わりすぎだよ。昨日、キスした時は耳まで真っ赤になってたのに」
「Em thay đổi chóng mặt chỉ sau một đêm rồi đấy. Rõ ràng đêm qua lúc hai đứa mình hôn nhau, hai tai của em còn đỏ bừng, chín mọng lên cơ mà.」
「それは柚城さんの方もでしたよね。あれは反射ですよ、反射。ミラーリング効果です」
「Cái đó thì chính bản thân chị Yuzuki lúc ấy cũng y hệt như vậy còn gì ạ. Đây gọi là phản chiếu đấy chị, là phản chiếu. Hiệu ứng soi gương (mirroring effect) trong tâm lý học đó mà.」
「何だか口も達者になってるじゃん!」
「Trời đất ơi, giờ lại còn lanh mồm lanh miệng, lý sự cùn giỏi thế cơ chứ!」
気持ちが吹っ切れたのは事実かもしれない。これまでも食中毒になったり、たまに涙を流してしまったり、初めてのキスで面映くなったり、みっともない姿はたくさん見せてきたけれど。そんな事では幻滅しないという言質をもらった。昨夜は自分自身を見つめ直す機会でもあった。きっと素直になった事で、鏡面の曇りが取り払われて、反射の精度が上がったのかもしれない。それは一緒に暮らす恋人を喜ばせたいという感情と繋がっているから。
Cái việc bản thân đã hoàn toàn trút bỏ được gánh nặng tâm lý, trở nên thanh thản, thông suốt hơn quả thực là một sự thật không thể chối cãi. Từ trước đến nay, dẫu là những lúc bị ngộ độc thực phẩm nằm bẹp gí, hay những lúc yếu lòng vô tình rơi nước mắt, cho đến cả sự ngượng ngùng, thẹn thùng trong nụ hôn đầu đời vừa qua…… tôi đã phơi bày, trưng trổ ra trước mặt người con gái này biết bao nhiêu dáng vẻ nhếch nhác, thảm hại và yếu đuối của mình rồi. Thế nhưng, tôi đã nhận được một lời khẳng định, một lời hứa chắc như đinh đóng cột từ chị rằng: "Chị tuyệt đối không bao giờ vỡ mộng trước những điều đó đâu". Đêm ngày hôm qua chính là một cơ hội ngàn năm có một để tôi tự soi rọi, nhìn nhận lại bản ngã của chính mình. Chắc chắn nhờ vào việc bản thân trở nên thành thật, ngoan ngoãn hơn, nên cái độ chính xác, độ tinh chuẩn trong việc phản chiếu của tấm gương nội tâm cũng theo đó mà được nâng cấp, tăng tiến vượt bậc rồi. Bởi lẽ, cái cơ chế phản chiếu đó giờ đây đã được đan cài, kết nối chặt chẽ với một dòng cảm xúc mãnh liệt bên trong tôi: Đó là niềm khao khát muốn làm cho người con gái mà mình đang chung sống, người yêu của đời mình, được vui vẻ và hạnh phúc ngập tràn.
「柚城さんだって、昨日までとは違いますよ」
「Chính bản thân chị Yuzuki cũng có khác gì tôi đâu, chị cũng khác hẳn so với ngày hôm qua rồi còn gì.」
「それはそうよ。私は毎日アップデートされてるからね」
「Cái đó là đương nhiên rồi. Bởi vì mỗi một ngày trôi qua là chị lại tự động cập nhật, nâng cấp (update) bản thân mình lên một phiên bản tốt hơn mà lị.」
さっきまでの興奮から冷静さを取り戻したのか、テーブルに身を乗り出していた柚城さんが、やっと僕の手首を離してくれる。ココアの液面が微かに振動していた。
Yuzuki-san, người mà mới cách đây vài phút còn đang vô cùng phấn khích, rướn hẳn nửa thân người về phía mặt bàn, rốt cuộc cũng chịu buông lỏng hai bên cổ tay của tôi ra. Mặt chất lỏng ca cao trong ly lúc này vẫn đang khẽ dao động, gợn sóng nhè nhẹ.
「はぁ、そういうとこですよ」
「Hầy, chính cái nét tính cách đó của chị đấy ạ.」
「とにかく、君のかわいさが増してるなって。こっちは朝からドキドキしちゃうの。何とかしてって!」
「Nói tóm lại ý, là chị cứ thấy cái sự đáng yêu của em nó cứ tăng tiến vùn vụt thế nào ý. Làm cho bà chị này mới sáng ngày ra mà tim cứ đập thình thịch liên hồi đây này. Em phải chịu trách nhiệm, làm gì đó đi chứ!」
それは、こっちの台詞でもある。これまで子供のように拗ねてきたり、あどけない表情で唇を尖らせたり、強引に引き留めようとしたり、そんな姿を見せてこなかったのは彼女の方も同じだろう。お互いの境界線が溶けた結果、同じタイミングで心境の変化が生じたのだろうか。
Cái câu nói đó, thực ra phải để em nói mới đúng chứ. Cái việc cứ hờn dỗi nũng nịu như một đứa trẻ con, rồi chu chéo hai bờ môi với vẻ mặt ngây ngô, hay cả việc dùng vũ lực cố tình kỳ kèo để giữ người ở lại…… những dáng vẻ như thế này, trước đây chị ấy cũng có bao giờ chịu phơi bày ra đâu cơ chứ. Phải chăng chính cái kết quả của việc đường ranh giới phân định giữa hai đứa đã hoàn toàn tan chảy, đã khiến cho tâm tư tình cảm của cả hai bên đều đồng loạt nảy sinh những chuyển biến cùng một thời điểm đây nhỉ?
「こっちは無自覚です。あなたが慣れてください」
「Bản thân tôi hoàn toàn là vô tri, vô ý thức trong chuyện đó nha. Chị chịu khó mà tự thích nghi, làm quen dần đi là vừa ạ.」
「ふふっ、かわいくないね」
「Hứ, cái đồ không đáng yêu chút nào cả.」
「その顔のまま、鏡を確認してきてください。僕が可愛くなった原因が映っていると思いますよ」
「Chị cứ giữ nguyên cái gương mặt nũng nịu đó rồi ra trước gương mà tự kiểm tra đi ạ. Tôi nghĩ cái nguyên nhân gốc rễ khiến tôi trở nên đáng yêu như hiện tại đang được phản chiếu, hiển hiện mồn một ở trong gương đấy.」
「……ごめん、ちょっとお洒落な言い回しを狙ったんだろうけど、寝起きのお姉さんには理解できなかったよ」
「……Xin lỗi em nha, chị biết là cậu em vừa mới cố tình buông ra một câu thả thính, nói giảm nói tránh nghe cho sang mồm, văn vở đấy rồi. Nhưng mà một bà chị vừa mới ngủ dậy, đầu óc còn đang u mê như chị thì chịu chết, không nuốt trôi hay load kịp cái ẩn ý đó đâu nhe.」
その悪戯っぽく片目を瞑る仕草に胸を撃ち抜かれた。ふいっと視線を逸らしてしまう。
Chính cái dáng vẻ nháy mắt, khẽ nheo một bên mắt đầy tinh nghịch đó của chị đã lập tức bắn trúng, găm thẳng vào tim tôi. Tôi đành phải bất giác đánh trống lảng, vội vàng dời tầm mắt đi chỗ khác để che giấu sự bối rối.
「もうっ、かわいいですね。はい、ココア飲み終わったなら、シンクに置いといてください。あとは僕が洗っておきますから」
「Hì hì, trông đáng yêu chưa kìa. Thôi được rồi, nếu chị đã uống xong ca cao rồi thì đem đặt cái ly vào bồn rửa chén (sink) giùm tôi nha.」
「うん、いつもありがとうね」
「Dạ vâng, lúc nào cũng cảm ơn em nhiều nhé.」
軽口を叩き合いながら、テーブルの上を片付ける。冬の食器洗い当番は全てにおいて僕の役目だった。自由意志という名目の惚れた弱みである。
Hai đứa vừa tíu tít tung hứng, trêu đùa nhau vài câu vừa bắt tay vào dọn dẹp sạch sẽ mặt bàn. Việc đảm nhận nhiệm vụ rửa bát chén vào những ngày mùa đông lạnh giá, từ đầu đến cuối đều là đặc quyền, là phần việc thuộc về tôi. Đây gọi là cái sự tự nguyện, cam chịu chịu thiệt mang danh nghĩa của một kẻ đã lỡ sa vào lưới tình, yêu đối phương đến mức mờ mắt.
「暇だね、この前の映画の続きでも観る?」
「Rảnh rỗi quá nè, hay là hai đứa mình lại cày tiếp cái bộ phim hôm nọ đang xem dở nha?」
「いいですね。んむ、っ……んっ、むっ」
「Dạ được thế thì tốt quá ạ. Ựm, ưm…… ưm……」
「……あははっ、隙だらけだったね!」
「……A ha ha, em sơ hở, mất cảnh giác quá cơ!」
大した食器の数でもない。あっという間に洗い物が終わって、ソファに座った柚城さんに手招きされる。彼女の隣に腰掛けた瞬間、ちゅっと一方的に唇を奪われた。まるで爽やかとは言えない大人の営みが、歯磨き粉のミントの清涼感を舌の上に残していった。そんな息継ぎも許されぬアンバランスである。
Đống bát đĩa cũng chẳng có bao nhiêu cái. Loáng một cái là tôi đã hoàn thành xong xuôi phần việc rửa chén của mình, vừa quay ra liền thấy Yuzuki-san đang ngồi trên ghế sofa đưa tay ra hiệu vẫy vẫy gọi tôi lại. Ngay cái khoảnh khắc tôi vừa mới đặt mông ngồi xuống cạnh bên chị, thì "chụt" một cái, bờ môi của tôi đã bị chị ấy đơn phương cướp đoạt, chiếm hữu mất rồi. Cái nụ hôn mang đậm hơi thở sinh hoạt của người trưởng thành dẫu không thể gọi là thanh mát, ngọt ngào cho lắm ấy, lại để lại một cảm giác cay cay, mát lạnh đầy sảng khoái của hương vị bạc hà từ kem đánh răng vương lại nơi đầu lưỡi. Quả thực là một sự bất cân bằng (unbalance) đến buồn cười.
「もう、不意打ちすぎませんか。もっと心の準備をさせてほしいんですけど……」
「Trời đất ơi, chị đánh úp bất ngờ quá đấy ạ. Ít nhất cũng phải cho tôi thời gian để chuẩn bị tâm lý sẵn sàng trước đã chứ……」
「そうだ、ちょっと待ってね。あとで聞いてあげるから」
「Được rồi, được rồi, em chịu khó chờ chị một chút nhé. Tí nữa chị sẽ ngồi nghe em cằn nhằn sau nha.」
そう言い残して、柚城さんが奥の私室に姿を消す。本当に自由気ままな人である。僕が溜息を吐くと、数分くらいガサゴソと物を探すような音がしていた。
Bỏ lại một câu nói dở dang như thế, Yuzuki-san liền đứng dậy rồi lủi mất dạng vào căn phòng riêng nằm sâu ở phía bên trong. Đúng thật là một con người thích làm gì thì làm, tự do tự tại hết mức. Trong lúc tôi còn đang buông một tiếng thở dài thườn thượt, thì từ phía bên trong căn phòng bỗng vang lên những tiếng "loạt xoạt, lạch cạch" như thể chị ấy đang lục lọi, ra sức tìm kiếm một món đồ gì đó suốt vài phút đồng hồ.
「お待たせ」
「Để em phải chờ lâu rồi nè.」
柚城さんが戻ってきた時、僕は目を丸くした。それは彼女がしなやかな両腕でかき抱くようにして、僕のものではない水貼りテープと木製キャンバスボードを運んできたからである。
Ngay khi Yuzuki-san vừa bước trở ra, đôi mắt của tôi bỗng chốc trợn tròn lên vì kinh ngạc. Bởi lẽ, bằng hai cánh tay thon thả, mềm mại của mình, chị ấy đang ôm ghì lấy, khệ nệ khênh ra một cuộn băng keo bồi giấy thủy lực và một chiếc bảng gỗ vẽ canvas―những thứ họa cụ hoàn toàn không phải thuộc quyền sở hữu của tôi.
「はい、これ使っていいよ。三年前のものだけど、まだ使えると思うから。これで家に帰らなくても大丈夫だよね」
「Nè, em cứ tự nhiên lấy mấy thứ này mà dùng nhé. Dẫu là đồ từ tận 3 năm trước rồi nhưng chị nghĩ là vẫn còn xài tốt chán đấy. Có cái này rồi thì em không cần phải lội bộ về nhà riêng nữa đúng không nè.」
「えっ、いいんですか。というか、水貼りテープとか持ってたんですね。これ、その辺では買えないですよ?」
「Ơ, như thế này có ổn không ạ? Mà khoảnh khắc này…… sao chị lại có sẵn mấy thứ như băng keo bồi giấy ở trong phòng thế này được chứ. Mấy cái họa cụ chuyên dụng này đâu phải là thứ có thể dễ dàng ra tiệm mua bạ được đâu ạ?」
「ふふっ、私にもデッサンに興味を持っていた時代があったってことよ。すぐに挫折したけどね」
「Hì hì, thì điều đó chứng tỏ rằng trong quá khứ, cũng từng có một thời bà chị này có hứng thú, đam mê với môn vẽ hình họa dessin này chứ sao. Mặc dù là chị đã sớm bỏ cuộc, gục ngã ngay từ vòng gửi xe rồi cơ đấy.」
僕は驚きを隠せなかった。これらの画材用具は決して新品ではなく、どこか使い古されたような状態だった。どうして、柚城さんがこれを保管していたのだろうか。そのように湧き出す疑問は尽きないが、今は感謝する方が最優先事項だった。彼女の厚意で自宅に帰る手間が省ける。
Tôi hoàn toàn không cách nào che giấu nổi sự kinh ngạc, thảng thốt của mình. Đống họa cụ học vẽ này hoàn toàn không phải là đồ mới tinh, mà rõ ràng trông chúng đã có phần cũ kỹ, hằn in vết tích của việc từng được sử dụng qua rất nhiều lần rồi. Tại sao, bằng cách nào mà Yuzuki-san lại cất giữ, bảo quản những thứ đồ dùng này kỹ lưỡng đến tận bây giờ cơ chứ? Cái nỗi băn khoăn, nghi vấn trong lòng tôi cứ thế tuôn ra không tài nào dứt được, thế nhưng vào lúc này, việc mở lời cảm ơn trước tấm chân tình của chị mới là điều cần phải ưu tiên hàng đầu. Nhờ có sự chu đáo, tốt bụng của chị mà tôi đã đỡ được bao nhiêu công sức, tiết kiệm được thời gian phải lội bộ về nhà riêng.
「ありがとうございます。柚城さんって何でも持ってきてくれるんですね。まるで"ドラえもん"みたいです」
「Tôi cảm ơn chị nhiều lắm ạ. Chị Yuzuki đúng là cái gì cũng có thể lôi ra được hết nhỉ. Trông chị cứ như là chú mèo máy "Doraemon" bước ra đời thực vậy đó.」
「ふふっ、ドラえもんか。懐かしいな」
「Hì hì, Doraemon sao. Nghe hoài niệm, nhớ nhung ghê cơ.」
虚空を掴むかのように柚城さんは右手をかざした。
Yuzuki-san khẽ giơ bàn tay phải lên không trung, như thể đang muốn nắm bắt lấy một khoảng không vô định nào đó.
「昨日は君にばかり喋ってもらったから、今日は私の話をしてもいい?」
「Hôm qua chị đã lắng nghe toàn tiếng lòng của em rồi, nên hôm nay…… em cho phép chị được kể về câu chuyện của bản thân mình nhé?」
「はい」
「Dạ vâng.」
「そう身構えないで、ゆっくり話そうよ」
「Đừng có căng thẳng, thủ thế như thế chứ, hai đứa mình cứ thong thả mà trò chuyện cùng nhau thôi mà.」
僕が背筋を伸ばすと、ぐいっと肩を抱くように体を引き寄せられた。少しだけ硬い鎖骨の感触が頬に触れる。彼女の首筋に顔を埋めると、きゅるっと胃腸が消化活動をする微かな自己主張の音色が聴こえた。
Ngay khi tôi vừa khẽ thẳng lưng lên gượng chỉnh lại tư thế, thì "vút" một cái, một lực cánh tay mạnh mẽ dứt khoát đã kéo ghì, ôm chặt lấy bả vai tôi kéo sát vào người chị. Cảm giác cứng cáp, thon gầy từ phần xương quai xanh của chị khẽ chạm vào gò má tôi. Khi tôi vùi sâu khuôn mặt mình vào hõm cổ của người con gái ấy, tai tôi liền nghe thấy một âm thanh ọt ẹt, nhu động co bóp từ dạ dày và đường ruột của chị cất lên như một sự tự khẳng định, bộc lộ bản thân đầy nhỏ bé.
「ふふっ、恥ずかしい。お腹いっぱいだよ」
「Hì hì, xấu hổ chết đi được mất thôi. Chị đang bụng đói meo, trống rỗng rồi nè.」
「……」
「……」
僕の肩を抱き寄せていた手が徐々に登ってきて、つぅっと首筋を焦らすように撫でてくる。そして耳たぶにも指先が伸びてきて、その輪郭をなぞるかのように、恥ずかしい音を忘れさせるかのように、ぐにぐにっと遠慮なく耳朶を捏ねくり回される。僕はされるがままになっていた。
Bàn tay vốn đang ôm ghì lấy bờ vai tôi từ nãy bỗng chốc rón rén leo dần lên phía trên, rồi khẽ vuốt ve, mơn trớn dọc theo bờ gáy cổ của tôi đầy trêu ngươi, khơi gợi. Và rồi, những đầu ngón tay ấy lại khẽ mò mẫm tìm đến phần thùy tai, nắn bóp, vê vuốt lấy đường ranh giới vành tai của tôi một cách vô cùng tự nhiên, không chút dè dặt, như thể đang muốn khiến tôi quên đi cái âm thanh đáng xấu hổ vừa cất lên lúc nãy vậy. Bản thân tôi thì chỉ biết ngoan ngoãn nằm im, phó mặc hoàn toàn cho những cử chỉ vuốt ve đó của chị.
「自分の考えを改まって言うの恥ずかしいね。やっぱり君はすごいよ。すごくかわいい」
「Cứ hễ phải nghiêm túc nói ra những suy nghĩ sâu kín của bản thân là lại thấy ngại ngùng, ngượng ngùng ghê cơ. Nhưng mà suy cho cùng, chị vẫn thấy em thực sự rất cừ khôi đấy. Cực kỳ đáng yêu luôn.」
「……」
「……」
「私はね。目に見える形の好意が好き。だから私も、そういう事ができる人でいたい。ずっと、そうやって生きたくて、そうやって可愛いままで死にたかったの」
「Bản thân chị ý mà…… Chị cực kỳ yêu thích những hình thái tình cảm, sự hảo ý có thể nhìn thấy được bằng mắt thường. Chính vì vậy, chị cũng muốn mình trở thành một con người có thể làm được những điều như thế cho người khác. Chị đã luôn muốn được sống một cuộc đời như vậy, rồi cứ giữ nguyên cái nét đáng yêu, tốt bụng đó cho đến tận lúc nhắm mắt xuôi tay.」
「……」
「……」
僕は声にならない相槌を返した。何もする事のない両腕を彼女の細い腰に回す。びくっと華奢な体が震えた。
Tôi khẽ đáp lại bằng một cái gật đầu không thành tiếng. Hai cánh tay vốn đang trống trải, không biết phải đặt vào đâu của tôi lúc này liền khẽ vòng qua, ôm lấy vòng eo thon gọn, mảnh khảnh của chị. Cơ thể mỏng manh, hoa mỹ của chị bất chợt khẽ rùng mình, run lên một cái nhẹ.
「どこから話そうかな。私には双子の姉がいてね。勉強もスポーツも何をやらせても全てが完璧な姉がいたの」
「Nên bắt đầu kể từ đâu bây giờ nhỉ. Thật ra thì chị có một người chị gái sinh đôi. Chị ấy là một con người vô cùng hoàn hảo, toàn tài, dẫu là trong chuyện học hành hay các môn thể thao, bất cứ thứ gì chị ấy nhúng tay vào cũng đều đạt kết quả xuất sắc, vẹn toàn cả.」
「そうなんですね」
「Ra là vậy ạ.」
「その一方で、私は勉強もスポーツも苦手だった。いつも姉と比較されてきた。姉は周りなんて気にせずに優しくしてくれたけど、私は姉の近くにいるのが苦手だった」
「Trái ngược hoàn toàn với người chị ấy, chị lại là một đứa vô cùng dốt nát, vụng về trong cả học tập lẫn thể thao. Lúc nào chị cũng bị đem ra đặt lên bàn cân để so sánh với chị gái của mình. Dẫu cho người chị ấy lúc nào cũng đối xử dịu dàng, bao dung với chị mà chẳng mảy may bận tâm đến những lời đàm tiếu xung quanh, thế nhưng bản thân chị lại cực kỳ bài xích, không thích cái cảm giác phải ở gần bên cạnh chị ấy.」
「……」
「……」
「でもね。そんな考えが変わったきっかけがあってね。いつも身支度も完璧にしている姉が制服のリボンを失くしたことがあったの。どうしようって、とても慌てた様子で私に泣きついてきた。その日は服装指導があったから」
「Thế nhưng mà này, có một sự kiện đã trở thành bước ngoặt khiến cho lối suy nghĩ đó của chị hoàn toàn thay đổi đấy nhé. Đó là vào một ngày nọ, người chị gái vốn luôn chăm chút diện mạo, sửa soạn phục trang một cách hoàn hảo không một vết xước của chị, đột nhiên lại làm lạc mất chiếc nơ thắt của bộ đồng nghiệp trường. Chị ấy đã vô cùng hoảng loạn, quýnh quáng cả lên, rồi vừa khóc lóc thảm thiết vừa chạy đến cầu cứu chị. Bởi lẽ, đúng vào ngày hôm đó trường lại có buổi kiểm tra chỉnh đốn trang phục nề nếp của học sinh.」
「……どうなったんですか?」
「……Và rồi chuyện gì đã xảy ra thế ạ?」
僕が柚城さんの立場だったら。一番近くの妬ましい存在が痛い目を見るとして、どんな行動を取るだろう。
Nếu như bản thân tôi đặt mình vào vị thế, chỗ đứng của Yuzuki-san lúc bấy giờ. Nếu như cái thực thể hoàn hảo ngay bên cạnh mà mình luôn thầm đố kỵ, ghen ghét bấy lâu nay sắp sửa phải nếm mùi đau khổ, phải gặp quả báo nhãn tiền trước mắt, thì bản thân tôi sẽ lựa chọn đưa ra hành động như thế nào đây nhỉ?
柚城さんは窓の外を静かに眺めていた。
Yuzuki-san lúc này đang lặng im, đưa cặp mắt xa xăm nhìn ra phía ngoài khung cửa sổ.
「自分のリボンを貸してあげたよ。私がリボンを失くしたってことにしようって。姉は呆然としていたけど、すんなりと私の提案を受け入れていたね。その時に気付いたの。この人は完璧でいるという重圧の中で毎日を生きているんだと。そして妹の私にしか弱音を吐けなかったんだと」
「Chị đã thẳng tay tháo chiếc nơ của mình ra rồi cho chị ấy mượn đấy. Chị bảo là cứ coi như chính em là đứa làm mất nơ đi. Người chị gái của chị lúc đó hoàn toàn bàng hoàng, đứng hình mất vài giây, nhưng rồi cũng nhanh chóng chấp nhận, thỏa hiệp trước lời đề nghị đó của chị. Chính vào cái khoảnh khắc đó, chị mới chợt bừng tỉnh nhận ra một điều. Hóa ra, con người này bấy lâu nay đã luôn phải gồng mình sống sót từng ngày dưới một áp lực, sức ép vô cùng nặng nề mang tên 'phải luôn hoàn hảo'. Và rồi, chị ấy cũng chỉ biết lựa chọn duy nhất người em gái là chị đây để bộc lộ, trút bỏ đi sự yếu đuối của mình mà thôi.」
「そうですか。それは優しいですね」
「Ra là thế ạ. Chị thực sự rất dịu dàng, tốt bụng đó.」
「それからは姉へのコンプレックスは無くなったし、自分らしく生きてみようって気持ちになった。姉の身代わりで服装指導の先生に怒鳴られた時も、心の中では誇らしい気持ちでいっぱいだった。それが私の最初の人助けの思い出だったね」
「Kể từ sau lần đó, nỗi mặc cảm, tự ti (complex) đối với chị gái trong lòng chị đã hoàn toàn tiêu biến, và chị bắt đầu nảy sinh một tâm tư muốn thử sống một cuộc đời là chính mình xem sao. Ngay cả cái lúc chị phải đứng ra gánh tội thay cho chị gái, bị thầy giáo phụ trách nề nếp kỷ luật quát tháo, mắng mỏ xối xả vào mặt, thì sâu thẳm trong thâm tâm chị lúc ấy vẫn tràn ngập một cảm giác vô cùng tự hào, hãnh diện. Đó chính là ký ức đầu đời về việc "giúp đỡ người khác" của chị đấy.」
「人助けですか」
「Giúp đỡ người khác sao ạ.」
柚城さんは自嘲気味に微笑んだ。どこか痛みを我慢するような表情だった。
Yuzuki-san khẽ nở một nụ cười tự giễu, tự trào. Trên gương mặt thoáng hiện lên một biểu cảm như thể đang cố công kìm nén, chịu đựng một nỗi đau đớn nào đó.
「ドラえもんって程じゃないけどさ。教科書を忘れた子に私の教科書を貸してあげたり。寒そうにしている友達に上着を貸してあげたり。バレンタインデーにはクラスの男子全員に義理チョコを配ってみたり。行事に関係ない日でも近い席のクラスメイトにお菓子をあげてみたり。私は周囲に優しくできるようになった。たぶん、完璧な姉とは違う形で一目置かれたかったんだと思う。自分が欠けてるからこそ、他人の穴を埋めるような人になりたかったの。子供の理想っぽくて笑えるでしょ?」
「Dẫu chẳng đến mức vĩ đại như chú mèo máy Doraemon đâu, nhưng mà…… Chị bắt đầu cho mấy đứa bạn quên mang sách mượn chung sách giáo khoa này. Rồi lại nhường áo khoác cho những người bạn đang run rẩy vì lạnh mặc vào này. Vào ngày lễ Tình nhân (Valentine), chị lại tự tay đi phân phát sô-cô-la nghĩa cử cho toàn bộ đám con trai trong lớp này. Thậm chí dẫu là vào những ngày bình thường chẳng có sự kiện gì đi chăng nữa, chị vẫn thường xuyên đem bánh kẹo ra chia sẻ cho mấy đứa bạn ngồi bàn lân cận xung quanh. Chị đã trở nên biết cách đối xử dịu dàng, bao dung với thế giới xung quanh như thế đấy. Có lẽ, thâm tâm chị lúc bấy giờ chỉ là muốn bản thân được mọi người nhìn nhận, nể phục bằng một hình thái, một cách thức hoàn toàn khác biệt so với người chị gái hoàn hảo của mình mà thôi. Chính vì bản thân là một thực thể khiếm khuyết, đầy vết rạn nứt, nên chị mới khao khát muốn trở thành một con người có thể đi lấp đầy những khoảng trống, những lỗ hổng của người khác. Nghe cứ như là một thứ lý tưởng hão huyền đầy ngây ngô của lũ trẻ con, nực cười lắm đúng không em?」
「いいじゃないですか。そういう自覚あっての優しさも」
「Như thế thì có gì là không tốt đâu cơ chứ. Cái sự dịu dàng, tốt bụng dựa trên sự tự nhận thức, tự giác rõ ràng như thế, tôi thấy tuyệt vời lắm chứ bộ.」
何かをあげたり、何かをしてあげたり。そういう行為が柚城さんは好きだったのだと言った。それは僕の目指している"反射"よりも積極的で、仄かな自己犠牲を孕んだ精神だと感じてしまう。
Cái việc trao đi một món quà cho ai đó, hay việc đứng ra làm một điều gì đó cho người khác. Yuzuki-san đã bộc bạch rằng chị cực kỳ yêu thích những hành vi như vậy. Thế nhưng, bản thân tôi lại cảm nhận được rằng, cái hành động đó của chị mang tính chủ động, tích cực hơn rất nhiều so với cái cơ chế "phản chiếu" mà bản thân tôi đang hướng tới, và đồng thời, nó cũng chất chứa, mầm một tinh thần tự hy sinh bản thân đầy âm ỉ bên trong.
僕と彼女は違うルールで生きている。それを打ち明け合って、ゆっくりと擦り合わせることが出来るのが、恋人という関係性にのみ許された特権なのだろう。
Tôi và người con gái này đang sinh tồn dựa trên hai quy luật, hai quy tắc trò chơi (rules) hoàn toàn khác biệt nhau. Việc có thể tự do mở lòng, bộc bạch những quy tắc ấy cho đối phương nghe, rồi cứ thế chầm chậm, từ tốn mài giũa, dung hòa (sát hợp) chúng lại với nhau…… tôi nghĩ, đó chính là cái đặc quyền độc nhất vô nhị mà chỉ có những kẻ đang nằm trong một mối quan hệ yêu đương như chúng tôi mới được phép tận hưởng mà thôi.
「そう本当に思ってくれる?」
「Em…… thực sự suy nghĩ như vậy về chị sao?」
柚城さんは首を傾げた。
Yuzuki-san khẽ nghiêng đầu thắc mắc.
「他人の穴を埋めるってことはさ。他人の弱さを探ることと同じだったよ。結局、私の性格は悪くてさ。完璧な姉が弱点を見せた時のように、私に対して他人が心を開いてくれる瞬間が好きになっちゃったの」
「Cái việc đi lấp đầy những khoảng trống, những lỗ hổng của người khác ý mà…… Suy cho cùng, nó cũng đồng nghĩa với việc cố công đi dò xét, tìm kiếm điểm yếu của người ta mà thôi. Kết cục thì, bản chất tính cách của chị cũng tồi tệ, thối nát lắm em ạ. Giống hệt như cái khoảnh khắc mà người chị gái hoàn hảo lộ ra tử huyệt trước mặt chị năm xưa vậy, chị đã lỡ đắm chìm và đâm ra nghiện, yêu thích cái khoảnh khắc mà người khác chịu mở lòng, phơi bày sự yếu đuối của họ ra trước mặt chị mất rồi.」
「……」
「……」
「ふふっ、君も反応に困るよね。一応、これは昔の話だからさ」
「Hì hì, em cũng đang đơ người, không biết phải phản ứng ra sao đúng không nè. Dẫu sao thì đó cũng là chuyện của ngày xửa ngày xưa rồi mà.」
柚城さんは寂しそうだった。ほんの数分前に"ドラえもん"のポケットから出てきた使い古された画材用具を思い出す。僕を帰したくない一心で自分の私物を貸し出してくれる優しい人だ。そんな彼女の思い出話に勝手な評価を付ける気はない。だから、この独白を最後まで語らせてあげることしかできない。
Dáng vẻ của Yuzuki-san lúc này trông vô cùng cô đơn, sầu muộn. Tôi bất giác nhớ đến đống họa cụ cũ kỹ, hằn in vết tích thời gian vừa mới được lôi ra từ chiếc "túi thần kỳ của Doraemon" cách đây vài phút trước. Chị ấy là một con người dịu dàng đến thế, chấp nhận đem tư trang, vật dụng cá nhân của mình ra cho mượn chỉ vì một tâm tư duy nhất là không muốn tôi rời đi. Bản thân tôi hoàn toàn không có ý định đưa ra bất cứ lời phán xét, đánh giá tùy tiện nào đối với những ký ức, câu chuyện quá khứ của chị ấy cả. Chính vì vậy, điều duy nhất tôi có thể làm lúc này, chỉ là im lặng và để chị được trút hết toàn bộ nỗi lòng, lời độc thoại này cho đến tận câu chữ cuối cùng mà thôi.
「ううん、聞きたいです。昔の柚城さんの話」
「Không đâu ạ, tôi thực sự rất muốn nghe tiếp mà. Câu chuyện về chị Yuzuki của ngày xưa ý.」
「……本当に優しいね。面倒とか言わないんだ」
「……Em đúng là một cậu em dịu dàng quá cơ.」
彼女の淡い微笑み。僕は間違えていないはずだ。
Một nụ cười mỉm nhạt nhòa, thoáng qua trên gương mặt chị. Tôi tự nhủ bản thân chắc chắn đã không hành xử sai lầm.
「まぁ、そこで自己犠牲にのめり込むのは辞めたんだ。心を開いてくれるまで優しくするのはいいけど、そこから先の面倒を見るのは違う気がしてね。広く、浅く、優しく、人を助けることにしたの。今になって思うと、かなり歪んでいるよね。そういう才能があったのかもしれない。あの完璧な姉でさえも完全に騙し切れた。私の歪んだ優しさに気付く人は誰もいなかった」
「Mà nói chung là, kể từ sau đó chị đã chủ động từ bỏ, không để bản thân dấn sâu vào cái thói tự hy sinh đó nữa đâu. Cái việc đối xử tốt, dịu dàng với người ta cho đến khi họ chịu mở lòng thì không nói làm gì, chứ còn việc phải đứng ra bao bọc, lo liệu chăm sóc cho cái phần đời tiếp theo sau đó của họ thì chị lại thấy có gì đó sai sai, không đúng lắm. Thế nên, chị đã quyết định sẽ đi giúp đỡ người khác theo một phương châm: rộng khắp, hời hợt, và dịu dàng. Bây giờ ngẫm lại, chị mới thấy cái cách sống đó thực sự là vô cùng méo mó, lệch lạc đúng không nè. Nhưng biết đâu chừng, tự bản thân chị lại có một thiên phú, tài năng bẩm sinh trong cái chuyện đó không biết chừng nha. Ngay cả người chị gái hoàn hảo đến thế mà cũng bị chị dắt mũi, lừa lọc một cách hoàn toàn nữa là. Tuyệt nhiên chẳng có một ai mảy may nhận ra cái sự dịu dàng đầy méo mó, thối nát này bên trong con người chị cả.」
「気付いてもらいたかったんですか?」
「Thế…… chị đã từng khao khát có ai đó nhận ra điều đó chưa?」
「そういう訳ではないよ。ただ、いつバレるか分からない怖さはあったね。だから第一印象を綺麗に整えて、耳触りの良い言葉を並べて、あの完璧な姉にも負けない愛嬌で乗り切って。だんだんと私が行動するより先に、皆が私を頼ってくるようになった。誰も私の心を奥底まで覗こうとはしないのに、そこに救いを見い出している。その不思議な感じ、君なら分かってくれるでしょ?」
「Cũng không hẳn là như vậy đâu em. Chỉ là, thâm tâm chị lúc nào cũng thường trực một nỗi sợ hãi tột cùng vì không biết cái bản chất này của mình sẽ bị bại lộ, bị bóc trần vào lúc nào mà thôi. Chính vì thế, chị luôn cố công tô vẽ, gọt giũa cho cái ấn tượng đầu tiên (first impression) của mình trông thật lung linh, hoàn mỹ, rồi lại uốn ba tấc lưỡi buông ra những lời lọt tai, dễ nghe nhất, kết hợp với cái nét duyên dáng, Dễ thương không hề thua kém người chị gái hoàn hảo kia để vượt qua tất cả mọi chuyện. Và rồi, dần dần chẳng cần chị phải chủ động ra tay hành động gì cả, tất cả mọi người xung quanh đều tự khắc tìm đến và dựa dẫm, cậy nhờ vào chị. Nực cười ở chỗ, dẫu chẳng có một ai thèm ngó ngàng hay cố công nhòm ngó vào sâu thẳm nơi đáy tim của chị, thế nhưng họ lại cứ tự tiện tìm thấy sự cứu rỗi, cứu vớt cuộc đời họ ở nơi chị đấy. Cái cảm giác kỳ lạ, mơ hồ đó…… chắc chắn một người như em sẽ thấu hiểu rõ ràng nhất đúng không nè?」
頭上から同意を求められて、ぐりぐりっと頭頂部を柚城さんの首筋に擦り付けた。彼女の言う通りだった。
Nhận được câu cầu thị, tìm kiếm sự đồng điệu cất lên từ phía ngay trên đỉnh đầu, tôi liền dùng phần đỉnh đầu của mình ra sức cọ xát, rúc sâu vào hõm cổ của Yuzuki-san như một câu trả lời tán đồng. Quả thực hoàn toàn đúng như những gì chị ấy vừa nói.
「ふふっ、分かりますよ。僕がパートさんに純粋な子だねっと褒められる感じですよね。相手の裏側を知らなくとも良くて、自分に都合の良いところで情報を遮断している感じ。それをお互いが暗黙の内に了解し合っている不思議な感じですよね」
「Hì hì, tôi thấu hiểu chứ ạ. Nó giống hệt như cái cảm giác mà tôi hay được mấy cô, mấy chị làm chung chỗ làm thêm khen ngợi là 'Đứa trẻ này thuần khiết, ngoan ngoãn quá cơ' vậy đó. Cái kiểu mà dẫu cho đối phương hoàn toàn không cần bận tâm, biết đến cái mặt tối, mặt trái đằng sau con người mình ra sao, họ vẫn tự động thiết lập một cơ chế cắt đứt, che chắn thông tin ở ngay cái ngưỡng cửa nào mang lại sự thuận tiện, ích lợi cho bản thân họ nhất. Và rồi, cả hai bên đều ngầm thấu hiểu và chấp nhận cái luật chơi ngầm đầy kỳ lạ đó đúng không chị.」
「そう、それが言いたかったの!」
「Đúng vậy! Chính là cái điều đó, đó chính là cái điều mà chị muốn diễn tả đấy!」
僕が自分の心を守る為に他人を反射する鏡だとしたら、柚城さんは生き抜く為に他人の弱さを映し出すレンズなのだろう。お互いに眩いコンプレックスのような光源との付き合い方を考えなくてはいけなかったのだ。それを性格が悪いと自嘲するかどうかは、それこそ自己犠牲の度合いによるのだろう。
Nếu như bản thân tôi là một tấm gương luôn phản chiếu lại người khác chỉ để bảo bọc, che chở cho tâm can của chính mình, thì Yuzuki-san lại chính là một thấu kính luôn phóng đại, soi rọi vào tử huyệt, điểm yếu của đối phương để tìm kiếm đường sinh lộ cho bản thân. Suy cho cùng, cả hai đứa chúng tôi đều phải tự mình đi tìm kiếm một phương thức để chung sống, đối diện với cái thứ nguồn sáng chói lòa mang tên "mặc cảm, tự ti" (complex) của chính mình mà thôi. Còn cái việc tự lôi bản thân ra chế giễu, cười cợt rằng mình là kẻ có tính cách tồi tệ, thối nát hay không, thiết nghĩ điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào cái liều lượng, mức độ tự hy sinh của mỗi người mà thôi.
熱を帯びた吐息が耳朶をくすぐった。
Một làn hơi thở mang theo hơi nóng ấm áp khẽ phả vào, mơn trớn lấy thùy tai tôi đầy nhột nhạt.
「色んな人に優しくして、たくさんの悩みを打ち明けられて、それでも私の穴は埋まらなかったよ。姉と比較されている時より気分は良かったけどね。私がしたことは自分に欠けている部分を広げているだけだったの。それは大人になっても変わらなかった。君と出会うまではね」
「Chị đã đối xử dịu dàng với biết bao nhiêu người, đã lắng nghe không biết bao nhiêu lời tâm sự, trút bỏ những nỗi niềm sầu muộn của họ…… thế nhưng, cái khoảng trống, cái lỗ hổng sâu hoắm bên trong con người chị vẫn tịnh không cách nào lấp đầy được em ạ. Dẫu rằng cái cảm giác lúc đó có phần dễ chịu, hả hê hơn so với cái thời suốt ngày bị đem ra đặt lên bàn cân so sánh với chị gái thật đấy. Nhưng hóa ra, những việc mà chị đã làm bấy lâu nay chẳng qua chỉ là đang tự tay đi khoét cho cái phần khiếm khuyết, đứt gãy bên trong con người mình ngày một rộng hoác ra thêm mà thôi. Và cái guồng quay đó dẫu cho đến tận lúc chị trưởng thành, trở thành một người lớn đi chăng nữa thì vẫn hoàn toàn không có gì thay đổi cả…… Cho đến tận cái ngày mà chị được định mệnh sắp đặt để gặp gỡ được em.」
ちょっと腕が痺れてきた、と柚城さんが呟く。僕は両腕をほどいて、お互いの距離を少しだけ離した。ソファに体重を深く沈めると、ぐっと視野が広がったような気分になる。
Cánh tay của chị bỗng dưng có chút tê rần rồi nè" - Yuzuki-san khẽ lẩm bẩm một câu nhỏ. Tôi liền nới lỏng vòng tay ôm, chủ động giãn ra một khoảng cách ngắn giữa hai đứa. Khi dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể để dựa sâu vào thành ghế sofa, tôi bỗng chốc có một cảm giác như thể tầm nhìn, nhãn giới của mình vừa được mở rộng ra một cách đáng kể.
「ねぇ、柚城さん」
「Này, chị Yuzuki ơi.」
「なぁに?」
「Gì thế em?」
そっと呼ぶ。聡明で、潔癖で、どこか考えすぎてしまうのであろう恋人の名前を。僕も思考の渦に呑まれる孤独感には覚えがあるから。一緒に考えすぎたいと、一緒に苦しみたいと、そう心の底から思った。
Tôi khẽ cất tiếng gọi thầm. Tên của người con gái tôi yêu――một con người vô cùng thông tuệ, khiết tịnh, nhưng có lẽ cũng chính vì thế mà luôn là kẻ luôn suy nghĩ quá nhiều. Bản thân tôi vốn dĩ cũng đã quá quen thuộc với cái cảm giác cô độc khi bị nhấn chìm vào trong những vòng xoáy tư duy bè bạn, nên tôi hiểu rõ hơn ai hết. Chính vì vậy, tận sâu thẳm nơi đáy tim mình, tôi khát khao muốn được cùng chị suy nghĩ quá nhiều, muốn được cùng chị gánh vác, nếm trải những nỗi đau khổ của cuộc đời.
「あなたは……」
「Chị này……」
他人の弱点を探り、その心を開かせて依存させる。それでも面倒事を引き受けるのは重いから、やがて"広く、浅く、優しく、他人を助ける"という、最もあざとく、最も完璧な生存戦略に辿り着いたのだろう。第一印象を綺麗に整え、愛嬌という仮面を被ることで、いつしか誰も彼女の心の奥底を覗こうとはしなくなった。ただ、彼女が差し出す都合の良い救いだけを貪り、誰も彼女の素顔を見ようとはしなかった。それを彼女も望んでいなかった。お互いに暗黙の了解で情報を遮断し合っていたのだろう。
Cái việc đi dò xét điểm yếu của người khác, rồi khiến họ mở lòng để bám víu, dựa dẫm vào mình. Nhưng rồi vì cảm thấy việc phải đứng ra bao bọc, chịu trách nhiệm cho phần đời tiếp theo của họ là quá nặng nề, nên cuối cùng chị đã lựa chọn đặt chân lên một sách lược sinh tồn hoàn hảo và đáng yêu nhất: "Giúp đỡ người khác một cách rộng khắp, hời hợt, và dịu dàng". Bằng việc tô vẽ cho ấn tượng đầu tiên thật lung linh, rồi đeo lên chiếc mặt nạ mang tên "ái kiều, duyên dáng", tự bao giờ đã chẳng còn một ai thèm ngó ngàng hay cố công nhòm ngó vào sâu thẳm nơi đáy tim của chị nữa. Họ chỉ đơn thuần tham lam tận hưởng, vơ vét cái sự cứu rỗi đầy thuận tiện mà chị ban phát, tuyệt nhiên không một ai chịu nhìn ngắm khuôn mặt mộc, bản ngã thực sự đằng sau của chị. Mà chính bản thân chị cũng chẳng hề khát khao điều đó. Cả hai bên đều ngầm thấu hiểu và chấp nhận cái luật chơi ngầm cắt đứt thông tin của nhau bấy lâu nay.
「どんな答えでもいいので、正直に答えてください。僕にも同じ理由で優しくしていたんですか?」
「Dẫu câu trả lời có ra sao đi chăng nữa thì chị cứ thành thật nói cho tôi biết nhé ạ. Liệu rằng đối với tôi…… chị cũng từng áp dụng một lý do, một cơ chế đối xử dịu dàng giống hệt như với bao người khác ngoài kia đúng không chị?」
「……ごめんね。君は恋人として、どう思っているのか。それを先に教えてほしい」
「……Cho chị xin lỗi nhé. Nhưng trước hết, chị muốn em đứng ở vị thế của một người bạn trai để nói cho chị biết, em đang suy nghĩ như thế nào về chuyện này được không?」
これまでの思い出を振り返ってみる。
Tôi bắt đầu chầm chậm lật giở, hồi tưởng lại toàn bộ những thước phim ký ức, kỷ niệm của hai đứa bấy lâu nay.
まだ仲良くない頃に連絡先を交換して、一人暮らしを始めたばかりだった僕の依り場所になろうとしてくれた。その気遣いは綺麗事で終わることなく、食中毒という窮地に陥った僕を献身的に看病してくれた。
Vào cái thuở hai đứa còn chưa thực sự thân thiết, chị đã chủ động đề nghị trao đổi phương thức liên lạc, rồi lại tình nguyện biến bản thân mình thành một điểm tựa, một nơi chốn dung thân cho một đứa vừa mới chân ướt chân ráo bắt đầu cuộc sống tự lập là tôi. Cái sự quan tâm, chăm chút ấy tuyệt nhiên không phải là những lời nói đãi bôi, đạo đức giả ngụy tạo, bởi lẽ chị đã dốc hết lòng, thân chăm sóc cho tôi suốt những chuỗi ngày tôi rơi vào cảnh khốn cùng vì ngộ độc thực phẩm.
恋人になってからも、彼女の優しさが絶やされることはなかった。同棲で距離が近くなるからこそ、遠慮や配慮も無くなりがちという世間の声もあるが、そのような無神経さを彼女の振る舞いに感じたことはなかった。
Kể từ sau khi chính thức trở thành người yêu của nhau, cái sự dịu dàng, bao dung của người con gái ấy chưa một lần nào bị vơi cạn hay dập tắt. Người đời thường hay rỉ tai nhau rằng, một khi đã dọn về sống chung, khoảng cách địa lý trở nên quá cận kề thì con người ta sẽ dễ dàng đánh mất đi cái sự khách sáo, sự tôn trọng và nể nang lẫn nhau, thế nhưng tôi chưa từng một lần nào cảm thấy cái nét hành xử vô thần kinh, thiếu tế nhị đó xuất hiện trong từng cử chỉ, hành vi của chị cả.
今朝だって、すっぴんの素顔を隠すようにマスクと帽子を深く被って、早朝の肌寒い雪道をコンビニまで歩いて、そこまでして買ってきてくれたクリームパンの甘さを覚えている。僕がココアを淹れる準備をしていたのは、彼女が逆の立場ならそうするであろうと確信していたからだ。普段から彼女に出迎えられる時には、そのような温かい労いが備えられていたから。その日常の優しさを反射しただけだ。
Ngay cả như buổi sáng ngày hôm nay cũng vậy, chị đã khéo léo che giấu đi gương mặt mộc của mình dưới chiếc khẩu trang và chiếc mũ lưỡi trai kéo thấp, lội bộ suốt một quãng đường dài trên con đường ngập tuyết lạnh giá của sáng sớm tinh mơ chỉ để ra konbini mua đồ ăn sáng. Đến tận lúc này, đầu lưỡi tôi dường như vẫn còn vương vấn cái vị ngọt ngào của chiếc bánh mì nhân kem mà chị đã cất công mang về. Cái việc tôi chuẩn bị sẵn mọi thứ để pha một ly ca cao nóng hổi từ trước, chính là vì tôi có một niềm tin sắt đá, một sự khẳng định chắc chắn rằng: Nếu đặt vào vị thế ngược lại, Yuzuki-san cũng sẽ lựa chọn hành động y hệt như vậy mà thôi. Bởi lẽ, trong suốt cuộc sống thường nhật, mỗi khi đứng ra đón chào tôi trở về nhà, chị luôn trang bị sẵn một sự đón tiếp, vỗ về đầy ấm áp như thế. Tôi dẫu sao cũng chỉ đang phản chiếu lại cái sự dịu dàng thường nhật ấy của chị mà thôi.
「うーん……他の人とは違う理由だったら嬉しいです」
「Ừm…… Nếu như đó là một lý do hoàn toàn khác biệt, thì tôi sẽ cảm thấy hạnh phúc lắm ạ.」
こんな状況でも、僕は照れてしまった。総じて、広く、浅く、その有象無象に、自分が含まれているというには無理があると感じたからだ。
Tôi mỉm cười một cách ngượng ngùng. Suy cho cùng, nếu bảo rằng bản thân tôi cũng chỉ nằm trong cái đống danh sách "rộng khắp và hời hợt", nằm chung một giuộc với cái lũ có cũng được không có cũng chẳng sao ngoài kia, thì quả thực là một điều vô lý, không tài nào chấp nhận nổi.
柚城さんは深く息を吸った。そして彼女の感情を抑え込んでいたダムが決壊したかのように、ずっと溜め込んできたであろう言葉が溢れ出した。
Yuzuki-san khẽ hít một hơi thật sâu. Và rồi, cứ như một con đập bị vỡ bờ, chị ấy bắt đầu tuôn ra một tràng dài những lời nói với tốc độ vô cùng vội vã, dồn dập.
「本当の私は可愛くないよ。私の可愛いは作り物だから。そして、それを維持するのは呪いなんだよ。これまでの君を責めている訳じゃないけど、ズボラな男の子は可愛いという印象に繋がる可能性を秘めている。現に私は君に母性を感じたからね。でも女の子は無頓着ではいられないの。一生続いていく呪いを背負っているんだよ。それでも、その呪いを武器にしている自覚もあるの」
「Bản ngã thực sự của chị không có một chút gì đáng yêu đâu em ạ. Cái sự đáng yêu của chị hoàn toàn là một thứ đồ giả tạo, được nhào nặn ra mà thôi. Và việc phải gồng mình để duy trì, bảo dưỡng cái nét đáng yêu giả tạo ấy, đối với chị, nó chính là một lời nguyền tai ương đấy. Chị nói ra điều này không phải là để oán trách hay đổ lỗi cho những gì em đã làm từ trước đến nay đâu, thế nhưng, một cậu con trai có chút cẩu thả, xuề xòa như em lại luôn tiềm ẩn một khả năng cao có thể kết nối, chuyển hóa thành một ấn tượng vô cùng đáng yêu trong mắt người khác. Mà bằng chứng nhãn tiền là chính bản thân chị đã cảm nhận được cái bản năng làm mẹ trỗi dậy đối với em còn gì. Thế nhưng, con gái tụi chị thì lại tuyệt đối không bao giờ được phép vô tâm, vô lo vô nghĩ như thế được đâu em. Tụi chị phải gánh vác trên vai một lời nguyền kéo dài suốt cả một cuộc đời dằng dặc đấy. Dẫu cho là như vậy, chị vẫn luôn có một sự tự ý thức rõ ràng rằng bản thân đang biến chính cái lời nguyền tai hại đó thành một thứ vũ khí sắc bén cho riêng mình.」
「そうですね。きっと、その通りなんだと思います」
「Dạ vâng. Tôi nghĩ…… mọi chuyện chắc chắn đúng là hoàn toàn như những gì chị vừa nói đấy ạ.」
「自分に合う化粧をYouTubeで覚えた。初任給で印象の良さそうなブランドの服を買った。やっと大人になって、これからは上手に生きていけると思ったのに。何にも息苦しさは変わらなかった。周りに優しくしすぎることが許されるのも高校生までだった。大人になったら、自分の優しさに責任を取らなくちゃいけなくなってた。空っぽな自分を思い知らされるばかりだった。ごめん、上手く伝わってるかな。私、自分の気持ちを言葉にするの苦手かも」
「Chị đã phải tự mình lên YouTube để học cách trang điểm, dặm phấn sao cho phù hợp với khuôn mặt mình nhất. Rồi lại dùng chính những đồng lương đầu tiên tự mình làm ra để sắm sửa những bộ cánh thuộc các thương hiệu trông có vẻ sẽ mang lại một ấn tượng tốt lành trong mắt người đời. Chị đã tự nhủ rằng cuối cùng thì mình cũng đã trưởng thành, đã trở thành một người lớn thực thụ rồi, từ nay về sau mình sẽ có thể sinh tồn một cách vô cùng khôn khéo, suôn sẻ…… Vậy mà, cái cảm giác ngột ngạt, bức bối đến nghẹt thở bấy lâu nay vẫn tịnh không có một chút gì thay đổi cả. Cái việc được phép đối xử tốt, dịu dàng một cách thái quá với thế giới xung quanh dẫu sao cũng chỉ là đặc quyền được dung thứ cho đến những năm tháng học cấp ba mà thôi. Một khi đã bước chân vào thế giới của người trưởng thành rồi, con người ta sẽ bắt buộc phải tự mình đứng ra gánh vác trách nhiệm cho chính cái sự dịu dàng của bản thân. Những gì chị nhận lại được, chẳng qua chỉ là những cái tát tàn nhẫn khiến chị càng thêm thấu hiểu mồn một về một bản ngã hoàn toàn trống rỗng, rỗng tuếch bên trong con người mình mà thôi. Hầy…… không biết là chị có đang diễn đạt gãy gọn để em thấu hiểu được tiếng lòng của mình hay không nữa. Chị…… hình như bẩm sinh đã vô cùng vụng về trong khoản dùng từ ngữ để cụ thể hóa dòng cảm xúc của mình rồi thì phải.」
一気に感情を放出しすぎて、柚城さんが涙ぐんでいる。僕は穏やかな表情を浮かべて、彼女の濡れた瞳を覗き込んだ。
Tôi đưa mắt nhìn sâu vào đôi đồng tử đang hoen lệ, ngập tràn nước mắt của người con gái ấy bằng một tâm thế vô cùng bình lặng, ôn hòa.
「ふふっ、読解力には自信がありますよ」
「Hì hì, về khoản năng lực đọc hiểu thì tôi tự tin là mình có thừa đấy nhé ạ.」
「もうっ、そういうところだよ!」
「Ghét ghê cơ, chính là cái kiểu nói chuyện đáng ghét này của em đấy!」
柚城さんは顔を俯かせて、とんっと僕の胸元を叩いた。
Yuzuki-san khẽ cúi gằm mặt xuống che giấu đi sự thẹn thùng, rồi "bộp" một cái, chị khẽ đánh nhẹ vào lồng ngực tôi một cái rõ đau.
「私はね……君みたいにドライでフラットで、それでいて優しさを持ち合わせている人になりたかったんだよ」
「Bản thân chị ý mà…… Chị đã luôn khao khát muốn mình trở thành một con người giống hệt như em vậy đó. Một con người vừa có sự lạnh lùng, dứt khoát (dry) lại vừa có sự bình ổn, phẳng lặng (flat), nhưng đồng thời bên trong vẫn luôn chất chứa, trang bị sẵn một sự dịu dàng bao dung.」
ちゅっと啄むように唇を重ねられて、すぐに離される。
"Chụt" một cái, bờ môi chị khẽ chạm nhẹ vào môi tôi như một cái mổ của chú chim non đầy vội vã, rồi lại nhanh chóng rời đi ngay lập tức.
「目に見えないものの価値って、どうやって決まるんだろうね。きっと私があげられる本物は、こういう触れ合いが精一杯なんだ。それを優しさと呼んでくれる君が大好きだよ。私一人なら疑ってしまうことを、一番近くで優しく認めてくれるところ。そこが大好きなんだと思う」
「Cái thứ giá trị của những điều vô hình, không thể nhìn thấy bằng mắt thường ý, không biết là người đời dựa vào đâu để định đoạt, quyết định em nhỉ. Nhưng chị nghĩ, cái thứ "hàng thật" duy nhất mà một đứa như chị có thể trao đi, có lẽ cũng chỉ vỏn vẹn, đạt đến giới hạn là những cái chạm, những sự tiếp xúc da thịt ngập tràn tình cảm như thế này mà thôi. Chị thực sự yêu em vô cùng, yêu một người luôn sẵn lòng gọi những hành vi này của chị bằng cái tên "sự dịu dàng". Chị yêu cái cách mà em luôn ở ngay bên cạnh, ở khoảng cách cận kề nhất để dùng sự dịu dàng công nhận, chấp thuận cho những điều mà nếu như chỉ có một mình, tự bản thân chị sẽ luôn đâm ra hoài nghi, phủ nhận sạch trơn tất cả. Chị nghĩ, đó chính là cái lý do lớn nhất khiến chị đắm chìm, yêu thương em hết mực đến thế.」
また視線が合う。お互いに目を逸らさなかった。
Hai cặp mắt lại một lần nữa giao nhau. Thế nhưng lần này, tuyệt nhiên không một ai chủ động dời tầm mắt đi chỗ khác nữa cả.
「私のこと、社内恋愛がバレるリスクを考えないくらい、頭の悪い女だと思う?」
「Em nghĩ xem chị là một đứa con gái đầu óc ngu muội, kém cỏi đến mức không thèm mảy may bận tâm đến cái rủi ro, nguy cơ khi để xảy ra chuyện yêu đương chốn công sở sao?」
「まさか、そんなこと思いませんよ。あなたの賢さはよく知っています」
「Tuyệt đối không có chuyện đó đâu ạ, tôi không bao giờ nghĩ như thế đâu. Chị thực sự là một người vô cùng thông minh mà.」
「それでも手に入れたかったの。だから特別なんだよ。君は他の人とは違う。今は上手く言えないけど……」
「Thế nhưng mà, dẫu có phải đối mặt với rủi ro lớn đến thế đi chăng nữa, thâm tâm chị vẫn khao khát muốn có được em bằng mọi giá. Chính vì vậy, em mới là một sự tồn tại vô cùng đặc biệt (đặc biệt), độc nhất vô nhị đối với chị đấy. Em hoàn toàn khác biệt so với tất cả những người ngoài kia. Lúc này đây dẫu chị không biết phải dùng từ ngữ nào cho thật gãy gọn để diễn tả……」
ぎゅっと頬を掴まれた。爪痕が残りそうな強さで。
"Bộp" một cái, hai bên gò má của tôi bỗng chốc bị hai bàn tay chị chộp lấy, siết chặt. Một lực bóp mạnh mẽ, dứt khoát đến mức tưởng chừng như sắp sửa găm cả những vết móng tay vào da thịt tôi.
「そばにいて、ずっと近くにいて、どれだけの距離が狭まっても、君はかわいい人でいて。私が維持している可愛さとは、また別のかわいさが存在すると証明し続けて。それだけで明日も生きようって思えるから。その代わり、私が持っている全てをあげるから。お願い……」
「Hãy ở bên cạnh chị, mãi mãi ở ngay sát bên cạnh chị nhé…… Dẫu cho cái khoảng cách giữa hai đứa mình có bị thu hẹp, kéo sát lại bao nhiêu đi chăng nữa, em hãy cứ luôn giữ nguyên cái nét đáng yêu (kawaii) đó của mình đi nhé. Hãy tiếp tục chứng minh cho chị thấy rằng, ở trên đời này vẫn tồn tại một dạng thức đáng yêu hoàn toàn khác biệt so với cái sự đáng yêu mà chị đang phải gồng mình gượng ép để duy trì đi em. Chỉ cần có được cái sự chứng thực đó thôi, là chị đã có đủ dũng khí để tiếp tục sinh tồn vào ngày mai rồi. Để đổi lại điều đó, chị xin nguyện dâng hiến toàn bộ những gì chị đang sở hữu cho em. Chị xin em đấy……」
告白された時の言葉選びでも薄々と感じていたが、一人で死ぬのは怖いとか、可愛いを維持するのは呪いとか、どこかゾクっとする言葉選びをする人だった。しんと静かに染み渡る雪のような冷たい言葉に、彼女の内心で昂った感情が乗せられているようだった。それでも、その横顔は歳上のお姉さんとしての貫禄を帯びていた。どんな時も、人前では決してヒステリックにならない人だった。自分がどう見られているかを理解していて、その魅力を損なわぬように凛と立っている人だった。そして作り物の自覚があるところに同族意識を感じてしまった。
Thật ra, dẫu là thông qua những lời lẽ, câu chữ lúc chị mở lời tỏ tình với tôi thuở trước tôi cũng đã phần nào lờ mờ cảm nhận được rồi, thế nhưng…… những câu từ kiểu như 'một mình cô độc chết đi thì đáng sợ lắm', hay 'việc duy trì nét đáng yêu chính là một lời nguyền'…… chị ấy đúng là một con người luôn có một cách thức lựa chọn từ ngữ khiến cho người nghe phải rùng mình, nổi cả da gà. Ẩn đằng sau những câu từ lạnh lẽo, buốt giá tựa như những bông tuyết đang lặng lẽ rơi xuống, nhuộm trắng không gian ngoài kia, dường như đang chất chứa, chở nặng toàn bộ những dòng cảm xúc đang cuộn trào, dâng cao tột độ nơi thâm tâm của người con gái ấy. Thế nhưng dẫu có là như vậy đi chăng nữa, cái góc nghiêng khuôn mặt của chị lúc này vẫn toát lên một phong thái trang nghiêm, một sự chín chắn, định đạc đầy bản lĩnh của một bà chị lớn tuổi hơn. Dẫu ở trong bất cứ hoàn cảnh nào đi chăng nữa, chị chưa một lần nào để lộ ra dáng vẻ kích động, mất kiểm soát trước mặt người khác cả. Chị là một con người luôn thấu hiểu rõ ràng bản thân đang được nhìn nhận dưới lăng kính như thế nào, và luôn đứng thẳng một cách kiêu hãnh, hiên ngang để không làm tổn hại đến cái nét quyến rũ, mê hoặc vốn có của mình. Và rồi, chính cái việc chị luôn có một sự tự nhận thức rõ ràng rằng cái nét đáng yêu của mình hoàn toàn là một thứ đồ giả tạo, được nhào nặn ra tác vật…… đã vô tình khiến cho thâm tâm tôi nảy sinh một thứ cảm xúc vô cùng mãnh liệt: Đó chính là ý thức về sự đồng điệu của những kẻ cùng một giuộc, cùng một giống loài với nhau.
「ココア、もう一杯淹れましょうか」
「Để tôi pha thêm một ly ca cao nữa nhé ạ.」
「うん、映画も観たい。今日はゆっくり家で過ごそうよ」
「Ừm, chị cũng muốn xem tiếp bộ phim nữa. Hôm nay hai đứa mình cứ thong thả ở nhà lười biếng cùng nhau đi thôi.」
「いいですね」
「Dạ vâng, thế thì tuyệt quá ạ.」
二杯分の湯気と甘い香りがリビングに漂った。
Làn khói nghi ngút bốc lên từ hai chiếc ly cùng hương thơm ngọt ngào cứ thế lan tỏa, ngập tràn khắp không gian phòng khách.




