柚城さんという恋人
お互いに想いを伝えた直後、次に取るべき行動に迷う瞬間。お互いの顔を見合わせた直後、心地良い沈黙に浸りかけた瞬間、頬を赤くした柚城さんが口火を切った。
Ngay sau khoảnh khắc hai đứa bày tỏ tâm tư cho nhau, chính là lúc người ta dễ rơi vào sự lúng túng vì không biết bước tiếp theo nên hành động thế nào. Ngay vào cái giây phút hai đứa đưa mắt nhìn nhau, chuẩn bị chìm đắm vào một khoảng lặng đầy dễ chịu, thì Yuzuki-san với đôi gò má đã ửng hồng từ bao giờ bèn chủ động khơi mào câu chuyện.
「じゃあ、早速ウチにおいでよ。今日は泊まっていって」
「Thế thì, ngay và luôn, sang nhà chị đi. Hôm nay ở lại đây qua đêm với chị nhé.」
「えっ、あの、着替えがないですよ」
「Ơ, nhưng mà…… tôi đã kịp chuẩn bị quần áo thay đâu ạ.」
「それなら今からユニクロで買いに行こう。私のわがままなので、私がお金を出します」
「Chuyện đó thì giờ mình ghé qua Uniqlo mua là xong xuôi hết ý mà. Tại chị ích kỷ muốn thế nên chị sẽ bao tiền vụ này nha.」
「ええっ!?」
「Êeeeー!?」
柚城さんの告白に応えた帰り道。この夜から同棲生活が始まった。歳上ならではの思い切りの良さに翻弄されていく感覚だった。連絡先を交換したやり取りといい、僕は強引に押し切られるのに弱い。聡明な彼女もそれを見抜いているようだった。結局、僕のシフトがある時はバイト終わりに柚城さんのマンションに泊まり込むのが日課となった。この頃は週五日の出勤だったので、一週間に五日は同じ部屋で暮らしていた。
Đó là con đường trở về nhà sau khi tôi gật đầu đồng ý lời tỏ tình của Yuzuki-san. Kể từ đêm hôm ấy, cuộc sống góp gạo thổi cơm chung (sống thử) của hai đứa chính thức bắt đầu. Cảm giác lúc đó giống như tôi đang bị xoay như chong chóng trước cái sự quyết đoán, táo bạo đúng chất của một người đàn chị lớn tuổi vậy. Cả cái vụ trao đổi phương thức liên lạc hồi trước nữa, tôi vốn dĩ là đứa cực kỳ yếu thế, dễ bị khuất phục trước những màn tấn công dồn dập, cưỡng ép. Người con gái thông minh sắc sảo như chị ấy xem ra cũng đã sớm thấu cáy, nhìn thấu cái điểm yếu này của tôi rồi. Kết cục là, vào những ngày tôi có lịch trình đi làm thêm, việc đến ngủ lại căn hộ chung cư của Yuzuki-san sau khi tan ca đã trở thành một thói quen thường nhật. Thời điểm đó tôi đi làm 5 ngày một tuần, đồng nghĩa với việc có tới 5 ngày trong tuần hai đứa sinh hoạt dưới cùng một mái nhà.
「さて、質問です。私との同棲は慣れましたか?」
「Nào, câu hỏi kiểm tra bài cũ đây. Em đã quen với việc sống chung với chị chưa nè?」
「いや、慣れませんよ。でも毎日が楽しいです」
「Dạ chưa, tôi vẫn chưa quen nổi đâu ạ. Nhưng mà ngày nào tôi cũng thấy vui hết á.」
「ふふっ、その答えは百点満点だよ」
「Hì hì, câu trả lời này đạt điểm mười tuyệt đối luôn nha.」
同棲はジグソーパズルに似ていると思う。お互いの距離が縮まったことで、ゆっくりと見えてくるピースが徐々に嵌まっていく感覚があるからだ。一つ一つを嵌め込んでいく愛しさの溢れる営み、それに時間を忘れて夢中になった。
Tôi nghĩ việc sống thử nó có nét gì đó rất giống với trò chơi xếp hình Jigsaw (tranh ghép mảnh). Bởi lẽ khi khoảng cách giữa hai bên được kéo lại gần hơn, ta sẽ có cảm giác những mảnh puzzle vốn ẩn giấu bấy lâu nay sẽ dần lộ diện và từ từ khớp lại hoàn chỉnh vào nhau. Cái hành trình tỉ mẩn ghép từng mảnh, từng mảnh một ấy khiến tôi mê mẩn, say sưa đến mức quên cả thời gian trôi.
たくさんの思い出は積み重なる雪のようだった。そこには見渡す限りの銀世界が広がっていた。側から見ると、真っ白なジグソーパズルなのだろう。しかし、その凹凸を理解し、一枚ずつピースを嵌め込んでいけるのは、世界中で僕と彼女の二人だけ。そんな優越感と独占欲が心に同棲していた。
Những mớ ký ức ngồn ngộn tích tụ lại giống như những lớp tuyết dày tầng tầng lớp lớp. Nơi đó mở ra một thế giới bạc trắng bao la bát ngát đến tận đường chân trời. Nếu đứng ở góc độ người ngoài nhìn vào, có lẽ nó chỉ là một bức tranh xếp hình trắng xóa đơn điệu mà thôi. Nhưng đối với hai đứa chúng tôi, cái cảm giác ưu việt cùng sự độc chiếm độc quyền rằng chỉ có đôi ta mới có quyền năng ghép những mảnh khuyết ấy lại với nhau luôn đồng hành, cộng hưởng.
「そういえば包丁の使い方が上手になったよね?」
「Mà này, dạo này chị thấy em dùng dao thớt điêu luyện, khéo léo lên hẳn rồi đấy nhỉ?」
「まぁ、毎日頑張ってますからね」
「Thì ngày nào tôi chẳng phải nỗ lực cày cuốc cơ chứ.」
「私は本当に自炊が苦手だから、本当に助かってるよ。いつもありがとう」
「Chị thì mù tịt khoản nấu nướng rồi, nên có em lo liệu thế này thực sự là cứu cánh của đời chị luôn ý. Lúc nào cũng phải cảm ơn cậu em nhiều nha.」
同棲中、自炊当番は僕の役目だった。仕事で疲れて帰ってくる彼女に負担をかけたくなかった。一人暮らしでは偏ってしまう好き嫌いも、二人分の食事を作るときにはバランスよい食事を意識することができた。決して調理センスがある訳ではなかったと思うけど、自然と手際は良くなっていった。それを素直に褒めてくれる恋人の存在が、いつしか負担をかけたくないよりも、この人の為に美味しい料理を作りたいという気持ちに変わっていった。
Trong suốt quãng thời gian sống chung, nhiệm vụ đứng bếp tự nấu nướng (tự túc) hoàn toàn do một tay tôi gánh vác. Tôi không muốn đổ thêm gánh nặng lên đôi vai của người con gái vốn đã mệt rũ rượi vì công việc ngoài kia. Nếu như hồi còn sống lủi thủi một mình, chế độ ăn uống của tôi luôn bị lệch lạc, phiến diện theo sở thích cá nhân, thì khi chuẩn bị bữa cơm cho hai người, tôi đã biết lưu ý đến việc cân bằng hàm lượng dinh dưỡng sao cho chuẩn chỉ. Dẫu tự biết bản thân không phải là kẻ có năng khiếu hay thiên bẩm gì trong khâu nấu nướng, nhưng một cách tự nhiên, sự nhanh nhẹn và khéo tay của tôi cứ thế tiến bộ lên theo năm tháng. Sự hiện diện của người yêu luôn thản nhiên dành cho tôi những lời khen ngợi chân thành ấy, từ lúc nào không hay, đã khiến tâm tư tôi chuyển biến: từ chỗ ban đầu là "không muốn để chị ấy phải chịu gánh nặng" sang thành "mình muốn tự tay làm nên những món ăn thật ngon lành để dành tặng cho người con gái này".
「ねぇ、柚城さん。今日は少し疲れたよ。回転寿司とか行きたいな」
「Chị Yuzuki ơi. Hôm nay tôi hơi mệt chút xíu. Mình đi ăn sushi băng chuyền đi chị.」
「あら、珍しいね。いいよ、お姉さんの奢りね」
「Á chà, hiếm khi thấy em chủ động đòi đi nha. Duyệt luôn, hôm nay bà chị này bao hết nhé.」
「やった、ありがとう!」
「Oa tuyệt quá, em cảm ơn chị yêu!」
お互いに外食よりも自宅で食べるご飯が好きなタイプだった。それでも一度だけ、長岡のとば寿司で夕食をしたことがある。何となく自炊当番を放棄したい気分になって、近くの回転寿司に行くことを提案した。そんな僕の希望を柚城さんは二つ返事で優しく了承してくれた。
Cả hai chúng tôi đều thuộc tuýp người thích thưởng thức những bữa cơm gia đình ấm cúng ở nhà hơn là việc đi ăn tiệm, ăn ngoài. Thế nhưng có một lần duy nhất, chúng tôi đã cùng nhau ăn tối tại quán Toba Sushi ở Nagaoka. Hôm đó vì lý do gì đấy mà tôi bỗng dưng muốn bùng nghĩa vụ làm cảnh đứng bếp, nên đã đề xuất việc ghé qua quán sushi băng chuyền ở ngay gần đó. Trước nguyện vọng đó của tôi, Yuzuki-san đã gật đầu tán thành ngay tắp lự mà không hề đắn đo.
「えっ、柚城さん。生魚が苦手だったんですか!?」
「Ơ kìa, chị Yuzuki. Hóa ra chị không ăn được cá sống (sashimi) ạ!?」
「そんなに気にしないで。アボカドとかハンバーグは好きだから、こういう回転寿司なら平気だよ。本当に高級な刺身しか出ないお寿司屋さんなら逆に困ってたけどね」
「Em không cần phải bận tâm quá mức thế đâu mà. Mấy món như bơ (avocado) hay thịt băm Hamburg chị vẫn ăn ngon lành, nên mấy quán sushi băng chuyền kiểu này chị cân được hết. Chứ nếu mà vào mấy nhà hàng sushi cao cấp, nơi chỉ phục vụ độc loại sashimi đắt đỏ thì chị mới lo sốt vó thực sự đấy.」
「そっか、知らなかったですよ。言ってくれたら良かったのに」
「Thế mà tôi chẳng hề hay biết gì luôn ý. Giá mà chị bảo tôi ngay từ đầu thì tốt biết mấy.」
「ふふっ、ごめん。これからは先に言うからね。ほら、気にせずに食べて。美味しそうに食べる君の顔を見るのが好きだからさ」
「Hì hì, chị xin lỗi nha. Từ lần sau có gì chị sẽ khai báo trước nhé. Nào, không phải nghĩ ngợi nữa, em cứ thoải mái ăn đi ăn đi. Vì chị thích nhất là được ngắm nhìn cái bộ dạng ăn uống trông ngon lành cành đào của em đấy.」
そこで初めて、柚城さんが刺身などの生魚が苦手なことを教えてもらった。それは先に言ってほしかった。そうやって拗ねると、彼女は静かに柔らかく微笑んでいた。
Chính tại thời điểm đó, lần đầu tiên tôi mới được diện kiến và biết rằng Yuzuki-san hoàn toàn không nuốt nổi những món cá sống như sashimi. Cái chuyện đó đáng lẽ ra chị ấy nên nói sớm với tôi mới phải chứ. Thấy tôi bày ra vẻ mặt hờn dỗi, phụng phịu, chị ấy chỉ giữ một nụ cười dịu hiền, mềm mại và lặng im nhìn tôi.
「あっ、今日はアボカドの特売日だった。この後、スーパーに寄っていってもいい?」
「Á, hôm nay là ngày đại hạ giá của quả bơ này. Lát nữa tiện đường mình ghé qua siêu thị một chút được không em?」
「もちろんです!」
「Dĩ nhiên là được rồi ạ!」
「やった、たくさん買っちゃうからね。今度、アボカドのサラダを食べさせてあげる。それだけは自信がある手料理なんだ」
「Tuyệt cú mèo, hôm nay chị phải gom thật nhiều bơ mới được. Hôm nào chị sẽ trổ tài làm món salad bơ cho em thưởng thức nhé. Đó là món tủ duy nhất mà chị tự tin cự tuyệt mọi lời chê bai đấy.」
そして、アボカドが柚城さんの大好物だと知った。特売日にはアボカドを絶対に三個は購入していた。その後には必ず一回、彼女がキッチンに立つ瞬間があった。ぐるっと包丁で切り込みを入れてから、種と皮を処理するのがコツだと教えてくれた。アボカドと生ハムを和えた洋風でお洒落なサラダを食べさせてくれた。僕が森の宝石の味を気に入ったのは彼女による影響で間違いない。
Và rồi, tôi biết được rằng quả bơ chính là món khoái khẩu, là chân ái của cuộc đời Yuzuki-san. Cứ vào ngày sale hạ giá, chị ấy nhất định phải gom cho bằng được ít nhất là ba quả bơ mang về. Kế sau đó, kiểu gì cũng sẽ có một lần chị ấy tự thân vận động đứng vào không gian căn bếp. Chị ấy đã truyền thụ bí kíp cho tôi rằng: dùng dao khía một đường tròn xung quanh quả bơ, sau đó xử lý tách phần hạt và lột vỏ chính là cái mẹo cốt lõi. Chị ấy đã làm cho tôi ăn món salad kết hợp giữa bơ và thịt muối kiểu Tây (giăm bông sống) trông vô cùng sang chảnh và đẹp mắt. Việc một đứa như tôi bỗng chốc đâm ra mê mẩn cái hương vị của loại "ngọc bích giữa đại ngàn" (quả bơ) này, chắc chắn 100% là do chịu sự ảnh hưởng, tiêm nhiễm từ người con gái ấy rồi.
「熱っ!」
「Nóng quá!」
「なに、どうしたの!?」
「Cái gì, có chuyện gì thế em!?」
「いや、何でもないんで、来なくて大丈夫です!」
「Dạ không ạ, không có gì đâu, tôi không sao ạ!」
初めて浴室を借りた時のこと。僕は熱湯に打たれて悲鳴を上げた。浴室の中まで慌てて駆け付けようとする気配を制止する。シャワーを浴びるだけでも色々と勝手が違うのは当然だった。お湯の設定温度が火傷しそうなくらいに熱かったのを覚えている。だから浴室を使う順番は、自然と僕の方が先になっていった。最初は、家主より先にシャワーを浴びることに躊躇していた。同棲を始めて一ヶ月が過ぎた辺りで、だんだんと僕の遠慮もなくなっていった。
Đó là lần đầu tiên tôi mượn dùng phòng tắm nhà chị ấy. Tôi đã thét lên một tiếng kinh hãi khi bị luồng nước nóng dội thẳng vào người. Tôi vội vàng lên tiếng ngăn chặn cái tiếng động lật đật như định lao cả vào trong phòng tắm của chị ấy. Việc đi tắm thôi mà mỗi nhà một kiểu, có nhiều sự khác biệt bỡ ngỡ cũng là điều dễ hiểu. Tôi vẫn nhớ như in cái nhiệt độ cài đặt của nước lúc đó nóng đến mức suýt chút nữa là làm tôi bị bỏng nát người rồi. Chính vì thế, thứ tự sử dụng phòng tắm đương nhiên là luôn ưu tiên tôi vào trước. Ban đầu, tôi còn khá ngần ngại, rụt rè khi dám cả gan vào tắm trước chủ nhà. Nhưng khi cuộc sống chung trôi qua được khoảng một tháng, cái sự khép nép, giữ kẽ của tôi cũng dần biến mất từ lúc nào.
「柚城さん。お風呂上がりましたー。次どうぞ」
「Chị Yuzuki ơi. Tôi tắm xong rồi nhaー. Mời chị vào ạ.」
「こら、そんなに髪を濡らしたままだと湯冷めしちゃうでしょ。スマホを持つ前に、こっちに来なさい」
「Cậu em kia, cứ để tóc ướt sũng thế kia là bị nhiễm lạnh, cảm lạnh ngay bây giờ đấy. Trước khi cầm lấy cái điện thoại thì mau mau lại đây với chị nào.」
「はーい」
「Dạ vâng ạ.」
お風呂上がりの行動に無頓着だった僕に、ドライヤーや化粧水の必要性を教えてくれる人だった。ソファに座った彼女に手招きされて、肌の保湿の大切さを丁寧に教えてもらえる時間が好きだった。自分が大切にされていることを心の底まで塗り込められていった。スマホでダラダラと時間を潰すよりも、しなやかな指先で肌をなぞられる瞬間が好きだった。誰かに濡れ髪を乾かしてもらえる時間が、暖かい風を感じて眠くなる瞬間が好きだった。
Đối với một đứa luôn vô lo vô nghĩ, không mảy may bận tâm đến các bước hậu sinh hoạt sau khi tắm như tôi, chị ấy chính là người đã khai sáng, truyền dạy cho tôi về sự cần thiết của máy sấy tóc và nước hoa hồng. Được chị ấy vẫy tay ra hiệu khi đang ngồi trên ghế sofa, tôi cực kỳ tận hưởng cái khoảng thời gian được chị tỉ mẩn giảng giải cho nghe về tầm quan trọng của việc cấp ẩm, bảo vệ làn da. Cảm giác bản thân mình đang được nâng niu, chăm sóc một cách trân quý cứ thế thấm đẫm, lấp đầy vào tận sâu thẳm tâm can tôi. Thay vì nằm ườn ra dán mắt vào màn hình điện thoại để giết thời gian một cách vô bổ, tôi lại thích cái khoảnh khắc những đầu ngón tay thon thả, mềm mại của chị lướt nhẹ trên làn da mình hơn. Tôi mê mẩn cái khoảng thời gian được ai đó tự tay sấy khô mái tóc ướt, thích cái khoảnh khắc cơn gió ấm áp mơn man khiến mí mắt nặng trĩu rồi chìm vào giấc ngủ tự lúc nào.
「その服、かなりくたびれてるよね。買い替えないの?」
「Bộ quần áo đó trông tã tượi, sờn cũ lắm rồi đấy nhỉ. Em không tính mua đồ mới thay thế à?」
「このスウェットの素材が好きなんですよね。何だか新しいのを買うのも面倒になっちゃって」
「Tại tôi thích cái chất liệu vải của bộ đồ nỉ (sweatshirt) này lắm ý chị. Thành ra tự dưng tôi cũng lười, ngại đi mua đồ mới ghê.」
ふわふわと微睡んでいると、背後から息を吸い込む気配がした。ドライヤーの熱い風が、ふっと静かに遠のく。
Giữa lúc tôi còn đang chìm đắm vào cơn mơ màng, ngủ gật đầy êm ái, bồng bềnh, thì từ phía sau lưng bỗng truyền đến một tiếng hít thở nhẹ. Tiếng vù vù của chiếc máy sấy tóc cũng theo đó mà lịm dần vào thinh lặng.
「うーん。前から思っていたけど、君の部屋着ってご飯の臭いがするからね?」
「Ừm…… Chị đã nghĩ chuyện này từ trước rồi, nhưng mà đồ mặc ở nhà của em ý, nó cứ thoang thoảng mùi thức ăn, mùi cơm thế nào ý nhé?」
「えっ!?」
「Ê hế!?」
僕は自分のスウェットの袖を摘んだ。この日は自宅から着替えの服を大量に持ち込んできたばかりだった。このお風呂上がりの服装も普段の部屋着だった。僕が目を白黒させていると、柚城さんがドライヤーを脇に置いた。
Tôi vội vàng túm lấy phần ống tay áo nỉ của mình lên ngửi. Hôm đó tôi vừa mới khệ nệ khuân một đống quần áo thay từ nhà riêng sang đây xong. Bộ đồ mặc sau khi tắm này cũng chính là trang phục mặc ở nhà thường ngày của tôi. Trong lúc tôi còn đang mắt tròn mắt dẹt vì kinh ngạc, Yuzuki-san đã đặt chiếc máy sấy tóc sang một bên.
「やっぱり自覚ないんだね。めっちゃ匂うわけではないけど、近くに寄るとご飯の匂いがしてくる。一応聞くけど、改善する気はあるよね。家庭的な彼氏を目指したいから、意図的にご飯の匂いを染み付かせてる訳ではないよね?」
「Quả nhiên là tự bản thân em không hề có chút tự giác nào luôn nhỉ. Cũng không đến mức là bốc mùi nồng nặc đâu, nhưng cứ hễ lại gần em là lại thấy sực lên mùi cơm, mùi thức ăn chín ý. Chị hỏi thật một câu nhé, em có ý định cải thiện chuyện này không đấy? Hay là vì em đang hướng tới hình mẫu một cậu bạn trai đảm đang, mang đậm hơi thở gia đình nên cố tình để cái mùi cơm nó ám vào người vậy hả?」
「……違いますよ。そんなニヤニヤと笑って、ナイーブな男の子をいじめないでくださいよ……」
「……Đâu có phải thế đâu ạ. Chị đừng có vừa tủm tỉm cười gian xảo như thế vừa bắt nạt một cậu trai có tâm hồn nhạy cảm, mỏng manh như tôi chứ……」
お洒落の対極にいた僕を垢抜けさせたのは、どう考えても柚城さんの大きな功績だ。ろくな換気もせず、外行きの服を部屋干しにして、ワンルームの部屋で自炊を続けていたらどうなるか。本人も気付かぬうちにご飯の匂いが服の繊維の奥深くにまで染み付いていく。どうやら部屋着以外も買い直す必要があるようだった。
Dù có suy xét thế nào đi chăng nữa, việc có thể biến một đứa nằm ở vùng cực đối lập của hai chữ "thời thượng" như tôi trở nên sành điệu, lột xác hẳn ra, hoàn toàn là công lao, chiến tích vĩ đại của Yuzuki-san. Cứ thử nghĩ mà xem, ở trong một căn phòng trọ đơn lập (one-room) chật hẹp, suốt ngày tự túc nấu nướng cày cuốc mà lại không thèm mở cửa thông gió tử tế, lại còn có thói quen phơi quần áo mặc ra ngoài ở ngay trong phòng thì hậu quả sẽ ra sao. Bản thân người trong cuộc còn chẳng hề hay biết, nhưng cái mùi cơm, mùi thức ăn đã âm thầm len lỏi, bám chặt vào tận sâu từng kẽ sợi vải từ bao giờ.
「まさか、ずっと"ご飯の匂い系男子"だったなんて……」
「Không ngờ bấy lâu nay mình lại là kiểu "trai mang hương vị cơm chín" (cơm nắm hệ nam tử)……」
「そんなジャンルの需要はないから、ちゃんと改善しようね」
「Cái hệ đó không có ai thèm khát, không có nhu cầu thị trường đâu nha, nên là lo mà cải thiện triệt để đi nhé.」
「はい、改善します」
「Vâng, tôi sẽ cải thiện ạ.」
柚城さんは気を遣った言葉選びをしてくれたが、要は僕が一人暮らしで洗濯や服の管理を不十分にしていたというだけだ。"ご飯の匂いがする"という指摘は残酷なまでに正直で、それでいて愛のある誠実さだった。
Yuzuki-san đã vô cùng tinh tế, khéo léo trong cách lựa chọn câu từ để tránh làm tôi bị tổn thương, nhưng bản chất của vấn đề suy cho cùng chỉ là do tôi đã quá cẩu thả, không hoàn thành tốt việc giặt giũ và quản lý phục trang khi sống tự lập một mình mà thôi. Lời chỉ trích "bốc mùi cơm chín" đó tuy có phần tàn nhẫn, thẳng thắn đến trần trụi, nhưng lại chứa chan một sự thành thật đầy ắp tình yêu thương.
「ほら、明日のデートで新しい服を買いに行こう。私好みの男の子にコーディネートしてあげる。嬉しい?」
「Nào, buổi hẹn hò ngày mai hai đứa mình sẽ đi mua quần áo mới nhé. Chị sẽ đích thân phối đồ (coordinate), biến em thành gu của chị luôn. Thích không nào?」
「やったぁ、嬉しいです!」
「Oa oa, thích chứ ạ, em vui lắm luôn!」
一緒にいて、気持ちの良い人だった。ズバッと僕の問題への指摘はするが、その改善まで笑って付き添ってくれる恋人だった。生乾きの匂いや部屋干しの注意点。周囲の人に気を遣わせないコツ。剃り跡が残らないヒゲの剃り方や眉毛の整え方。肌荒れに薬を過剰に塗るのではなく、心に余裕を持たせる生活習慣への向き合い方。それは早起きして白湯を飲んだり、寝る前のカフェイン摂取を辞めるだけで、大学での気分も全く変わるのを実感した。
Ở bên cạnh người con gái ấy, tôi luôn có một cảm giác vô cùng dễ chịu, thoải mái. Chị ấy là một người yêu kiểu sẵn sàng vạch trần, chỉ thẳng tay vào khuyết điểm của tôi một cách dứt khoát, bộc trực, nhưng sau đó lại luôn mỉm cười đồng hành, giúp đỡ tôi sửa chữa, hoàn thiện nó. Những lưu ý về mùi ẩm mốc khi phơi đồ trong nhà, những mẹo nhỏ để không làm ảnh hưởng, gây phiền hà đến những người xung quanh. Cách cạo râu sao cho sạch sẽ không để lại chân râu lởm chởm, cách tỉa tót hàng lông mày sao cho gọn gàng. Hay cả việc đối diện với tình trạng da liễu bị mụn, thay vì cứ ra sức bôi trét các loại thuốc kem một cách quá đà, thì việc hướng tới một thói quen sinh hoạt lành mạnh để giữ cho tâm trí luôn thư thái, dư dả mới là cốt lõi. Tôi đã thực sự thấu hiểu và trải nghiệm được rằng, chỉ bằng những việc nhỏ nhặt như thức dậy sớm uống một ly nước ấm, hay việc bài trừ, chấm dứt nạp caffeine vào cơ thể trước khi đi ngủ, tâm trạng của tôi khi ở trường đại học đã có sự chuyển biến, lột xác hoàn toàn.
「ねぇ、柚城さん。ちょっと思うんだけどさ……やっぱり何でもない」
「Chị Yuzuki này. Tôi đang nghĩ cái này một chút…… Mà thôi, không có gì đâu ạ.」
「どうしたの。良かったら聞かせて?」
「Sao thế em? Nếu được thì cứ nói cho chị nghe với nào?」
「く、くすぐったい。分かった、話すから!」
「Nh-Nhột quá chị ơi. Tôi biết rồi, tôi sẽ nói mà, nên tha cho tôi đi!」
尻すぼみになった言葉の続きを促すかのように、柚城さんの両腕が巻き付いてくる。さわさわっと首筋を撫でられるだけで隠し事はできなくなってしまう。クールでミステリアスな彼氏にはなれなくて、ただ自然とぎこちない性格の人間で、大好きな相手には素直になってしまうだけ、それが僕という存在の全てだった。
Như để thúc giục cái câu nói đang bị bỏ lửng, teo tóp lại giữa chừng của tôi, hai cánh tay của Yuzuki-san đã thản nhiên quấn chặt lấy từ phía sau. Chỉ cần một cái lướt chạm, mơn man khe khẽ vào vùng cổ thôi là mọi bí mật của tôi đều chẳng thể nào che giấu nổi nữa rồi. Tôi chẳng thể nào trở thành một cậu bạn trai kiểu cool ngầu, thần bí được, bản chất của tôi chỉ đơn thuần là một đứa có tính cách có phần hơi vụng về, gượng gạo, và cứ hễ ở trước mặt người mình yêu thương hết mực là lại tự động trở nên ngoan ngoãn, thành thật mà thôi. Đó chính là toàn bộ bản ngã con người tôi.
「あの、ですね。その、笑わないでね」
「Chuyện là, như thế này ạ. Thế nên là…… chị đừng có cười tôi nhé.」
「うん、笑わないよ」
「Ừm, chị hứa.」
それでも、言葉にするのは恥ずかしい。先日、服の匂いについて指摘されたばかりなので。思考の比重が垢抜ける手段に偏っていた。我ながら単純だと思うし、次のステップに興味を出していることが気恥ずかしかった。
それでも、あなたに相応しい存在になりたかった。
Dẫu đã có lời hứa, việc thốt ra thành lời đối với tôi vẫn là một thử thách đầy ngượng ngùng. Bởi lẽ cách đây không lâu, tôi vừa mới bị chị ấy chỉ trích về cái mùi quần áo xong. Sức nặng trong suy nghĩ của tôi lúc này đang bị thiên vị, lệch hẳn về phía các phương thức để làm sao cho bản thân trở nên sành điệu, lột xác hơn. Tự bản thân tôi cũng thấy mình thật là đơn giản, nông cạn, và việc tôi đang tỏ ra hứng thú với những bước tiến tiếp theo khiến lòng tôi cứ dâng lên một nỗi thẹn thùng khó tả.
Thế nhưng, tôi vẫn muốn bản thân mình trở thành một sự tồn tại xứng đáng với chị.
「僕、もっとお洒落になりたい。だから、香水とかもつけた方がいいのかな。柚城さんはどんなブランドの香水を使っているの?」
「Tôi…… tôi muốn mình trở nên sành điệu, thời thượng hơn nữa. Thế nên là, liệu tôi có nên xịt thêm cả nước hoa nữa không chị nhỉ? Mà chị Yuzuki đang dùng nước hoa của thương hiệu nào thế ạ?」
「うーん、そんなに焦りすぎなくてもいいと思うけど。香水は気軽に買える値段でもないし。それに私と同じ香りがするようになったら、皆に職場恋愛がバレちゃうかもよ」
「Ừm…… Chị nghĩ là em không cần phải quá vội vàng thế đâu. Nước hoa cũng đâu phải là thứ có mức giá có thể dễ dàng nhắm mắt mua đại được đâu nè. Với cả, nếu như trên người em cũng vương lại mùi hương y hệt như của chị, nhỡ đâu mọi người ở chỗ làm lại phát hiện ra chuyện hai đứa mình yêu nhau công sở thì sao nhỉ?」
僕は身震いした。想像するだけで恐ろしい。
Tôi rùng mình một cái kịch liệt. Chỉ mới tưởng tượng ra cái viễn cảnh đó thôi đã thấy đáng sợ lắm rồi.
「えっ、それは嫌です。じゃあ、一緒のシャンプーとかもバレるかもしれないってことですか。僕、お風呂の時だけ自分の家に帰ろうかな……」
「Hả, thế thì gay to, tôi không muốn thế đâu ạ. Ủa, vậy nghĩa là ngay cả việc dùng chung một loại dầu gội đầu cũng có nguy cơ bị lộ tẩy hả chị? Hay là…… cứ đến giờ tắm rửa là tôi lại lội bộ đi về nhà riêng của mình ngủ cho chắc ăn nha……」
「それで見抜かれたら相手は軍用犬だよ。普通にお風呂は一緒でいいと思うよ。ゆったりした時間を君みたいな人と過ごせるって幸せなんだからね」
「Trời ạ, nếu dựa vào cái đó mà nhìn thấu được thì đối phương chắc chắn phải là chó nghiệp vụ của quân đội rồi em ơi. Chị nghĩ bình thường hai đứa mình cứ tắm chung, dùng chung đồ là được rồi mà. Được trải nghiệm và tận hưởng những khoảng thời gian thư thái, êm đềm bên cạnh một người như em, đối với chị đó là một niềm hạnh phúc lớn lao đấy biết không.」
「僕みたいな人……そっか、それならいいかも」
「Một người như tôi…… Ra là vậy ạ, nếu chị đã nói thế thì chắc là ổn rồi nhỉ.」
まだ香水に手を出すのは早いようだったが、一つ一つの地道な改善を積み上げる大切さを知った。お洒落は一日にしてならず。平凡な日常の中で外見にしっかりと向き合う大切さ。自分自身を疎かにする人が他の相手に優しくできるわけがない。そんな人生の真理を恋人から教わって、僕は本当に幸せ者だった。
Xem ra việc dùng nước hoa đối với tôi vào thời điểm này vẫn còn là quá sớm, nhưng bù lại, tôi đã thấu hiểu được tầm quan trọng của việc tích lũy từng sự cải thiện nhỏ nhặt, kiên trì mỗi ngày. Sự sành điệu không bao giờ có thể xây thành chỉ trong một sớm một chiều. Tầm quan trọng của việc nghiêm túc đối diện và chăm chút cho vẻ bề ngoài ngay trong những ngày tháng bình dị, thường nhật nhất. Một kẻ mà ngay đến cả bản thân mình còn bỏ bê, lơ là thì làm sao có tư cách để đi đối xử dịu dàng, tốt bụng với người khác cơ chứ. Được chính người yêu của mình khai sáng và truyền dạy cho bài học xương máu đó, tôi quả thực là một kẻ may mắn và hạnh phúc nhất trên đời.
ーーー
(なんか、真の大学生って感じの一日だった。古着屋に行くのは初めてだったけど、とても楽しかったな)
(Cảm giác hôm nay quả thực là một ngày mang đậm chất của một sinh viên đại học thực thụ vậy. Đây là lần đầu tiên tôi đi lùng sục ở mấy tiệm quần áo cũ (tiệm đồ si), nhưng mà thực sự là vui vô cùng luôn)
古着屋巡りのデートからの帰宅後、大きな鏡の前で購入したばかりのジャケットを羽織ってみる。お風呂上がりのケアを意識するようになってから、明らかに清潔感が外見に出るようになった。僕の人生にお洒落は不要だと思っていたが、垢抜けた自分の姿を再確認するというのは精神的な支柱になっている。大学生として洗練されていく感覚があった。
Sau khi trở về nhà từ buổi hẹn hò lượn lờ qua các tiệm đồ cũ, tôi đứng trước tấm gương lớn, ướm thử lên người chiếc áo khoác jacket vừa mới tậu được. Kể từ khi biết chú ý đến các bước skincare, chăm sóc da hậu sau khi tắm, vẻ ngoài của tôi rõ ràng là đã toát lên một sự tẻ tọc, sạch sẽ trông thấy. Tôi từng nghĩ cái sự sành điệu, thời thượng là thứ vô bổ, không cần thiết cho cuộc đời mình, thế nhưng việc được tái khẳng định dáng vẻ đã lột xác của bản thân trong gương lúc này lại đang trở thành một chỗ dựa tinh thần vô cùng vững chắc cho tôi. Cảm giác như mình đang dần trở nên tinh tế, lịch lãm hơn.
「すごい似合ってるよ、私が選んだから当然なんだけどね」
「Trông hợp với em cực kỳ luôn ý, mà cũng phải thôi, đồ do chính tay chị chọn mà lị.」
「ふふっ、自画自賛するんですね。今日は服選びに付き合ってくれて嬉しかったです。ありがとうございました」
「Hì hì, chị lại tự luyến, tự ca ngợi bản thân mình rồi. Hôm nay chị chịu đi chọn đồ cùng tôi là tôi vui lắm rồi ạ. Tôi cảm ơn chị nhiều nha.」
すぅっと肩の後ろから柚城さんが顔を覗かせた。そのまま首に腕を回され、しなだれかかるように体重を預けてくる。こうして耳元で囁かれると変な気持ちになる。
Yuzuki-san khẽ ló đầu ra từ phía sau bờ vai tôi. Cứ thế, chị ấy vòng hai cánh tay qua cổ tôi, rồi đổ dồn trọng lượng cơ thể, tựa sát sạt vào người tôi như thể đang nũng nịu. Việc bị chị ấy thầm thì, phả hơi thở ngay sát bên tai thế này cứ khiến trong lòng tôi dâng lên một cảm giác vô cùng kỳ lạ, bồn chồn.
「うん、かわいくなったね」
「Ừm, trông đáng yêu lên nhiều rồi đấy.」
「あれ……かっこいい、ではないんですね?」
「Ơ kìa…… Phải là "đẹp trai", "ngầu lòi" chứ không phải là đáng yêu sao chị?」
「そう、かわいいは無敵なんだよ」
「Đúng vậy, "đáng yêu" mới là vô địch thiên hạ, không có đối thủ nhé.」
鏡の中の柚城さんと視線を交わす。彼女なりの哲学を知ったのはこの時だった。ずっと話すタイミングを窺っていたのだろう。そう思わせる真剣な声色だった。
Tôi đưa mắt chạm nhau với Yuzuki-san ở trong gương. Đó là khoảnh khắc tôi được diện kiến và thấu hiểu cái triết lý sống của riêng chị ấy. Chắc hẳn chị ấy đã luôn rình rập, chờ đợi thời cơ chín muồi để nói ra điều này từ lâu rồi. Tông giọng vô cùng nghiêm túc của chị ấy lúc đó khiến tôi có cảm giác như vậy.
「ねぇ……美しいと可愛いの違いって何だと思う?」
「Này em…… Em nghĩ sự khác biệt giữa "xinh đẹp" và "đáng yêu" là gì nào?」
「僕の勝手なイメージですけど、触れてはいけないと思うのが"美しい"で、触れてみたいと感じるのが"可愛い"ですね。前者がアートで後者がマスコットって感じです」
「Theo cái hình dung chủ quan của riêng tôi thôi nhé, thì "xinh đẹp" là thứ khiến ta có cảm giác không được phép chạm vào, còn "đáng yêu" lại là thứ khiến ta thôi thúc muốn được chạm thử vào nó. Vế trước giống như một tác phẩm nghệ thuật, còn vế sau thì lại giống như một con linh vật vậy ạ.」
この真面目な答えは、柚城さんのお気に召したようだった。ぱちぱちっと僕の胸の前で拍手される。柔らかな吐息が耳朶をくすぐってきた。
Câu trả lời đầy nghiêm túc, chuẩn chỉnh này xem ra đã đánh trúng hồng tâm, vô cùng vừa ý Yuzuki-san. Chị ấy bắt đầu vỗ tay bộp bộp ngay trước ngực tôi. Làn hơi thở mềm mại, ấm áp của chị ấy cứ thế phả vào mơn man, nhột nhột nơi thùy tai tôi.
「流石はデザイン学部にいるだけあるね。こういう質問に即答できるのはお姉さん的にポイント高いよ。じゃあ次の質問ね」
「Quả không hổ danh là sinh viên trường Đại học Thiết kế có khác nha. Có thể lập tức trả lời ngay tắp lự trước câu hỏi kiểu này là điểm số của em trong mắt bà chị này tăng vọt rồi đấy. Nào, câu hỏi tiếp theo nhé.」
「はい、どうぞ。何でも聞いてください」
「Dạ vâng, mời chị. Chị cứ hỏi bất cứ điều gì cũng được ạ.」
「今の私は可愛い?」
「Thế hiện tại chị có đáng yêu không?」
そう言った途端、鏡の中の柚城さんは感情が削げ落ちたかのような無表情を顔に浮かべた。正直、可愛いより怖いと思ってしまう。まるで能面のような顔をした恋人に何と言葉を掛けたら良いのかという葛藤が伝わったのか、彼女は普段の朗らかな微笑を浮かべた。ぐりぐりっと僕の鎖骨に顎を押し付けてくる。その甘えるような態度に肩の力が抜けていった。僕は深呼吸して口を開く。
Ngay sau khi thốt ra câu đó, khuôn mặt của Yuzuki-san ở trong gương bỗng chốc biến đổi, mọi cảm xúc như bị gột rửa sạch bách, chỉ còn trơ lại một vẻ mặt hoàn toàn không cảm xúc, đờ đẫn. Nói thật lòng, lúc đó tôi thấy sợ hãi nhiều hơn là thấy đáng yêu. Gương mặt cứng đờ như một chiếc mặt nạ kịch Nô (Noh mask) của người yêu khiến tôi rơi vào sự giằng xé, lúng túng không biết phải mở lời thế nào, có lẽ như đã thấu cảm được sự bối rối đó của tôi, chị ấy lại lập tức nở một nụ cười rạng rỡ, hiền hậu như thường ngày. Chị ấy cứ thế dùng chiếc cằm của mình dụi dụi, ấn mạnh vào phần xương quai xanh của tôi. Cái thái độ làm nũng, quấn quýt đầy ngọt ngào ấy khiến mọi sự căng cứng trên hai bờ vai tôi phút chốc được buông lỏng, nhẹ nhõm. Tôi hít một hơi thật sâu rồi mở lời.
「ふぅ。何だか怒らせちゃったかと思って、すごい怖かったんですよ。びっくりしました」
「Phù. Làm tôi cứ tưởng mình đã vô tình chọc giận chị chuyện gì cơ, thực sự là đáng sợ lắm luôn ý. Hú hồn hà.」
「ごめんごめん、でも恋人でいるなら知っておいて。私が周りから可愛いと思ってもらうために努力していること」
「Chị xin lỗi, xin lỗi nha, nhưng mà một khi đã trở thành người yêu của nhau rồi thì chị muốn em phải biết điều này. Đó là việc chị đã phải nỗ lực, cố gắng đến nhường nào để khiến cho những người xung quanh cảm thấy mình đáng yêu.」
きらきらと光を反射する鏡の中、可愛さと色気を孕んだ瞳が爛々と輝いていた。
Trong gương, đôi đồng tử mang theo sự hòa quyện giữa nét đáng yêu cùng vẻ quyến rũ, gợi cảm của chị ấy đang rực sáng lên một cách long lanh, tràn đầy sinh khí.
「そしてね、君もかわいい人なんだよ」
「Và lại nữa nhé, bản thân em cũng là một người vô cùng đáng yêu (kawaii) đấy biết không.」
熱を帯びた吐息が耳朶をくすぐってくる。そのむず痒さに身体を強張らせるも、柚城さんが抱擁を解く気はないようだった。絶対に逃さないという捕食者の雰囲気だった。
Luồng hơi thở mang theo hơi nóng hầm hập cứ thế mơn man, trêu đùa nơi thùy tai tôi. Cái sự ngứa ngáy, nhột nhạt đó khiến toàn thân tôi bất giác co cứng lại, thế nhưng Yuzuki-san vẫn nhất quyết không chịu buông lỏng cái ôm. Cái bầu không khí lúc đó của chị ấy giống hệt như một kẻ săn mồi sừng sỏ, tuyệt đối không bao giờ để sổng mất con mồi đã sa lưới.
「人が誰かのことを可愛いって褒める時、そこには二通りの意味があると思っていてね。一つが容姿や外見によって感じる"可愛い"って気持ち。もう一つが愛嬌や雰囲気によって自然と生じる"かわいい"って気持ち。どっちが正解という話ではなくて、私は二通りの意味があると思っているってだけの話。人によっては、もっと多くのグラデーションがあるのかもね」
「Chị nghĩ rằng khi một ai đó khen ngợi đối phương là đáng yêu, thì cái từ đó nó mang hàm chứa hai tầng ý nghĩa khác nhau. Tầng nghĩa thứ nhất là sự "đáng yêu" xuất phát từ cảm nhận về diện mạo, ngoại hình bên ngoài. Tầng nghĩa thứ hai là cái sự "đáng yêu" được sinh ra một cách vô cùng tự nhiên từ chính nét duyên dáng hay cái bầu không khí mà người đó tỏa ra. Ở đây không có chuyện cái nào đúng cái nào sai cả, chỉ là bản thân chị nghĩ nó có hai tầng ý nghĩa như thế mà thôi. Mà biết đâu đối với những người khác, nó còn có nhiều dải sắc thái, nhiều sự chuyển biến màu sắc tinh tế hơn nữa ấy chứ.」
長い話になるから場所を変えようと、柚城さんが人差し指の動きで促してくる。僕は気圧されたように頷いた。
Nói đoạn, Yuzuki-san dùng ngón tay trỏ ra hiệu rằng câu chuyện này sẽ còn dài lắm, nên hai đứa hãy di chuyển sang chỗ khác đi. Tôi gật đầu một cái rụp như thể bị áp chế bởi uy áp của chị ấy.
僕は背後から抱きつかれた体勢のまま、彼女を引きずっていくかのような、彼女に背中を押されているかのような、何とも不思議な気分でソファまで歩いた。
Tôi giữ nguyên cái tư thế bị ôm chặt cứng từ phía sau lưng như vậy, vừa bước đi về phía chiếc ghế sofa với một cảm giác vô cùng kỳ lạ, mơ hồ: vừa giống như chính mình đang ra sức kéo lê chị ấy đi theo, lại vừa giống như bản thân đang được chị ấy dùng tấm lưng đẩy tới phía trước.
「今までの君は私服には無頓着だったかもしれないけど。職場での丁寧な挨拶だったり、律儀にお菓子を買ってきてくれたり、ふとした時の無邪気な笑顔だったり、そういう内面から滲み出るような"かわいい"が溢れてるの。これはね、私以外の人も思ってるみたい。君がシフトの日、精肉部門の人は嬉しそうだよ。ふふっ、まるで職場の癒しキャラみたいだね」
「Từ trước đến giờ, có thể em là một đứa hoàn toàn vô lo vô nghĩ, không mảy may chăm chút cho trang phục cá nhân của mình thật đấy. Thế nhưng, từ cái cách em chào hỏi vô cùng lễ phép, cẩn thận ở chỗ làm, cho đến việc em luôn chu đáo, lịch sự mua bánh kẹo mang đến đáp lễ, hay cả nụ cười hồn nhiên, vô tư lự hiện lên vào những khoảnh khắc tình cờ…… chính những thứ đó đã khiến cái sự "đáng yêu" từ tận sâu bên trong nội tâm em cứ thế tràn trề, rò rỉ ra bên ngoài. Mà cái điều này không phải chỉ mình chị cảm nhận được đâu nhé, có vẻ như những người khác cũng đều nghĩ như vậy đấy. Vào những ngày em có lịch lên ca, mấy cô chú bên bộ phận thịt tươi tinh nhục trông ai nấy đều hớn hở, vui ra mặt luôn kìa. Hì hì, xem ra em giống y như một linh vật chữa lành (healing character) của cái chỗ làm ấy vậy đó.」
二人でソファに腰掛けると、柚城さんが微笑みながら指を絡めてきた。彼女の指摘に職場で言われた言葉を思い出す。確かに精肉部門の大人たちは僕に対して優しい。
Khi hai đứa đã yên vị ngồi xuống chiếc ghế sofa, Yuzuki-san vừa mỉm cười vừa chủ động đan chặt những ngón tay vào tay tôi. Lời chỉ ra của chị ấy khiến tôi lập tức nhớ lại những câu nói mà mình từng được nghe ở nơi làm việc. Quả thực, những người lớn tuổi ở bộ phận thịt tươi luôn đối xử với tôi vô cùng dịu dàng, ưu ái.
(君は真面目な大学生だね。意外と天然なところもあるんだね。いつも助かってるよ。よくパートさんに言われるんだよな。まさかの癒しキャラ扱いされてるのは知らなかったけど)
(Thằng bé này đúng là một cậu sinh viên đại học vô cùng nghiêm túc nhỉ. Mà hóa ra cũng có những lúc ngơ ngác, ngây ngô tự nhiên (tennen) đến buồn cười ấy chứ. Lúc nào cũng giúp đỡ mọi người nhiệt tình ghê. Mình toàn nghe mấy cô chú làm part-time nói như vậy suốt thôi. Chứ bản thân tôi thì chịu chết, không hề hay biết cái việc mình đang bị người ta đối xử và xem như một sinh vật chữa lành ở chỗ làm)
すれてない子だね、と大人は伝えたいのだろう。
Có lẽ cái điều mà những người lớn tuổi muốn truyền tải ở đây là: "Thằng bé này là một đứa trẻ thuần khiết, chưa bị dòng đời vấy bẩn, tha hóa".
相手の目を見て会話し、会話する時には体の向きを意識する。自分の爪先と視線を同一対象に向けるイメージ。急に声を掛けられたら、ビクッと振り向くのではなく、ゆったりと振り向く。そして相手に微笑みかける。
Khi giao tiếp thì phải nhìn thẳng vào mắt đối phương, và khi trò chuyện thì phải luôn ý thức được việc hướng toàn bộ cơ thể về phía họ. Luôn giữ một hình dung trong đầu là phải hướng phần mũi chân và ánh mắt của mình về cùng một mục tiêu với người đối diện. Nếu chẳng may đột ngột bị ai đó gọi giật giọng từ phía sau, thay vì giật mình thon thót rồi quay ngoắt đầu lại, thì phải từ tốn, thong thả xoay người lại. Và rồi nở một nụ cười mỉm thật nhẹ nhàng với họ.
ダンボールを潰す、生ゴミを捨てる、肉の油でギトギトに汚れた床を磨く、どんな仕事だろうと、与えられた仕事内容に文句を言わない。自分のキャパシティを越えそうな時は素直に実力不足を打ち明ける。バイトの立場だからといって他責思考にならない。
Dù là việc dọn dẹp, giẫm bẹp mấy thùng carton, thu gom vứt rác thải tươi, hay cả việc còng lưng lau chùi, cọ rửa cái sàn nhà luôn bị bám bẩn, nhớp nháp dầu mỡ từ thịt sống, dẫu là bất cứ công việc gì đi chăng nữa, tôi tuyệt đối không bao giờ thốt ra nửa lời than vãn trước nội dung công việc được giao phó. Những khi cảm thấy công việc sắp sửa vượt quá giới hạn, quá dung tích chịu đựng (capacity) của bản thân, tôi sẽ thẳng thắn, thành thật bộc bạch về sự non kém, thiếu sót năng lực của mình. Tôi tuyệt đối không bao giờ dung túng cho cái tư duy đổ lỗi cho hoàn cảnh, đổ lỗi cho người khác chỉ vì vị thế của mình là một đứa làm thêm.
狭いコミュニティでの陰口を避ける。他人の印象を語る時は褒め言葉に徹する。パートさんの雑談には聞き役に徹する。ヘラヘラと笑うのではなく、ふにゃっと柔らかな微笑みを浮かべる。相手に話し役としての安心感と自信を抱かせる。
Tránh xa và bài trừ việc nói xấu sau lưng, hạ bệ người khác trong một cộng đồng nhỏ hẹp. Khi phải đưa ra nhận xét về ấn tượng của một ai đó, tôi luôn triệt để dùng những lời ca ngợi, khen ngợi tốt đẹp nhất. Đối với những câu chuyện phiếm, tán gẫu của mấy cô chú làm part-time, tôi luôn đóng tròn vai một người lắng nghe tận tụy, chân thành. Thay vì cứ cười hơ hớ, nhạt nhẽo, tôi chọn cách nở một nụ cười mỉm nhẹ nhàng, xốp mềm đầy thiện cảm. Mang lại cho đối phương một cảm giác an tâm và sự tự tin tuyệt đối khi họ đóng vai trò là người nói.
これらの純朴さをちらつかせる振る舞いが、自分の強みになっていることも本当は気付いていた。天然と言われるのは不可抗力だけど、本来の僕は打算的なのだ。そうでなくてはいけないとも思っている。周囲の人間に好かれるという結果は、自分の意識的な言動に基づく結果でなくてはいけない。たまたま、現在の環境で幸運に基づいて好かれたとしても、それは次の環境での再現性が乏しくなってしまう。そんな打算も含めて、僕は純粋でありたいと努力している。
わざわざ弁明することでもないけど、柚城さんの前では誠実でありたい。至近距離の大きな瞳を見つめ返した。
Việc phơi bày, trưng trổ ra những hành vi mang đậm nét mộc mạc, chất phác này thực chất lại chính là vũ khí, là thế mạnh của bản thân, điều đó từ tận đáy lòng tôi vốn dĩ đã sớm tự ý thức được rồi. Chuyện bị người ta nhận xét là ngây ngô, tennen thì đó là một sự cố bất khả kháng, thế nhưng bản chất con người thật của tôi lại là một kẻ vô cùng thực tế và đầy toan tính. Và tôi nghĩ bản thân mình bắt buộc phải trở thành một kẻ như thế. Cái kết quả được những người xung quanh yêu mến, quý trọng phải là cái kết quả được xây dựng dựa trên những lời nói, hành động mang tính ý thức, có chủ đích rõ ràng của chính bản thân tôi. Bởi lẽ, nếu như tôi chỉ vô tình được người ta yêu mến dựa vào sự may mắn, ngẫu nhiên ở môi trường hiện tại, thì cái sự may mắn đó sẽ rất khó để có thể tái hiện, có tính tái hiện ở môi trường tiếp theo được. Kể cả cái sự toan tính, thực dụng đó nữa, tôi vẫn đang nỗ lực hết mình để có thể giữ cho bản thân được thuần khiết, vẹn nguyên nhất.
Dẫu biết rằng đây không phải là chuyện gì quá to tát đến mức phải ra sức thanh minh, biện hộ, nhưng riêng ở trước mặt Yuzuki-san, tôi luôn muốn bản thân mình phải là kẻ thành thật, nghiêm túc nhất. Tôi đưa mắt nhìn thẳng, đáp lại đôi đồng tử to tròn đang ở cự ly gần sát sạt kia.
「正直に言うと僕だって自覚はあります。でも、かわいこぶってるつもりはないですから。ただ、変に取り繕ったりせず、普通に仕事しているだけです」
「Nói một cách thành thật thì tự bản thân tôi cũng có sự tự ý thức về chuyện đó ạ. Thế nhưng, tôi không hề có ý định cố tình tỏ ra đáng yêu hay làm màu gì đâu nhé. Chỉ là tôi không muốn bản thân phải gượng ép, làm bộ làm tịch một cách giả tạo, mà chỉ đơn thuần là nỗ lực làm việc như một người bình thường mà thôi.」
「うん、自覚があるのも分かるよ。それなのに素直だったから驚いたの。どうして、そんなに純粋無垢でいられるんだろうって。君は、他人の理想に拒否感を示すでもなく、それでいて甘やかされても調子に乗らない。常にフラットな"かわいさ"を保っているように見えるからさ」
「Ừm, chị biết là em có sự tự ý thức được chuyện đó mà. Chính vì thế nên chị mới thấy kinh ngạc trước sự thành thật, thẳng thắn của em đấy. Chị cứ luôn tự hỏi rằng, tại sao em lại có thể giữ được sự thuần khiết, không chút vấy bẩn thuần túy vô cấu đến nhường ấy cơ chứ. Em ấy, không hề tỏ ra bài xích, cự tuyệt trước những hình mẫu lý tưởng mà người khác áp đặt lên mình, nhưng đồng thời dẫu có được người ta yêu chiều, cưng nựng đến mấy cũng tuyệt đối không kiêu ngạo, hợm hĩnh hay tỏ ra tinh tướng. Bởi vì trong mắt chị, em luôn duy trì được một cái sự 'đáng yêu' vô cùng cân bằng, giữ ở trạng thái flat vậy đó……」
「……うーん、それは……」
「……Ừm…… chuyện đó thì……」
まだ僕は大学一年生だ。今の時代の価値観とか、そういうのは良く分かっていないけど。男性に求められる理想像はシビアだと思う。弱さを見せてはいけない。己が生み出した結果しか価値を持たない。淡く微笑んでいるだけの置き物ではいけない。そういう性別に生まれたと感じる。
Tôi vẫn đang là một cậu sinh viên đại học năm nhất. Những thứ như hệ giá trị của thời đại ngày nay, tôi thực sự không mấy am tường hay thấu hiểu cho lắm. Thế nhưng, tôi cảm nhận được rằng cái hình mẫu lý tưởng mà xã hội đòi hỏi, áp đặt lên người đàn ông là vô cùng khắc nghiệt, khắt khe. Không được phép để lộ ra bất kỳ sự yếu đuối nào. Bản thân chỉ có giá trị khi tạo ra những kết quả, thành tựu thực tế. Tuyệt đối không được trở thành một món đồ trưng bày chỉ biết nở nụ cười mỉm nhạt nhòa. Tôi cảm thấy mình đã được sinh ra với một giới tính mang những xiềng xích, định kiến như thế đấy.
だからこそ、楽に生きる道に憧れてしまうのだろう。どんな環境でも周囲の人を安心させ、自分も誠実に生き残るための方法を知りたい。その再現性を掴みたい。楽に生きることに必死になって何が悪い。
Chính vì lẽ đó, có lẽ bản thân tôi mới luôn khao khát, ngưỡng mộ một con đường sống dễ thở, dễ dàng hơn chăng. Tôi muốn thấu biết cái phương pháp để làm sao ở trong bất kỳ môi trường nào cũng có thể mang lại cảm giác an tâm cho những người xung quanh, đồng thời giữ cho chính mình sống sót một cách thành thật nhất. Tôi muốn nắm thóp được cái tính tái hiện của phương pháp ấy. Bản thân đã phải nỗ lực hết mình, trầy da tróc vẩy chỉ để hướng tới một cuộc sống dễ thở hơn, thì điều đó có gì là sai trái, tồi tệ cơ chứ?
そして、そんな自分の臆病さを開示したい。大きな愛をもって丸ごと肯定してほしい。この答え合わせがされていくプロセスは、非常にスリリングで、かつ心理学的な深みがあるものだった。
Và rồi, tôi muốn phơi bày, khai báo cái sự nhút nhát, hèn nhát đó của bản thân cho người con gái này biết. Tôi muốn chị ấy dùng một tình yêu bao la, vĩ đại để ôm trọn và khẳng định, công nhận toàn bộ con người tôi. Cái hành trình tiến trình mà ở đó những câu trả lời cho tâm tư của hai bên được khớp lại hoàn chỉnh thực sự là vô cùng kịch tính, sảng khoái (thrilling), và đồng thời mang một chiều sâu tâm lý học vô cùng sâu sắc.
「僕は素直な人の生き方が好きです。だから表面上だけでも、素直な生き方をしたいと思っています。もう自分自身ですら、どの記憶の誰の真似事をしているのかは覚えていませんけどね」
「Tôi thích cách sống của những con người thành thật, ngay thẳng. Chính vì thế nên dẫu cho chỉ là ở bề nổi mặt ngoài đi chăng nữa, tôi vẫn muốn mình được sống một cuộc đời thành thật. Cho đến giờ thì ngay cả chính bản thân tôi cũng chẳng thể nhớ nổi là mình đang bắt chước, rập khuôn theo hình bóng của ai trong mớ ký ức nào nữa rồi.」
大人や友人が僕に"かわいい"子供であってほしいと思うなら、その立場を最大限に活用させてもらおう。僕が素直に生きて、それに癒される人間がいるならば、そこに甘んじて息を吸っていたい。そう打算的に割り切っている。
Nếu như những người lớn tuổi hay bạn bè xung quanh đều mong muốn tôi là một đứa trẻ "đáng yêu", vậy thì tôi xin phép được tận dụng, khai thác tối đa cái vị thế, chỗ đứng đó của mình vậy. Nếu việc tôi sống một cách thành thật, ngoan ngoãn có thể trở thành liều thuốc xoa dịu, chữa lành cho một ai đó ngoài kia, thì tôi nguyện lòng đắm mình, chấp nhận cái vị trí đó để hít thở, sinh tồn. Tôi tự mình vạch rõ ranh giới, cam chịu một cách thực tế và đầy toan tính như vậy đấy.
他人は自分を映す鏡であるという格言が好きだ。
Tôi cực kỳ tâm đắc và yêu thích câu cách ngôn: "Người khác chính là tấm gương phản chiếu chính bản thân mình".
だから僕は、他人から受けたものを反射するような人間でいたいと思っている。誰かの優しさには僕なりの優しさを。誰かの意地悪には僕なりの冷たさを。
Chính vì vậy, tôi luôn muốn bản thân mình trở thành một thực thể giống như một tấm gương, phản chiếu lại nguyên vẹn những gì mà mình nhận được từ người khác. Đối đáp lại sự dịu dàng của ai đó bằng sự dịu dàng mang thương hiệu của riêng tôi. Đối đáp lại sự ích kỷ, ác ý của ai đó bằng sự lạnh lùng mang bản sắc của riêng tôi.
「ただ……反射するだけなんです」
「Tôi chỉ là…… một tấm gương phản chiếu lại mọi thứ mà thôi.」
そう静かに呟くと、ぎゅっと僕の手を握る力が強くなった。本当に彼女は優しく誠実な恋人だと思う。
Ngay khi tôi vừa khẽ thốt lên những lời thì thầm lặng lẽ ấy, lực đạo từ bàn tay đang đan chặt lấy tay tôi bỗng chốc siết mạnh hơn.
柚城さんを始めとして、僕の周りにはたくさんの優しい人がいるから。それを反射した結果が好印象に繋がっているだけだ。特別な努力をしているわけではない。僕に意地悪をする人が増える環境なら、僕は素直な残酷さを返すのだと思う。いつもドライであり、フラットでありたい。
Bởi lẽ xung quanh tôi hiện tại đang có rất nhiều người tốt bụng, bao dung mà xuất phát điểm chính là Yuzuki-san. Việc tôi phản chiếu lại những điều đó vô tình mang lại một ấn tượng tốt đẹp trong mắt mọi người mà thôi. Chứ bản thân tôi chẳng hề nỗ lực hay cố gắng gì quá ghê gớm cả. Nếu như tôi phải ném mình vào một môi trường nơi mà những kẻ ác ý, xấu tính ngày một gia tăng, tôi nghĩ bản thân mình cũng sẽ tự động đáp trả lại bằng một sự lạnh lùng, tàn nhẫn đầy thành thật mà thôi. Tôi muốn mình luôn giữ được sự khô khốc (dry) và bình ổn (flat) nhất.
「そっか、そうやって生きてきたんだね」
「Ra là vậy, hóa ra bấy lâu nay em đã luôn gồng mình sống như thế sao.」
「はい」
「Dạ vâng.」
「その生き方はさ……苦しくないの?」
「Cách sống đó của em ý…… có bao giờ khiến em thấy mệt mỏi, khổ sở không?」
「……たまに」
「……Thỉnh thoảng ạ.」
僕の弱さを差し出した自覚はある。夜の静寂に包まれたワンルーム。隣に座っている柚城さんの表情を窺うことが怖かった。僕が蚊の鳴くような相槌を打つと、彼女は言葉を選んでいる様子だった。ぎゅっと指先に力を込めた。どんな感想であろうと、真っ白な僕のピースを嵌める相手は彼女がいい。
Tôi tự ý thức được rằng mình vừa mới phơi bày, dâng hiến toàn bộ sự yếu đuối của bản thân ra trước mặt chị. Căn phòng trọ một phòng lúc này đang được bao bọc, nuốt chửng bởi sự tĩnh mịch của màn đêm. Tôi đâm ra sợ hãi, không dám liếc nhìn để dò xét biểu cảm trên gương mặt của Yuzuki-san đang ngồi ngay cạnh bên. Sau cái gật đầu nhẹ kèm theo tiếng đáp nhỏ như tiếng muỗi kêu của tôi, chị ấy dường như đang vô cùng cẩn trọng, đắn đo trong việc lựa chọn câu từ. Lực đạo từ những đầu ngón tay của chị lại một lần nữa siết chặt lấy tay tôi. Dẫu cho cái cảm nhận, nhận xét của chị sau đây có là gì đi chăng nữa, thì người duy nhất mà tôi muốn giao phó để ghép nốt mảnh khuyết (mảnh puzzle) trắng xóa cuối cùng của đời mình, chỉ có thể là người con gái này mà thôi.
永遠にも思えた数秒後、柚城さんが深呼吸した。
Sau vài giây im lặng dài đằng đẵng tưởng chừng như cả thế kỷ, Yuzuki-san khẽ hít một hơi thật sâu.
「皆に優しさを返してくれてありがとう。君は賢いから、何も反射しない生き方も選べるのに、それでも周りに優しさを返そうとする生き方を選んでくれたこと。そんな君の本音を教えてくれてありがとう。私はね、かわいい君が大好きだよ。ずっと一緒に苦しもうね」
「Cảm ơn em vì đã luôn đáp lại mọi người bằng sự dịu dàng nhé. Cậu em của chị thông minh, sắc sảo như thế, em thừa sức chọn cho mình một cách sống trơ lì, không thèm phản chiếu lại bất cứ điều gì cơ mà. Vậy mà em vẫn chọn cách sống nỗ lực đáp trả lại sự tốt bụng, dịu dàng cho thế giới xung quanh. Và cũng cảm ơn em vì đã chịu mở lòng, nói cho chị nghe những lời tự đáy lòng này nhé. Chị ý mà, chị yêu tất cả những cái nét đáng yêu, dễ mến đó của em lắm. Thế nên là, từ nay về sau hai đứa mình hãy cứ ở bên nhau và cùng nhau san sẻ cái sự khổ sở, mệt mỏi này nhé.」
「はい、これからも優しくしてください」
「Vâng ạ, từ giờ trở đi cũng xin chị hãy cứ tiếp tục đối xử dịu dàng, chiều chuộng tôi nhé.」
ふっと視線が合い、お互いの唇が予定調和のように重なっていく。柚城さんと同棲してから、最初のキスだった。
Bất chợt hai ánh mắt chạm nhau, và rồi giống như một sự an bài, một định luật tất yếu định sẵn, đôi môi của hai đứa cứ thế chầm chậm chồng khít lên nhau. Đó chính là nụ hôn đầu tiên của hai đứa, kể từ sau khi tôi chuyển đến sống chung nhà với Yuzuki-san.




