柚城さんという大人
バイトからの帰宅後。僕はシャワーを浴びて、すぐにベッドに倒れ込んだ。ドライヤーで髪を乾かすのも億劫だった。やはり深夜の仕事は身体に負担がかかる。ここまで疲労に侵食されては小説なんて書けやしない。
Sau khi đi làm thêm về đến nhà. Tôi đi tắm rửa qua loa rồi lập tức đổ ập người xuống giường. Đến cả cái việc bật máy sấy lên để làm khô tóc thôi mà tôi cũng thấy lười biếng, oải chè đậu kinh khủng. Quả nhiên là cái ca làm việc đêm muộn thế này bào mòn sức khỏe của cơ thể dã man. Trong cái trạng thái kiệt quệ như thế này thì làm sao mà có thể viết lách tiểu thuyết nổi cơ chứ.
(過去を振り返ることが執筆の意欲になるかもしれない)
(Biết đâu chăng, việc lật giở và hoài niệm lại những chuyện quá khứ sẽ trở thành nguồn động lực, kích thích ý muốn cầm bút viết lách của mình thì sao.)
僕は目を閉じた。
Tôi khẽ nhắm mắt lại.
ーーー
柚城さんと出会ったのはバイト先だった。自宅から徒歩10分という距離にある大型スーパー。僕は精肉部門に採用されて、加工肉製品の品出しやバックヤードの清掃をしていた。17時から20時という社員が帰った後の時間、ワンオペで仕事をこなすことも普通だった。
Tôi quen biết Yuzuki-san là tại nơi làm thêm. Đó là một siêu thị lớn nằm cách nhà tôi chỉ khoảng 10 phút đi bộ. Tôi được tuyển vào bộ phận lọc thịt, công việc chính là trưng bày các sản phẩm thịt chế biến sẵn ra quầy và dọn dẹp khu vực hậu cần (backyard) phía sau. Vào khung giờ từ 17 giờ đến 20 giờ sau khi các nhân viên chính thức đã ra về, việc tôi phải một mình cân trọn công việc (one-op) là điều hết sức bình thường.
その一方で、柚城さんはサービスカウンターという部署で働いていた。お客さんからの相談やクレームを面と向かって対応したり、備品の発注や領収書の発行と伝票処理などの事務作業も求められる仕事だった。どんな時も微笑みを絶やさない姿を見て、まるでスーパーの受付嬢のような印象を抱いた。
Trong khi đó, Yuzuki-san lại làm việc ở bộ phận quầy dịch vụ khách hàng (service counter). Đó là một vị trí đòi hỏi phải trực tiếp đối diện để xử lý các yêu cầu tư vấn hay phàn nàn (claim) từ khách hàng, đồng thời cũng phải đảm nhận các công việc văn phòng như đặt mua nhu yếu phẩm, xuất hóa đơn và xử lý chứng từ. Nhìn dáng vẻ lúc nào cũng giữ nụ cười thường trực trên môi của cô ấy, tôi cứ có ấn tượng như cô ấy là một nàng hoa khôi lễ tân của siêu thị vậy.
「よろしくお願いします」
「Tôi rất mong nhận được sự giúp đỡ ạ.」
「初めまして、今日から働くアルバイトの方ですね。こちらへどうぞ」
「Chào em, em là nhân viên làm thêm mới bắt đầu từ hôm nay đúng không. Đi lối này với chị nhé.」
バイト採用の面接で顔を見かけて、初出勤の時には更衣室や休憩室の案内をしてもらった。初めてのバイトだったのでバックヤードに入るだけで緊張していた。だから初対面でリラックスできた相手への印象は自然と強くなる。僕が柚城さんという珍しい苗字を覚えるのに、そう時間はかからなかった。とても丁寧で柔らかな雰囲気のお姉さんという印象だった。
Tôi đã chạm mặt cô ấy từ buổi phỏng vấn tuyển dụng, và đến ngày đầu tiên đi làm chính thức, tôi lại được cô ấy dẫn đi giới thiệu phòng thay đồ và phòng nghỉ giải lao. Vì đây là lần đầu tiên đi làm thêm nên chỉ riêng việc bước chân vào khu vực hậu cần thôi đã đủ khiến tôi hồi hộp phát điên lên được. Chính vì thế, ấn tượng về một người có thể giúp mình giải tỏa sự căng thẳng ngay từ lần đầu gặp mặt tự nhiên sẽ trở nên vô cùng đậm nét. Tôi không mất quá nhiều thời gian để ghi nhớ cái họ "Yuzuki" khá là hiếm gặp của cô ấy. Trong mắt tôi lúc đó, cô ấy là một người chị vô cùng lịch sự và mang một phong thái vô cùng dịu dàng.
「ここに引っ越してきたばかりですか?」
「Em mới chuyển đến Niigata sống hả?」
「はい、長岡の大学に入学したばかりなんです」
「Vâng ạ, tôi mới nhập học một trường đại học ở Nagaoka thôi ạ.」
「あら、私と三歳差なんですね。このスーパーで歳が近い子は貴重なので、ぜひ仲良くしましょう」
「Á chà, thế là kém chị ba tuổi lận đó nha. Ở cái siêu thị này, những đứa tầm tầm tuổi nhau là hiếm hoi lắm luôn, nên nhất định hai đứa mình phải ăn ý, chơi thân với nhau nhé.」
この頃の僕たちは敬語で話していた。
高校を卒業したタイミングで就職したという彼女は、僕と三歳差の身でありながら、しっかりと正社員としての業務をこなしていた。その快活な働きぶりと人当たりの良い性格は眩しく、若い男性の目を惹く存在だった。この職場に社内恋愛が禁止という時代錯誤な風潮がなければ、同期から熱烈にアプローチを受けていたことだろう。現に、こっそりと裏で食事に誘われていたという話も耳にしたことがある。
Vào những ngày tháng đó, chúng tôi vẫn đang trò chuyện với nhau bằng kính ngữ.
Nghe nói cô ấy đi làm ngay sau khi tốt nghiệp cấp ba. Dù chỉ hơn tôi có ba tuổi, nhưng cô ấy đã có thể xử lý các nghiệp vụ của một nhân viên chính thức một cách vô cùng chín chắn, thạo việc. Phong cách làm việc hoạt bát nhanh nhẹn cùng tính cách niềm nở, dễ gần của cô ấy tỏa ra một vầng hào quang vô cùng rực rỡ, dễ dàng thu hút ánh nhìn của những gã trai trẻ. Nếu cái nơi làm việc này không tồn tại một cái luật bất thành văn đầy cổ hủ, lỗi thời là cấm yêu đương công sở, thì có lẽ cô ấy đã phải nhận về những màn tấn công, cưa cẩm nồng nhiệt từ các đồng nghiệp đồng lứa rồi. Thực tế là, tôi cũng từng nghe loáng thoáng mấy tin đồn rằng cô ấy đã bí mật nhận được những lời mời đi ăn riêng từ phía sau lưng.
ある時、プライベートの柚城さんとスーパーの敷地外で出くわしたことがあった。一応の顔見知りだったので軽く会釈すると、彼女は人好きのする笑顔を浮かべて近寄ってきた。実は大学生を機に人見知りを克服したかった。僕はぎこちない微笑みを浮かべた。
Có một lần, tôi tình cờ đụng độ Yuzuki-san ở phía ngoài khuôn viên của siêu thị trong thời gian riêng tư. Vì dù sao cũng là chỗ quen biết mặt nhau nên tôi khẽ cúi đầu chào, thấy vậy cô ấy liền nở một nụ cười cực kỳ mến khách rồi bước rảo chân tiến lại gần. Thực ra, bước vào quãng đời sinh viên, tôi đã rất muốn chế ngự, vượt qua cái tính nhút nhát, sợ người lạ của mình. Tôi gượng gạo nở một nụ cười xã giao.
「ふふっ、バイトの子ですよね。この近所に住んでるんですか?」
「Hì hì, em làm bên bộ phận làm thêm đúng không nè. Em sống ở gần quanh đây hả?」
「そうですね、お久しぶりです。駅から近い場所に住みたかったんですよ」
「Vâng ạ, cũng lâu rồi không gặp chị. Tại tôi muốn sống ở chỗ nào gần ga một chút ý mà.」
「あら、それだと大学からは遠くなりませんか?」
「Nếu thế thì chẳng phải đi đến trường đại học sẽ bị xa lắm sao?」
「そうなんですよね。一長一短です」
「Dạ chuẩn luôn rồi ạ, xa thật chị ạ.」
長岡駅に直結したショッピングモール。その階段の踊り場だった。周囲に他の客はいなかった。手すりの感触を背中に感じながら、僕たちは軽い雑談を繰り広げた。最初のやり取りを除くと、柚城さんとは仕事中の接点が無かったので、どこか新鮮な気持ちになった。
Đó là khu vực chiếu nghỉ cầu thang của trung tâm thương mại kết nối trực tiếp với nhà ga Nagaoka. Xung quanh lúc ấy không có vị khách nào khác. Cảm nhận được cái chạm của thanh vịn lan can tựa vào sau lưng, hai đứa chúng tôi đã triển khai một cuộc trò chuyện phiếm nhẹ nhàng. Ngoại trừ lần giao lưu đầu tiên ra thì bình thường trong công việc hai đứa không hề có điểm tiếp xúc nào, thành ra buổi trò chuyện này mang lại một cảm giác vô cùng mới mẻ.
「へぇ、一人暮らしなんだ?」
「Hể, hóa ra là đang sống tự lập một mình cơ à?」
「そうですよ」
「Vâng, đúng vậy ạ.」
「えっと、実家はどこなんだっけ?」
「Xem nào, thế nhà bố mẹ đẻ của em là ở đâu ý nhỉ?」
「栃木ですよ。かなり遠いです」
「Ở Tochigi chị ạ. Khá là xa luôn.」
「そっか……一人暮らしだと大雪は不安じゃない?」
「Thế cơ à…… Sống một mình thế này thì mùa tuyết rơi dày đặc em không thấy lo lắng sao?」
「ちょっと不安ですけど、栃木は雪があまり降らなかったので、冬が楽しみでもありますね」
「Cũng có chút lo lo ạ, nhưng vì ở Tochigi quê tôi hầu như không có tuyết rơi mấy, nên tôi lại có cảm giác khá là háo hức, mong chờ đến mùa đông đấy chứ.」
「ふふっ、いいね。ポジティブな方が楽しいよ」
「Hì hì, được đấy chứ. Cứ suy nghĩ tích cực như thế thì cuộc sống mới vui vẻ được.」
いつものような敬語が崩れていた。しばらく立ち話が盛り上がった後、彼女はスマホを取り出した。僕と同じ機種で同じ色のスマホだった。
Cái lối nói chuyện bằng kính ngữ thường ngày dường như đã bị phá vỡ, suồng sã hơn từ lúc nào. Sau một hồi đứng buôn chuyện vô cùng rôm rả, cô ấy bèn lôi chiếc điện thoại thông minh của mình ra. Đó là một chiếc máy cùng dòng và cùng màu y hệt với chiếc điện thoại của tôi.
「えっ、何ですか?」
「Ơ, gì thế chị?」
「しーっ、皆には内緒だからね。パートのおばさんたちに変な噂されるのも嫌でしょ。ほら、さっさとLINEのQRコードを出してよ」
「Suỵt, phải giữ bí mật với mọi người đấy nhé. Để mấy bà cô làm bán thời gian (part-time) mà thính tai nghe thấy rồi đồn thổi mấy lời ác ý, dị nghị thì phiền phức lắm đúng không. Nào, mau mau chìa cái mã QR LINE của em ra đây xem nào.」
「別にいいですけど、僕と連絡先を交換しても意味ないと思いますよ」
「Thì cũng được thôi ạ, nhưng tôi nghĩ chị có kết bạn, trao đổi liên lạc với tôi thì cũng chẳng giải quyết được việc gì đâu.」
「ふふっ、変なこと言うね。意味とかいらないよ」
「Hì hì, em nói năng kỳ cục ghê ta. Việc gì mà phải cần ý nghĩa với chả lý do chứ.」
柚城さんからの申し出は半ば強引だったが、無理に断る理由は見つからなかった。ただ、僕は一言多かった。意地の代わりに予防線を張ろうとしてしまった。
Lời đề nghị đó có phần hơi cưỡng ép, độc đoán, nhưng tôi cũng chẳng thể tìm nổi một lý do chính đáng nào để mà đứng đấy gồng mình cự tuyệt. Chỉ là, cái tính của tôi lúc đó lại hay nói thừa thãi một câu. Thay vì ra sức bướng bỉnh chịu đòn, tôi lại vô thức tìm cách dựng lên một hàng rào phòng thủ (vạch đề phòng).
なぜ、ただの学生だった僕と正社員の柚城さんが連絡先を交換する仲になったのか。当時の彼女との共通点はお互いに一人暮らしをしていること、そして実家との距離が離れていて、二人とも頼れる人が近所にいないことだった。
多分、そこで彼女は僕に親近感が湧いたのだろう。
Vì sao một đứa nhân viên làm thêm quèn như tôi và một nhân viên chính thức như Yuzuki-san lại thiết lập mối quan hệ trao đổi liên lạc với nhau? Điểm chung duy nhất giữa hai đứa chúng tôi lúc bấy giờ là cả hai đều đang tự lập sống một mình, khoảng cách từ nhà đến quê nhà của bố mẹ đều rất xa xôi, và quanh đây cả hai đều không có một người thân thích nào để cậy nhờ nương tựa.
Có lẽ, chính điều đó đã khơi dậy trong lòng cô ấy một sự đồng cảm, gần gũi với tôi.
「別にいいでしょ。なんか一人暮らしの子は放っておけないんだから。これは私がしたいことです」
「Thì có làm sao đâu nè. Chị là cái kiểu người cứ thấy đứa nào sống lủi thủi một mình là không thể bỏ mặc được ý. Đây là điều tự bản thân chị muốn làm mà.」
「……そうですか。はい、これが僕のQRコードです」
「……Thế ạ. Vâng, đây là mã QR của tôi.」
「ふふっ、ありがとう!」
「Hì hì, chị cảm ơn nhé!」
当時の僕は人見知りであり、バイト中も猫を被っていたので、慣れない新生活でオドオドする大学一年生といった印象を周りに与えていたと思う。そこが世話焼きなところのある彼女の琴線に触れたようだった。人目につかない階段の踊り場で、僕は柚城さんと連絡先を交換した。
Tôi của những ngày tháng đó vừa nhút nhát lại vừa hay giả nai khi đi làm, nên có lẽ đã vô tình tạo cho những người xung quanh cái ấn tượng về một cậu sinh viên năm nhất đại học luôn lóng ngóng, sợ sệt trước cuộc sống mới đầy bỡ ngỡ. Chính cái nét đó đã chạm đúng vào tần số, đánh trúng vào bản năng thích chăm sóc người khác của cô ấy. Tại góc chiếu nghỉ cầu thang khuất nẻo không một bóng người, tôi đã hoàn tất việc trao đổi phương thức liên lạc với Yuzuki-san.
「一人暮らしで困ったら、気軽に相談してね!」
「Sống một mình mà gặp khó khăn gì thì cứ thoải mái nhắn tin, bàn bạc với chị nhé!」
「はい、ありがとうございます」
「Vâng, Cảm ơn chị ạ.」
ただ、あの頃の僕はこまめに返信するタイプの男ではなかった。当時はコロナ禍の真っ只中で、全ての大学の講義が"Zoom"を使ったオンライン授業だった。絵を描き、デザインを学ぶ大学なのに、気軽に質問できないオンラインの授業。他者の筆遣いや熱量を肌で感じられない。教授や同級生の画力を目で盗めない。僕の精神はガリガリと端っこの方から削られていった。
Ngặt một nỗi, tôi của thời điểm đó lại không phải là tuýp đàn ông siêng năng nhắn tin, rep tin nhắn cạch cạch cho lắm. Lúc bấy giờ đang là thời kỳ dịch bệnh Covid hoành hành, toàn bộ các buổi giảng dạy ở trường đại học đều chuyển sang hình thức học trực tuyến (online) qua phần mềm "Zoom". Rõ ràng là một ngôi trường đại học chuyên về vẽ và học thiết kế, vậy mà lại phải trải qua những tiết học online tù túng, nơi mà bạn không thể dễ dàng mở lời đặt câu hỏi. Thậm chí đến cả việc dùng mắt để học lỏm, đánh cắp kỹ năng hội họa của các vị giáo sư hay bạn bè đồng lứa cũng là điều bất khả thi. Tinh thần của tôi cứ thế bị mài mòn, bào rách từng chút một từ tận sâu bên trong góc khuất.
だから柚城さんとLINEで話す余裕はなかった。最初の挨拶がてら、お互いの好きなスイーツを発表し合ったくらいだ。数行の文章だけがトーク履歴の全てだった。
Chính vì thế, tôi làm gì còn tâm trí và sự thảnh thơi nào để mà nhắn tin dông dài qua LINE với Yuzuki-san nữa. Tất cả những gì lưu lại trong lịch sử trò chuyện (chat history) của hai đứa chỉ vẻn vẹn là màn chào hỏi xã giao ban đầu, kèm theo việc giới thiệu cho nhau nghe về món đồ ngọt yêu thích của đôi bên. Vài ba dòng tin nhắn ngắn ngủi ngủ quên, đó là tất cả những gì chúng tôi có.
「おはよう!」
「Chào buổi sáng em nhé!」
「おはようございます」
「Chào chị buổi sáng ạ.」
ただの顔見知り。
仕事で顔を合わせれば、軽く挨拶を返すだけ。
そんな淡白すぎる関係性が動いたのは秋の始まりだった。
Chỉ là chỗ quen biết mặt nhau không hơn không kém.
Khi chạm mặt nhau ở chỗ làm, cũng chỉ gửi tới nhau một lời chào hỏi qua loa lấy lệ.
Cái mối quan hệ nhạt nhẽo, nguội lạnh đến mức cực hạn ấy chỉ thực sự chuyển mình, dịch chuyển bánh răng khi mùa thu bắt đầu chạm ngõ.
「これは死ぬかもな……いやだ、しにたくない」
「Kiểu này có khi mình chết mất thôi…… Không muốn đâu, mình không muốn chết đâu.」
自己管理を怠った結果、一人暮らしで食中毒になった。
当然のようにコロナの検査結果は陰性だったが、吐き気と高熱で今にも死んでしまいそうだった。コロナ禍で余裕のない病院が僕の存在を受け入れることはなかった。
Hệ quả của việc lơ là, bỏ bê quản lý bản thân là tôi đã bị ngộ độc thực phẩm ngay trong cuộc sống tự lập một mình.
Dẫu cho kết quả xét nghiệm Covid hiển nhiên là âm tính, nhưng cơn buồn nôn cùng trận sốt cao dồn dập khiến tôi có cảm giác như thể mình sắp chết tới nơi rồi. Giữa thời kỳ dịch bệnh, các bệnh viện vốn đã quá tải, không còn một chút dư dả nào nên chẳng nơi nào chịu dang tay tiếp nhận sự hiện diện của tôi cả.
(こんな時だけ頼るなんて。でも他に助けてくれる人が思いつかない)
(Những lúc thế này mới chịu tìm đến người ta nương tựa sao. Nhưng mà, ngoài chị ấy ra mình chẳng thể nghĩ nổi một ai khác có thể cứu giúp mình lúc này nữa)
僕は葛藤しながら、最後の頼みの綱である柚城さんに助けを求めた。彼女は貴重な休日を潰してまで、すぐに自宅まで駆けつけてくれた。チャイムが鳴った瞬間の安心感は言い表せない。
Trong tâm trạng đấu tranh giằng xé nội tâm dữ dội, tôi đã đánh liều bấu víu vào sợi phao cứu sinh cuối cùng, nhắn tin cầu cứu Yuzuki-san. Vậy mà, bất chấp việc phải hy sinh cả ngày nghỉ lễ quý giá của mình, chị ấy đã ngay lập tức lao thục mạng đến tận nhà tôi. Khoảnh khắc tiếng chuông cửa vang lên, cảm giác nhẹ nhõm, an tâm trào dâng trong tôi lớn đến mức không một ngôn từ nào có thể diễn tả trọn vẹn.
「コロナじゃなかったんでしょ?それなら家に上がっても大丈夫だよ!」
「Không phải bị Covid đúng không? Thế thì chị vào nhà chăm em cũng không sao đâu!」
「いや、そういう問題じゃ……薬とゼリーを買ってきてもらっただけで充分ありがたいです……これ以上の迷惑はかけられません……」
「K-Không ạ, vấn đề không phải ở chỗ đó…… Chị mua giúp tôi thuốc với thạch dinh dưỡng mang đến thế này là tôi đã biết ơn lắm rồi ạ…… Tôi không muốn làm phiền chị thêm nữa……」
「いいから。そんな死にそうな顔で強がらないの。部屋も閉め切って匂いがこもってるじゃない。はい、換気して、栄養摂って、薬飲んで寝る。風邪は引き始めが肝心!」
「Vớ vẩn nào. Cái mặt như sắp chết đến nơi rồi mà còn ở đấy gồng mình mạnh mẽ cái gì hả. Phòng ốc thì đóng chặt cửa để mùi ám hết vào nhau rồi này. Nào, mở cửa thông gió, nạp chất dinh dưỡng vào, uống thuốc rồi đi ngủ ngay cho chị. Chớm bị là phải trị tận gốc ngay!」
誰かに看病されるのは、これが実家を出てから初めてだった。柚城さんの無条件の優しさに触れた瞬間、僕は自分の言語化の限界を知った。ありふれた言葉では命を救ってもらったことへの感謝が言い表せなくて、ぐすっとティッシュを鼻に押し付けた。
Được một ai đó tự tay chăm sóc khi ốm đau, đây là lần đầu tiên tôi được trải nghiệm kể từ khi rời xa vòng tay cha mẹ để lên thành phố sống tự lập. Khoảnh khắc chạm vào lòng tốt vô điều kiện của Yuzuki-san, tôi đã nếm trải giới hạn trong khả năng ngôn ngữ hóa của chính mình. Những câu từ sáo rỗng, tầm thường chẳng thể nào lột tả hết lòng biết ơn sâu sắc đối với người đã cứu mạng mình, tôi chỉ biết sụt sịt, dí chặt chiếc khăn giấy vào mũi để che đi giọt nước mắt.
「ん?……そうだよね。不安だったね。よしよし」
「Hửm? ……Phải rồi nhỉ. Chắc là em đã sợ hãi và bất an lắm đúng không. Ngoan nào, thương thương nhé.」
「別にっ、泣いてないですから……」
「Đâu có đâu ạ, tôi có khóc nhè đâu cơ chứ……」
どうして、僕なんかに優しく、こんなに親切にしてくれたんだろう。
Tại sao, một người như chị ấy lại đối xử dịu dàng, tốt bụng với một đứa như tôi đến thế nhỉ.
ちゃんと思い返せば、出会った当初から面倒見の良い人だった。半ば強引にLINEのQRコードを求められた記憶が蘇る。あの時、連絡先を交換していなかったら……。
社内恋愛禁止という古い風潮の裏で、一歩間違えれば噂の標的にされかねないリスクを冒してまで、彼女は一人暮らしの後輩である大学生に手を伸ばしてくれたのだ。
Nếu nghiêm túc ngẫm nghĩ lại, ngay từ thuở ban đầu mới gặp gỡ, chị ấy đã là một người vô cùng biết cách chăm sóc, lo lắng cho người khác rồi. Ký ức về cái lần chị ấy có phần cưỡng ép đòi trao đổi mã QR LINE chợt ùa về vẹn nguyên trong tâm trí tôi. Nếu như ngày hôm ấy, hai đứa không trao đổi phương thức liên lạc với nhau thì……
Bất chấp cái luật bất thành văn cấm yêu đương công sở đầy cổ hủ, sẵn sàng đối mặt với rủi ro bị biến thành tâm điểm của những lời đồn thổi ác ý từ những người xung quanh, chị ấy vẫn chọn cách dang tay hướng về phía cậu sinh viên đại học đang sống lủi thủi một mình là tôi.
「っ……ありがとうございますっ……」
「Tôi…… Tôi cảm ơn chị nhiều lắm ạ……」
「いいの、いいの、ゆっくり寝てていいからね」
「Ngoan nào, không có gì đâu, em cứ yên tâm nhắm mắt ngủ một giấc thật sâu đi nhé.」
ずっと張り詰めていた緊張の糸が緩んで、意識が飛びそうな眠気に抗えなくなる。柚城さんの優しい微笑が瞼の裏に焼き付いていた。
Sợi dây lý trí vốn luôn căng như dây đàn bấy lâu nay bỗng chốc được nới lỏng, một cơn buồn ngủ ập đến khiến tôi không cách nào cưỡng lại nổi. Nụ cười dịu hiền của Yuzuki-san như in hằn, khắc sâu vào ngay phía sau bản ngã mập mờ sau dung nhan của mí mắt.
この人に恩を返したいと思った。こうして助けてもらったことに負い目を感じても、それが彼女を喜ばせることはない。大人にならなくてはいけないと思った。
Tôi đã thầm tự nhủ bản thân nhất định phải tìm cách báo đáp ơn huệ của người con gái này. Dù cho việc được giúp đỡ thế này có khiến tôi cảm thấy mang nợ và tự ti đi chăng nữa, thì điều đó cũng chẳng thể làm chị ấy vui lòng. Tôi ý thức được rằng, bản thân mình phải mau chóng trưởng thành hơn nữa.
「うん、熱は下がってきたね。まだ顔色は悪いけど」
「Ừm, cơn sốt hạ nhiệt nhiều rồi đấy. Dù sắc mặt trông vẫn còn hơi nhợt nhạt chút xíu.」
「本当にありがとうございました」
「Thực sự tôi cảm ơn chị rất nhiều.」
「一応、病院で検査はした方がいいと思う。大きな病院まで車で連れていってあげるから」
「Chị nghĩ tốt nhất là em vẫn nên đến bệnh viện để làm xét nghiệm, kiểm tra cho chắc ăn. Để chị lái xe chở em đến bệnh viện lớn nhé.」
「……はい、お願いします。ありがとうございます」
「……Dạ vâng, thế thì trăm sự tôi nhờ chị ạ. Tôi cảm ơn chị.」
柚城さんの献身的な看病の結果、その三日後に熱は下がった。その後、スーパーで勤務しているから、一応の検査は受けた方がいいと彼女は主張した。まだ吐き気は残っていたので賛成した。彼女の運転によって病院に到着し、そこで初めて自分が食中毒になっていたことを知った。今回は診断結果があるので処方箋も出してもらった。医療機関による適切な対症療法によって、ついに僕は完治した。
Nhờ vào sự chăm sóc tận tình, chu đáo như một người hộ lý của Yuzuki-san, ba ngày sau trận sốt của tôi đã hoàn toàn lui hẳn. Kế đó, vì lý do tôi đang làm việc tại một siêu thị thực phẩm, chị ấy đã kiên quyết lập luận rằng tôi nên đi kiểm tra y tế một chuyến cho yên tâm. Vì cơn buồn nôn vẫn còn âm ỉ chưa dứt hẳn nên tôi đã gật đầu tán thành. Ngồi trên chiếc xe do chính tay cô ấy cầm lái đến bệnh viện, tại đây, lần đầu tiên tôi mới biết chính xác rằng mình đã bị ngộ độc thực phẩm. Lần này vì đã có kết quả chẩn đoán chính thức từ bác sĩ nên tôi cũng được kê cho một đơn thuốc phù hợp. Trải qua liệu pháp điều trị triệu chứng chuẩn chỉ của cơ quan y tế, cuối cùng căn bệnh của tôi đã được chữa trị tận gốc, khỏi hoàn toàn.
(あれから柚城さんのことが頭から離れない)
(Kể từ dạo ấy, hình bóng của Yuzuki-san cứ lẩn quẩn mãi trong đầu tôi, chẳng thể nào xua đi nổi)
僕に恩を作ったことを後悔させたくない。今も大学では同級生との画力差にコンプレックスを感じる毎日だけど、仕事中や彼女と話す時は明るい人間を演じよう。
Tôi không muốn bản thân phải hối hận vì đã khiến chị ấy phải mang ơn, bận lòng vì mình. Cho dù hiện tại ở trường đại học, ngày ngày tôi vẫn phải nếm trải cảm giác tự ti, mặc cảm trước sự chênh lệch về năng lực hội họa với bạn bè đồng lứa, nhưng khi ở chỗ làm hay những lúc trò chuyện cùng chị ấy, tôi tự nhủ mình phải diễn tròn vai một con người vui vẻ, lạc quan.
ポジティブな雰囲気を作ること、それは未熟な僕にでも出来ることだから。お金や才能がなくても出来るから。
Tạo ra một bầu không khí tích cực, đó là điều mà một đứa còn non nớt, chưa trưởng thành như tôi hoàn toàn có thể làm được. Bởi việc đó chẳng cần phải tốn tiền tài hay đòi hỏi năng lực thiên bẩm gì cao sang cả.
(一歩ずつ変わるんだ。行動するしかないんだ)
(Mình phải thay đổi từng bước một. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc phải hành động thôi)
そう決心して駅前の人気ドーナツ店に足を運んだ。一人で行列に並ぶことは僕にとって勇気がいることだった。
Sau khi hạ quyết tâm như vậy, tôi đã cất bước tìm đến một cửa hàng bánh donut vô cùng nổi tiếng nằm ở trước nhà ga. Việc phải một mình đứng chôn chân vào cái dòng người xếp hàng rồng rắn kia, đối với tôi mà nói, là một thử thách đòi hỏi rất nhiều lòng dũng cảm.
「やっほー。君から会いたいなんて珍しいね。もう体調は良くなった?」
「Hế lô em nhé. Hiếm khi thấy cậu em chủ động hẹn gặp chị trước nha. Sức khỏe đã ổn định hẳn chưa đó?」
「おかげさまで。休日なのにごめんなさい。あの、この前のお礼です。ぜひ受け取ってください」
「Nhờ ơn chị cả ạ. Tôi xin lỗi vì đã làm phiền chị vào ngày nghỉ thế này. À, cái này là quà đáp lễ cho chuyện hôm trước ạ. Xin chị hãy nhận lấy cho tôi vui.」
「えっ、これってフレンチクルーラーだよね。私の大好きなドーナツだよ。本当にありがとう!」
「Ơ, cái này là bánh French Cruller đúng không nè. Món donut khoái khẩu nhất của chị luôn đó. Chị cảm ơn em nhiều nhiều nha!」
至近距離で満面の笑みを浴びる。女の子だらけの行列で居心地の悪い思いをした甲斐があったようだ。
Được chiêm ngưỡng nụ cười rạng rỡ như hoa nở ở cự ly gần đến vậy, xem ra cái giá phải trả cho việc đứng chịu trận, lạc lõng giữa cái hàng dài toàn là con gái kia cũng hoàn toàn xứng đáng.
「じゃあ、僕はこれで」
「Dạ, vậy tôi xin phép xin kiếu ở đây ạ.」
「えっ、待ってよ。一緒に食べよう!」
「Ơ kìa, chờ chút đã nào. Cùng ăn với chị đi chứ!」
僕は固まった。柚城さんは無邪気に微笑んでいた。
Tôi đứng hình mất vài giây. Yuzuki-san thì vẫn đang nở một nụ cười vô tư lự, hồn nhiên.
「誰かに見つかっちゃいますよ?」
「Nhỡ có ai nhìn thấy thì sao chị ơi?」
「うーん……でも、この量を一人で食べるのは流石にカロリーが。じゃあ分かった。私の家で一緒に食べよう!」
「Ừm…… Nhưng mà một mình chị xử lý hết cái đống này thì lượng calo nạp vào cơ thể thật sự là đáng báo động luôn á. Thôi quyết định thế này đi. Sang nhà chị rồi hai đứa mình cùng ăn nhé!」
その提案は素直に心がぐらついた。
看病の一環とはいえ、僕の部屋に上げたこともある。三歳歳上で僕より人生経験を積んでいる柚城さんに男女の距離感を説くなんて、それはそれで恩知らずな気がした。
Lời đề nghị đó thẳng thừng khiến trái tim tôi bị lung lay dữ dội.
Dẫu biết rằng đó là một phần của việc chăm sóc người ốm, nhưng tôi cũng từng rước chị ấy vào phòng riêng của mình rồi. Giờ lại đi lên mặt dạy đời, ra rả đạo lý về khoảng cách nam nữ với một người lớn hơn mình ba tuổi và có trải nghiệm cuộc sống phong phú hơn như Yuzuki-san, thì có vẻ như thế lại là một hành vi vô ơn, bất kính.
「……そうですね。正直に言うと、僕もドーナツ食べたかったんですよ」
「……Dạ vâng, thế cũng được ạ. Nói thật lòng thì tự dưng tôi cũng thấy thèm ăn bánh donut quá chừng luôn.」
「正直でよろしい。よし、じゃあ出発だね!」
「Thành thật như thế có phải ngoan không. Được rồi, xuất phát thôi nào!」
それから連絡を頻繁に取り合うようになった。彼女の家で宅飲みに付き合うようにもなった。僕が飲むのは烏龍茶だったけど。ミラーリングというのだろうか。彼女がグラスを傾けるタイミングで烏龍茶を飲むと、僕まで浮ついた気分になった。お互いの恋愛に対する価値観や、孤独な夜の凌ぎ方、一人暮らしでの防犯対策など、職場では語りづらい真面目な話をするようになった。
Kể từ đó, tần suất nhắn tin, liên lạc qua lại giữa hai đứa chúng tôi trở nên dày đặc hơn hẳn. Tôi cũng bắt đầu thường xuyên ghé qua nhà chị ấy để góp vui vào những buổi nhậu tại gia (Takunomi). Dù thứ nước tôi uống chỉ độc mỗi trà Ô Long mà thôi. Người ta gọi đó là hiệu ứng phản chiếu (mirroring) thì phải? Cứ mỗi lần nhìn chị ấy nghiêng chiếc ly thưởng rượu rồi tôi lại nâng ly trà Ô Long của mình lên nếm thử, tự dưng trong lòng tôi cũng dâng lên một cảm giác lâng lâng, bay bổng y như kẻ say vậy. Chúng tôi bắt đầu thảo luận, tâm sự với nhau về những chủ đề vô cùng nghiêm túc mà khó lòng có thể hé răng chia sẻ ở nơi làm việc, chẳng hạn như thế giới quan về tình yêu của đôi bên, cách thức chống chọi và vượt qua những đêm dài cô đơn lủi thủi, hay cả những biện pháp phòng chống tội phạm, bảo vệ an toàn khi sống một mình nữa.
そして11月の下旬。長岡に引っ越してきて、初めての豪雪が降ってきた。一日で銀世界を作り出す天候を初雪とは呼ばない。僕は冬の備えを充分にしていなかった。長靴を買いに行くために長靴が必要になる環境だった。結局、柚城さんがホームセンターまで車を運転してくれた。
Và rồi vào cuối tháng Mười một. Trận bão tuyết dữ dội đầu tiên kể từ khi tôi chuyển đến Nagaoka đã đổ ập xuống. Cái kiểu thời tiết có thể kiến tạo nên một thế giới bạc trắng xóa chỉ trong vòng một ngày thì người ta không gọi đó là tuyết đầu mùa (sơ tuyết) nữa rồi. Tôi đã không chuẩn bị đầy đủ các nhu yếu phẩm để phòng chống mùa đông. Nơi đây rơi vào cái hoàn cảnh oái oăm là: bạn cần phải có một đôi ủng lội tuyết thì mới có thể đi ra ngoài mua ủng lội tuyết được. Cuối cùng, Yuzuki-san lại là người lái xe đưa tôi đến cửa hàng đồ gia dụng (home center).
「今日、話せる?」
「Hôm nay, chị em mình trò chuyện một chút được không?」
「大丈夫ですよ、どこで話しますか?」
「Dạ được chứ ạ, mình nói chuyện ở đâu vậy chị?」
「じゃあ仕事が終わった後、屋上駐車場で待ち合わせね」
「Thế thì sau khi tan ca, hẹn gặp nhau ở bãi đỗ xe trên tầng thượng nhé.」
長岡の積雪に翻弄されていると、あっという間にクリスマスを意識する時期になった。柚城さんは、僕が冬の怖さを実感するのを待っていたのだろう。仕事終わりに話したいことがあるとの連絡が入った。静かに雪が降る屋上の駐車場で傘を握り直してると、遠くから駆け寄ってくる彼女の姿が見えた。その微笑ましさに口元を綻ばせた。
Trong lúc còn đang bị bủa vây, xoay như chong chóng trước cảnh tượng tuyết tích tụ dày đặc ở Nagaoka, thì thoắt một cái, bầu không khí đã chuyển sang giai đoạn khiến người ta phải ý thức về mùa Giáng sinh cận kề. Có lẽ Yuzuki-san đã kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi tôi tự mình thấu hiểu và trải nghiệm được sự đáng sợ của mùa đông. Chị ấy gửi tin nhắn nói rằng có chuyện muốn nói sau giờ làm việc. Giữa bãi đỗ xe trên tầng thượng, nơi những bông tuyết đang lặng lẽ rơi rơi, tôi siết chặt lại cán chiếc ô trong tay, từ đằng xa đã nhìn thấy dáng vẻ chị ấy đang rảo bước chạy lại gần. Dáng điệu đáng yêu ấy khiến khóe miệng tôi bất giác nở một nụ cười ấm áp.
「ごめん、かなり待たせちゃったよね?」
「Chị xin lỗi nhé, bắt em phải chờ lâu rồi đúng không?」
「いえ、雪を眺めるのも好きなんだと気付きました」
「Không sao đâu ạ, em vừa nhận ra là mình cũng khá thích ngắm nhìn tuyết rơi đấy chứ.」
はぁはぁと肩で息をする柚城さん。傘もささずに走ってきたので、彼女の長い黒髪やコートの肩口には雪が積もっていた。するっと自分の傘を差し出す。この時間帯の屋上駐車場には誰もいない。相合い傘も恥ずかしくない。
Yuzuki-san vừa thở hổn hển vừa phập phồng lồng ngực. Vì mải chạy lại đây mà không thèm che ô nên trên mái tóc đen dài cùng bờ vai chiếc áo khoác của chị ấy đã bị tuyết phủ một lớp trắng xóa. Tôi nhẹ nhàng chìa chiếc ô của mình ra để che cho cả hai. Vào khung giờ này, bãi đỗ xe trên tầng thượng vắng tanh không một bóng người. Việc hai đứa che chung một mái ô cũng chẳng có gì phải ngại ngùng, xấu hổ cả.
「そう言ってくれるなら良かったぁ……なんか、雪が降るのは"ぽすぽす"って感じだね」
「Em nói vậy thì chị nhẹ lòng hẳn rồi…… Mà này, cảm giác tuyết rơi cứ như tiếng 'rào rào' êm ái xốp xốp ý em nhỉ.」
「そうですね。これが雨だったら……」
「Vâng, đúng vậy ạ. Nếu đây mà là mưa thì……」
「「ぽつぽつ」」
「「Sẽ là "Potsu Potsu".」」
二人分の声が重なり、小さな傘の下で笑いが溢れた。
Giọng nói của cả hai đứa đồng thanh vang lên cùng một lúc, những tiếng cười khúc khích lập tức tràn ngập dưới mái ô.
「ふふっ、やっぱり気が合うね!」
「Hì hì, quả nhiên là hai đứa mình hợp rơ nhau ghê ta!」
「あははっ、そうですね」
「A ha ha, vâng ạ.」
「ふぅ……それで、君を呼び出した理由なんだけどね」
「Phù…… Thế này nhé, lý do mà chị gọi em ra đây thực ra là……」
すぅっと深呼吸して、柚城さんが口を開く。
Hít một hơi thật sâu để lấy lại bình tĩnh, Yuzuki-san mới ngập ngừng mở lời.
「一人で死ぬのは怖いから、私の彼氏になってよ」
「Vì chị sợ chết một mình nên hãy làm bạn trai chị nhé」
少しだけ、彼女の声は震えていた。
Giọng nói của chị ấy có phần hơi run rẩy một chút.
「……嬉しいです。冗談ではないですよね?」
「……Tôi rất vui ạ. Chị không phải đang nói đùa với tôi đấy chứ?」
「ふふっ、君はこういう告白の方が好きかなと思ったの」
「Hì hì, chị cứ nghĩ là em sẽ thích kiểu tỏ tình mang sắc thái như thế này hơn chứ.」
少しだけ、僕の声も上擦っていた。看病といい、告白といい、どこか受け身になってしまう自分を情けないと思っているのが本音だった。でも今だけは、息を飲んで返事を待つ彼女に愛と勇気を返すべきだと思った。
Giọng nói của tôi lúc đó cũng có phần hơi nghẹn lại, run lên một chút. Thú thật từ tận đáy lòng, tôi cảm thấy bản thân mình có phần hơi thảm hại khi cứ luôn ở thế bị động, từ chuyện được chăm sóc khi ốm đau cho đến cả chuyện được tỏ tình thế này. Thế nhưng ngay vào khoảnh khắc này, tôi nghĩ mình cần phải đáp lại bằng tình yêu và lòng dũng cảm đối với người con gái đang nín thở chờ đợi câu trả lời từ tôi.
「いいですよ、付き合いましょう」
「Được thôi ạ, mình hẹn hò đi.」
この日から、命の恩人が恋人になった。
Kể từ ngày hôm đó, người ân nhân cứu mạng đã chính thức trở thành người yêu của tôi.
正直、どんな告白でも答えは決まっていた。返事一つで彼女の願いを叶えられるのだから。くだらない負い目で、恩人の気持ちを踏み躙るつもりは毛頭なかった。
Nói một cách thành thật thì, dẫu cho câu tỏ tình có mang hình hài ra sao đi chăng nữa, câu trả lời của tôi vốn dĩ đã được định đoạt từ trước rồi. Bởi lẽ chỉ cần một cái gật đầu là tôi đã có thể hiện thực hóa nguyện vọng của chị ấy. Tôi tuyệt đối không bao giờ muốn dùng cái sự tự ti, mặc cảm tầm thường của bản thân để chà đạp lên tâm tư, tình cảm của người ân nhân đã cứu giúp mình.
僕は例外的に無条件の愛で救われたのだ。その事実を素直に認めて、柚城さんのような大人になりたいと思った。
Tôi là một trường hợp ngoại lệ được cứu rỗi. Tôi muốn thẳng thắn thừa nhận sự thật đó, và nỗ lực để trở thành một người lớn chín chắn, trưởng thành giống như Yuzuki-san vậy.




