表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
グラデーション(Thứ bậc màu sắc)  作者: ふくマカロニ
あなたの国で雪は降らない
PR
21/27

ハロウィンと赤信号

 10月31日になった。世間がハロウィンの狂騒に沸き立っていても、僕はトリックもトリートもない退屈な夜を迎えそうだ。昨日に続いて、今日も17時からの出勤である。真面目に働くから甘いお菓子をください。

 Đã là ngày 31 tháng Mười. Hôm nay là Halloween, nhưng có vẻ như tôi sắp phải đón một đêm tối tẻ nhạt mà chẳng có trò "Trick or Treat" (Cho kẹo hay bị ghẹo) nào cả. Ca làm việc hôm nay của tôi bắt đầu từ 17 giờ. Tôi sẽ làm việc thật chăm chỉ, nên xin hãy ban cho tôi chút kẹo ngọt đi mà.


「はぁ、モチベーションが迷子だ」

「Hầy, động lực của mình đi lạc đâu mất rồi.」


 寿司職人の朝は早い。寿司バイトの朝は遅い。

 Buổi sáng của những người thợ làm sushi luôn bắt đầu từ sớm. Còn buổi sáng của những kẻ làm thêm quán sushi thì lại bắt đầu thật muộn màng.

 

 お昼の12時過ぎ。僕はジャムを塗った食パンを齧りながら溜息を吐いた。朝食と昼食の一体化である。ベッドの上に放置したノートパソコンを横目で眺めた。

 Đã hơn 12 giờ trưa. Tôi vừa gặm miếng bánh mì gối phết mứt vừa khẽ thở dài. Đây chính là sự hợp nhất giữa bữa sáng và bữa trưa. Tôi liếc mắt nhìn chiếc máy tính xách tay đang bị bỏ mặc nằm chỏng chơ trên giường.


「どうしたものかな」

「Biết phải làm sao bây giờ nhỉ.」

 

 最近、自宅で小説を書くことにも上手く向き合えないでいる。普段の僕はノートパソコンを机に置いて、そのキーボードで執筆している。僕の机は一人暮らし相応の手狭なサイズで、最近は整理整頓できていない。だからご飯を食べるたびに、執筆中の画面を閉じてベッドの上にパソコンをどけなくてはいけない。そうすると、また画面を開くのが億劫になってしまう。まるで机の上の狭さが余裕の無さに直結しているようだった。

 Dạo gần đây, ngay cả việc đối diện với chuyện viết tiểu thuyết ở nhà tôi cũng chẳng thể làm cho ra hồn. Bình thường, tôi hay đặt laptop trên bàn và gõ phím để sáng tác. Cái bàn làm việc của tôi có kích thước khá eo hẹp, vừa vặn với một cuộc sống độc thân, và gần đây thì nó chẳng được thu xếp gọn gàng cho lắm. Bởi vậy, cứ mỗi lần ăn cơm, tôi lại phải đóng cái màn hình đang viết dở lại rồi vứt chiếc máy tính ra phía giường để lấy chỗ. Chính điều đó đã khiến tôi trở nên lười biếng và ngại mở lại màn hình lần nữa. Cứ như thể cái sự chật chội trên mặt bàn đang trực tiếp trói buộc, làm mất đi sự thảnh thơi trong tâm hồn tôi vậy.


「もう満たされちゃったのかな」

「Hay là do bản thân mình đã được lấp đầy mất rồi nhỉ?」


 僕は創作に必要なのは飢えだと考えている。余裕ではなく、なりふり構わない飢えが大切なのだ。自分の理想を追うことでしか生きられない獣になりたい。

 Tôi luôn nghĩ rằng điều cần thiết cho việc sáng tạo nghệ thuật chính là "sự đói khát". Thứ quan trọng không phải là sự thảnh thơi, dư dả, mà là một sự khao khát đến điên cuồng, bất chấp tất cả. Tôi muốn trở thành một con thú chỉ có thể tồn tại bằng cách điên cuồng theo đuổi lý tưởng của chính mình.

 

 今の僕は気高い飢えの衝動を持つ獣からは程遠い存在の怠け者である。自堕落なフリーターでも楽に生きてしまっている。とば寿司でのバイトが居心地良いから、その立場に甘んじてしまっている。自立するという生存戦略の観点では悪くなくとも、小説家という道からは確かに遠ざかっている。満ち足りている環境からは剥き出しの言葉は生まれないからだ。とば寿司という居場所で飼い慣らされて、自分の牙が丸くなっていくような焦燥感が心に巣食っている。

 Thế nhưng tôi của hiện tại lại là một kẻ lười biếng, cách quá xa hình ảnh một con thú mang trong mình sự thôi thúc đói khát cao quý ấy. Một kẻ làm tự do (freeter) sa đọa nhưng vẫn đang được sống một cuộc đời quá đỗi nhàn nhã, dễ dàng. Chính vì công việc làm thêm ở Toba Sushi quá đỗi thoải mái, dễ chịu, nên tôi đã vô tình nuông chiều bản thân và cam chịu bằng lòng với vị trí ấy. Đứng dưới góc nhìn của một chiến lược sinh tồn để tự lập thì điều này chẳng có gì xấu, nhưng xét dưới góc độ của một con đường trở thành tiểu thuyết gia, rõ ràng tôi đang ngày một rời xa nó.


「今は相変わらず、バイト中の雰囲気もピリついているけどね。今日は二人のシフトが被っていないから大丈夫だけど」

「Bây giờ không khí lúc làm việc giữa hai người họ vẫn cứ căng như dây đàn ý. Hôm nay được cái hai đứa không bị trùng lịch (shift) nên còn đỡ.」


 あれから四日が経って、木澤くんと片桐さんの仲は険悪なままだ。もう一人の当事者の成田くんは地味に空気が読める。高校生の彼が年上の片桐さんに表立って生意気に反発することはないので、彼女からの過剰な敵意を集めることは回避できているようだったが。

 Bốn ngày đã trôi qua kể từ bận đó, mối quan hệ giữa Kizawa và em Katagiri vẫn đóng băng trong tình trạng hiểm ác. Cái cậu nhóc cấp ba Narita – một trong hai đương sự gây chuyện – thì lại khá là biết điều và biết nhìn sắc mặt người khác. Cậu ta không dại gì ra mặt bật lại hay tỏ thái độ xấc xược với người lớn tuổi hơn như em Katagiri, nhờ thế mà xem ra đã né được việc hứng chịu hỏa lực thù địch quá đà từ em ấy.

 

 もう一人の問題児、木澤くんの方が面倒だ。彼のドタキャンが発端なので素直に謝罪すればいいと思うが、我が道を進むタイプの若者に真摯な謝罪は難しいようだった。

 Cái ca khó đỡ hơn lại nằm ở phần của thanh niên rắc rối còn lại: Kizawa. Vì vụ bùng kèo của cậu ta là nguồn cơn của mọi chuyện, nên tôi nghĩ chỉ cần cậu ta biết điều mà hạ mình xin lỗi một câu thành khẩn là xong. Thế nhưng, đối với một bộ phận người trẻ thuộc tuýp thích 'mình thích thì mình làm thôi như cậu ta, việc đưa ra một lời xin lỗi chân thành xem ra lại là một nhiệm vụ bất khả thi.

 

 その結果、片桐さんは露骨に木澤くんと被るシフトを減らした。11月のシフトが事務所に貼り出されていた。もう来月からは木澤くんが休んでいる木曜日しか出勤しないようだ。これから大半の平日のラストは僕と木澤くんで回していくことになる。とばっちりでしかない。

 Hệ quả là, em Katagiri đã có động thái phản kháng rõ rệt bằng cách cắt giảm không nương tay những ca làm việc bị trùng với Kizawa. Lịch làm việc của tháng Mười một đã được dán lên văn phòng. Nhìn vào đó thì có vẻ từ tháng sau, em ấy sẽ chỉ đi làm vào ngày thứ Năm – ngày mà Kizawa xin nghỉ ca. Điều này đồng nghĩa với việc, phần lớn các ca đóng cửa (last) vào ngày thường từ nay về sau sẽ do tôi và Kizawa hai mình thầu hết.

 

 それでも休日は人手が足りないので、店長直々の頼みによってベテラン従業員が集結することになる。土日のフロアは木澤くんと片桐さんが一緒に仕事せざるを得ない。休憩を回す時やラストの時間など、明確に二人の空気がピリつくことが予想できる。昨日のシフトも一触即発の空気でヒヤヒヤした。

 Dẫu vậy, vào những ngày nghỉ cuối tuần thì tình trạng thiếu thốn nhân sự vẫn diễn ra, nên dưới sự nhờ vả trực tiếp của quản lý, các nhân viên kỳ cựu buộc phải tập hợp lại đông đủ. Điều đó có nghĩa là vào hai ngày Thứ bảy và Chủ nhật ngoài sảnh, Kizawa và em Katagiri sẽ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, bắt buộc phải chạm mặt và làm việc cùng nhau. Chỉ cần nghĩ đến những lúc xoay vòng nghỉ ca hay khung giờ chốt ca cuối ngày thôi, tôi đã hoàn toàn có thể mường tượng ra cái bầu không khí nồng nặc mùi thuốc súng giữa hai con người này rồi. Ngay như ngày hôm qua thôi, bầu không khí giữa họ đã ở trạng thái một mồi lửa là nổ tung rồi chứ chẳng chơi.

 

 職場の協調性を重んじる大人としては胃が痛いが、若者の自主性を尊重する大人としては、これも彼らの勉強として大切な経験だろうと客観的な目線に立ってしまう。

 Đứng dưới góc độ của một người trưởng thành coi trọng tinh thần hòa đồng tập thể tại nơi làm việc, tôi thấy vô cùng đau đầu nhức óc. Thế nhưng, dưới lăng kính của một người lớn tôn trọng quyền tự chủ của giới trẻ, tôi lại bật chế độ khách quan mà tự nhủ rằng: biết đâu đây lại là một bài học, một trải nghiệm xương máu cần thiết để tụi nhỏ trưởng thành hơn.

 

 僕がパパッと問題を解決できたなら、それはまるで素敵な職場の先輩だろう。ただ本音を言うと、そもそも当事者が解決すべき問題に主人公として関わりたくない。主人公の立ち位置を横取りしてはいけない。

 Nếu lúc này tôi đứng ra giải quyết êm đẹp được mâu thuẫn này thì có phải trông sẽ ra dáng một ông tiền bối tuyệt vời trong mắt mọi người không cơ chứ. Thế nhưng nói thật lòng từ tận đáy lòng, tôi chẳng dại gì mà nhảy vào đóng vai nhân vật chính để giải quyết cái mớ bòng bong vốn thuộc về trách nhiệm của hai kẻ trong cuộc kia. Tôi không việc gì phải đi cướp đất diễn (giật spotlight) của nhân vật chính cả.

 

 ただ、二人とも意固地になっている。今の重い雰囲気はドタキャンからの惰性で生じているようなものだ。それに振り回されるのは良い気分ではない。今のフロアの歪さは厨房にも伝わっているようで、たまに大丈夫なのかと厨房の従業員に尋ねられる。僕をドアスコープの代用にしないでほしい。全く大丈夫じゃない。

 面白いことにベトナム人の方が日本人よりも察しが良いようだった。いや、全く面白くない。

 Ngặt một nỗi, cả hai đứa tụi nó đều quá cứng đầu và bảo thủ. Cái bầu không khí u ám, nặng nề hiện tại chẳng qua là hệ lụy kéo dài từ dư chấn của vụ bùng kèo ngày hôm đó mà thôi. Phải làm việc trong một môi trường méo mó, độc hại như thế này thực sự chẳng dễ chịu chút nào. Sự lệch lạc của khu vực ngoài sảnh dường như đã đánh động đến cả khu vực dưới bếp, thi thoảng mấy người làm bếp lại chạy ra hỏi tôi xem tình hình có ổn không. Làm ơn đi, đừng có biến tôi thành cái 'mắt thần cửa phòng' (kính nhìn qua cửa) để hóng hớt drama như thế chứ. Không ổn một chút nào hết.

 Một điều khá nực cười là mấy bạn người Việt Nam lại có vẻ nhạy bén, biết quan sát và đánh hơi thấy sự bất thường nhanh hơn cả người Nhật. À mà thôi, chẳng có gì nực cười ở đây cả, mệt mỏi chết đi được.


「ウーさん、ハッピーハロウィーン!」

「Chị Ước ơi, Happy Halloween nha!」


 僕が守りたいのは彼女の笑顔だけだ。微かな現実逃避も兼ねて、この日ならではの陽気なメッセージを送信した。

 ウーさんの返信は早かった。

 Thứ duy nhất mà tôi muốn bảo vệ chính là nụ cười của cô gái ấy. Vừa để tự thưởng cho mình một chút trốn tránh thực tại, tôi đã gửi đi một dòng tin nhắn tràn đầy sự vui tươi đúng chất của ngày lễ này.

 Chị Ước phản hồi lại rất nhanh.

 

「ハッピーハロウィーン、どこか行く?バイト?」

「Happy Halloween em nha, hôm nay có đi đâu chơi không? Hay lại làm thêm?」

 

「どこにも行けないよ……バイトだから」

「Tôi chẳng đi đâu được hết chị ơi…… vì bận làm thêm rồi mà.」

 

「あら残念、頑張ってるね。昨日もバイトだったのに」

「Ủa tiếc ghê ta, chăm chỉ quá nè. Hôm qua cũng vừa làm thêm xong mà.」


 泣いている猫の絵文字が目に入る。

 昨夜はハロウィン前日というのに多忙だった。ウーさんが休憩中にベトナムのお菓子をくれたことが唯一の癒しだった。ドリアンケーキという不思議な味のお菓子だった。

 Đập vào mắt tôi là một chiếc biểu tượng cảm xúc chú mèo đang khóc mếu.

 Đêm qua, dù là ngày sát Halloween nhưng quán lại bận tối tăm mặt mũi. Sự an ủi duy nhất đối với tôi là việc chị Ước đã tặng cho tôi một món bánh ngọt Việt Nam vào giờ giải lao. Đó là một loại bánh có hương vị vô cùng kỳ lạ – bánh sầu riêng.

 

「昨日はすごく大変だったよね。ウーさんがくれたケーキのおかげで元気が出たよ」

「Hôm qua thực sự là mệt kinh khủng khiếp chị nhỉ. Nhưng nhờ có miếng bánh chị cho mà tôi lại hồi phục năng lượng liền đấy ạ.」

 

「遅くまで仕事してたね。私も大変だった。すごく頑張ってたよね。私たちww」

「Hôm qua làm muộn trễ tràng luôn á. Chị cũng mệt rũ rượi luôn. Hai đứa mình đã siêu siêu cố gắng rồi đúng không nè ww」

 

「うん、頑張ったプレゼントが欲しい気分だよ」

「Vâng ạ, tự dưng giờ tôi thèm có một món quà phần thưởng cho sự cố gắng đó quá đi.」

 

「そうね、プレゼントあったらいいのに」

「Chuẩn luôn, ước gì có quà tặng thì tốt biết mấy nhỉ.」


 ウーさんからフロアの気まずい雰囲気を言及されたことはない。気付いた上で触れないのか。何も気付いていないのか。どっちにしろ、僕にとっては避難所だった。

 Chị Ước chưa từng mảy may đề cập đến cái bầu không khí gượng gạo, căng thẳng ngoài sảnh. Chị đã nhận ra nhưng tinh ý không chạm vào? Hay là chị hoàn toàn không hay biết gì thật? Nhưng dù là vế nào đi chăng nữa, đối với tôi, nơi đây chính là một trạm trú ẩn bình yên.


「お休みが最高のプレゼントだね。今日、ウーさんは遊びに行く?」

「Được nghỉ ngơi chính là món quà tuyệt vời nhất rồi chị ạ. Hôm nay chị Ước có đi chơi đâu không?」

 

「うん、でもカフェだけ。ああ、今はスタバにいるよ。きやわさんに会った」

「Có chứ, nhưng chị chỉ đi cà phê thôi. À, hiện tại chị đang ngồi ở Starbucks này. Chị vừa bắt gặp Kiyawa-san đấy.」

 

「きざわさんかな」

「Chắc là Kizawa-san đúng không chị.」

 

「ああ、きざわか。ごめんね、知らなかったww」

「À, là Kizawa hả. Chị xin lỗi nha, tại chị không biết rõ ý ww」

 

「ほとんど合ってる!偉い!ww」

「Nhưng mà chị nói đúng gần hết rồi còn gì! Chị giỏi lắm luôn ý! ww」


 ウーさんに名前を間違えられ続ける木澤くんの姿というのも見てみたかったが、彼女の悪気ない間違いを放置し続けるのも嫌だった。この過保護ともいえる対応の違いが、彼女とそれ以外の間に僕が引いた一線なのだろう。

 Kể ra thì việc đứng nhìn Kizawa liên tục bị gọi sai tên như thế cũng là một thú vui đáng để thưởng thức, nhưng tôi lại không muốn tiếp tục để mặc cho cái sự nhầm lẫn vô tội của chị kéo dài mãi. Cái cách ứng xử có phần chiều chuộng, bao bọc quá mức này có lẽ chính là ranh giới (vạch kẻ) mà tôi đã tự ngầm định giữa chị và những người còn lại.


「スタバで何を飲んだの?」

「Chị uống món gì ở Starbucks thế?」

 

「カラメル、抹茶ラテも美味しいよ」

「Caramel, với cả Matcha Latte cũng ngon lắm đó em.」

 

「カラメルは甘いよね。抹茶ラテは飲んだことないな」

「Caramel thì ngọt lịm luôn chị nhỉ. Còn Matcha Latte thì tôi chưa uống thử bao giờ.」

 

「hmm」

「hmm」


 このスラングは知っている。少し悩んでいる時に使う表現だ。僕は急いで返信するのではなく、追加のメッセージを待つことにした。外国人と日本語で話す時は、こういった時間の余らせ方が重要だと思う。相手が話を噛み砕く猶予を作っておくのだ。

 Tôi biết từ lóng (slang) này. Đây là biểu hiện khi người ta đang có chút đắn đo, suy nghĩ. Tôi không vội vàng rep lại ngay lập tức mà quyết định kiên nhẫn chờ đợi tin nhắn tiếp theo từ chị. Khi trò chuyện bằng tiếng Nhật với người nước ngoài, tôi nghĩ việc tạo ra những khoảng lặng, kéo dài thời gian như thế này là vô cùng quan trọng. Nó sẽ tạo ra một khoảng dư dả để đối phương có thể từ từ gặm nhấm và thấu hiểu câu chữ.


「そうか、難しいなぁ。あなたはTullyという店知ってる?」

「Thế hả, khó chọn ghê ta. Thế em có biết quán tên là Tully không?」


 何となく伝わった。これはタリーズのことだろう。

 Bằng cách nào đó, tôi đã hiểu ra ngay. Cái này chắc chắn là muốn nói đến quán rùa đen (Tully's Coffee) rồi.

 

「コーヒーの店だっけ?まだ行ったことない」

「Có phải quán cà phê không chị? Tôi chưa từng đến đó bao giờ.」

 

「ハニーミルクラテという美味しいラテがあるよ。大好き」

「Ở đấy có món Honey Milk Latte ngon xuất sắc luôn á. Chị mê mẩn món đó cực.」


 最近は素直な願望を言葉にできるようになった。

 Dạo gần đây, tôi đã bắt đầu biết cách cụ thể hóa những mong muốn thuần túy của mình thành lời nói.

 

「いつか飲んでみたい」

「Tôi cũng muốn uống thử một lần xem sao.」

 

「オケ、一緒に行こうww」

「Ok, hôm nào hai đứa mình đi chung đi ww」

 

「やったぁ、すごい嬉しい!」

「Oa tuyệt quá, tôi vui cực kỳ luôn ý!」

 

「いつか行けるとメッセージする。11月何曜日休み?」

「Hôm nào đi được chị sẽ nhắn tin nha. Tháng 11 em được nghỉ vào thứ mấy?」


 怒涛の勢いで予定をすり合わせていく。こういう決断のスピードは、僕と彼女の気が合うところの一つだ。

 Chị dồn dập chốt lịch trình với một tốc độ đáng kinh ngạc. Cái sự nhanh gọn lẹ trong khâu đưa ra quyết định này chính là một trong những điểm chung cực kỳ hợp cạ giữa tôi và chị ấy.

 

 (えっと、来月の休みは金曜日だから……この日で提案してみようかな。ウーさんとカフェに行くの楽しみだな)

 (Xem nào, lịch nghỉ tháng sau của mình là vào ngày thứ Sáu…… Hay là mình thử đề xuất ngày này xem sao nhỉ. Nghĩ đến cảnh được đi cà phê với chị Ước là thấy háo hức quá đi mất.)


 こうして、甘いお菓子のような約束を手に入れた。

 Cứ như vậy, tôi đã tự tay mang về cho mình một lời hứa hẹn ngọt ngào tựa như những viên kẹo vậy.


ーーー


 ハロウィンの深夜22時。

 ウーさんと遊びに行く予定が立ったからか。僕の気分は軽く、今夜のラストも順調だった。フロアのイタズラっ子ならぬ、フロアの問題児が話しかけてくる。

 22 giờ đêm Halloween.

 Chắc là nhờ việc đã chốt được cái hẹn đi chơi với chị Ước, nên tâm trạng của tôi nhẹ bẫm, ca đóng cửa (last) đêm nay cũng diễn ra vô cùng suôn sẻ. Cái đứa không phải "đứa trẻ tinh nghịch" mà là "đứa em rắc rối" ngoài sảnh lân la lại gần bắt chuyện với tôi.


「今日、駅前のスタバ行ったらさ。ウーさんに会ったわ」

「Hôm nay lúc ra quán Starbucks trước ga ý, em bắt gặp chị Ước ở đấy đấy.」

 

「そうらしいね。リアルタイムで本人から聞いたよ」

「Tôi biết rồi. Chính chủ vừa báo cho tôi theo thời gian thực (real-time) luôn mà.」

 

「マジかよ、ウケるな」

「Thật á, hài hước ghê ta.」


 木澤くんがボールペンをくるっと回す。最近の彼は美容師を目指して、柏の美容師専門学校に通っている。そこで新たな出会いも探しているらしい。だからスタバで偶然にウーさんと遭遇したと聞かされても、特に動揺はしなかった。

 Kizawa xoay xoay chiếc bút bi trong tay. Dạo gần đây, cậu ta đang theo học tại một trường chuyên môn về tóc ở Kashiwa với mục tiêu trở thành thợ cắt tóc. Nghe đâu cậu ta cũng đang muốn tìm kiếm những mối quan hệ mới ở đó. Chính vì thế, khi nghe cậu ta kể về việc tình cờ chạm trán dưới quán Starbucks, tôi cũng chẳng có chút dao động nào.


「最近どうなの、同じクラスの可愛い子とは。まずは連絡先を交換するって言ってたよね?」

「Thế dạo này thế nào rồi, với cái em xinh xắn cùng lớp ý? Hồi trước chú mày chẳng bảo là bước đầu tiên phải xin cho bằng được phương thức liên lạc còn gì?」

 

「いや、たぶん彼氏持ちだわ。せっかくLINEを交換したのに、ホーム画面の壁紙に彼氏っぽい男が映ってた」

「Thôi toang rồi anh ơi, chắc em ý có bạn trai rồi. Rõ cất công xin được cái LINE, thế mà ảnh nền màn hình chờ lại chình ình một ông trông y như người yêu ý.」


 木澤くんが分かりやすく落ち込んでいる。そんな彼の肩を軽く叩いた。

 Kizawa lộ rõ vẻ mặt ủ rũ, thất vọng thấy rõ. Tôi khẽ vỗ nhẹ vào vai cậu ta động viên.

 

「ふふっ、どんまい」

「Phù, thôi không sao, đen thôi đỏ quên đi.」

 

「やってらんないぜ、マジで彼女欲しいわ。先輩って合コンとかセッティングできないの?」

「Chán chẳng buồn nói, vã quá rồi, em thực sự muốn có bồ lắm rồi đây này. Tiền bối không kết nối (set up) hộ em một buổi xem mắt tập thể (goukon) nào được à?」


 僕は首を横に振った。厨房に声が届く距離で変なことを言わないで欲しい。今日はウーさんがいなくとも、狭い職場では変な噂が回り切るのも早いのだ。

 Tôi lắc đầu lia lịa. Cái khoảng cách này thì dưới bếp hoàn toàn có thể nghe mồn một, làm ơn đừng có nói mấy lời kỳ quặc như thế chứ. Dù hôm nay chị Ước không có ca làm, nhưng ở cái nơi làm việc chật hẹp này thì tin đồn nhảm luôn có đôi cánh bay xa.

 

「基本的に無理だよ。どうやって女の子を集めるのさ」

「Về cơ bản là bất khả thi nhé. Tôi biết gom đâu ra con gái cho chú bây giờ.」

 

「あぁ、悪い。もし合コンをセッティングできるなら、とっくに先輩も彼女作ってるよな」

「À em quên mất, lỗi em. Nếu mà set up được mấy vụ đó thì có khi tiền bối đã thoát ế, có người yêu từ tám hoánh nào rồi chứ nhỉ.」

 

「もしセッティングするとしても、木澤くんは出禁だよ。だってドタキャンしそうだから」

「Mà cho dù tôi có set up thật đi chăng nữa thì Kizawa cũng bị cấm cửa ban đầu tiên nhé. Vì cái loại chú mày kiểu gì cũng bùng kèo phút chót cho mà xem.」

 

「その話はやめろって、俺が確かに悪いんだけどさ」

「Thôi xin anh đừng khui lại chuyện đó nữa mà, em biết lần này em sai rành rành ra rồi.」


 男同士の雰囲気は不思議だ。お互いの欠点を気軽に刺し合える。僕らは顔を見合わせて笑い合った。

 Bầu không khí giữa những gã đàn ông với nhau luôn có một sự vi diệu như thế. Chúng tôi có thể thản nhiên cà khía, xát muối vào những khuyết điểm của đối phương mà không hề câu nệ. Hai đứa nhìn nhau rồi bật cười ha hả.


「先輩ってドタキャンしなそうだよな。なんて言うか、大人っぽすぎる。俺らって本当に二歳差だよな?」

「Nhìn tiền bối kiểu như không bao giờ biết bùng kèo là gì ý nhỉ. Nói thế nào ta, trông anh cứ bị chín chắn trưởng thành quá mức ý. Hai đứa mình thực sự chỉ cách nhau có hai tuổi thôi á?」

 

「それは環境の違いじゃないの。僕は新潟の雪の中で一人暮らしを続けていたんだ。ちゃんとした大人にならないと生きられなかった」

「Chắc là do sự khác biệt về môi trường sống thôi. Tôi từng có một khoảng thời gian dài sống tự lập một mình giữa cái lạnh giá, tuyết phủ trắng trời ở Niigata. Ở cái nơi đó, nếu không tự rèn mình thành một người lớn thực thụ thì không cách nào sinh tồn nổi đâu.」


 冗談のようだけど事実だ。僕の世界観とモラルは雪国の寒さによって形作られた結晶なのだろう。

 Nghe thì như một lời nói đùa nhưng đó hoàn toàn là sự thật. Cái thế giới quan và chuẩn mực đạo đức (moral) của tôi có lẽ đã được trui rèn, kết tinh từ chính cái sự lạnh lẽo của vùng đất tuyết ấy.

 

「それ、前から聞いてたけどさ。大袈裟に言ってるだけだと思ってたわ。俺も一人暮らしを始めてみようかな。でも貯金が無いんだよな」

「Cái đó em nghe anh kể từ trước rồi, nhưng cứ nghĩ anh chỉ đang nói quá (bốc phét) lên thôi chứ. Hay là em cũng dọn ra ngoài sống tự lập thử xem sao nhỉ. Ngặt nỗi là tiền tiết kiệm thì đang viêm màng túi quá.」

 

「いいじゃん、少しは意識が変わるんじゃない?」

「Được đấy chứ, có khi ra ngoài ở riêng lại giúp chú thay đổi được tư duy, ý thức lên một chút đấy.」

 

「自分でもヤバいと思ってるんだけどさ。どうやったら先輩みたいな大人になれるんだ?」

「Bản thân em cũng tự thấy mình đang khá là báo đời vô tri rồi đây. Làm sao để có thể trở thành một người lớn trưởng thành giống như tiền bối được bây giờ nhỉ?」


 木澤くんにかけてあげられる言葉を探してみる。

 Tôi bắt đầu lục tìm những câu từ thích hợp để dành cho Kizawa.

 

 彼は喫煙家だし、大学は中退しているし、車の運転は荒いし、ギャンブル中毒で貯金は無いし、平気でドタキャンはするし、相手によって態度は変えるし、機嫌が悪い時の語気は強くなるし、とても性格に難がないとは言えない人間だと思う。

 Cậu ta hút thuốc, bỏ học đại học giữa chừng, lái xe thì phóng nhanh vượt ẩu, lại còn nghiện cờ bạc nên chẳng có nổi một xu tiết kiệm, đã thế còn thản nhiên bùng hẹn phút chót, hành xử thì tùy mặt mà bắt hình dong, những lúc tâm trạng tồi tệ thì giọng điệu lại trở nên gắt gỏng gay gắt…… Thực sự mà nói, đây là một kiểu người không thể dùng từ "đức tính tốt đẹp" để hình dung cho nổi.

 

 でも、その短所が彼の長所を必ずしも打ち消し合っている訳ではないと感じる。初対面の相手にもグイグイ話しかけにいく姿勢や、美容師専門学校に入学するフットワークの軽さや、たまに見せる柔軟な合理性だったり、短所の数に比べれば少なくとも、確かに彼の長所はあるのだ。

 Thế nhưng, tôi cảm thấy những khuyết điểm đó không hẳn là đã xóa nhòa đi những ưu điểm của cậu ta. Cái tinh thần xông xáo, chủ động bắt chuyện với người lạ, sự nhanh nhảu, quyết đoán khi nộp hồ sơ vào trường chuyên môn làm tóc, hay đôi khi là cái sự linh hoạt, thực tế đầy lý trí trong công việc…… Nếu đặt lên bàn cân với một rổ thói hư tật xấu kia, thì ít nhất cậu ta vẫn có những điểm sáng thực sự thuộc về mình.

 

「うーん……」

「Ừm……」

 

「何だよ、難しい顔しちゃって」

「Cái gì thế anh, tự dưng bày ra vẻ mặt hình sự, đăm chiêu thế.」

 

 ただ、それを素直に伝えると彼は調子に乗るだろう。今の状況下で彼を変に調子づかせても、フロアの亀裂が広がっていくだけだ。ここより先のことまで考えて、言葉を選ばなくてはいけないのが本当に面倒である。

 Có điều, nếu bây giờ tôi cứ thế mà tuồn thẳng thừng những lời khen đó ra, cái thằng này kiểu gì cũng lại tinh tướng, vểnh râu lên cho mà xem. Trong bối cảnh nhạy cảm hiện tại, nếu để cậu ta tiếp tục ảo tưởng sức mạnh thì cái vết rạn nứt ngoài sảnh sẽ chỉ ngày một khoét sâu thêm mà thôi. Việc cứ phải đứng ở góc độ nhìn xa trông rộng để cân đo đong đếm từng lời ăn tiếng nói như thế này quả thực là mệt mỏi phiền phức vô cùng.

 

 ここは小説家仕込みの、もっともらしい話をして煙に巻くことにしよう。僕は息を吸い込んだ。

 Thôi thì, ca này đành phải giở bài tủ của một tiểu thuyết gia, tuôn ra một tràng triết lý nghe có vẻ đạo mạo, sâu sắc để đưa cậu ta vào ma trận (tung hỏa mù) vậy. Tôi hít một hơi thật sâu.


「うーん、何か一つでいいからさ」

「Ừm, thực ra chỉ cần một điều thôi cũng được.」

 

「おう」

「Dạ.」

 

「自分のルールを決めたらいいと思う。これだけはどんな状況だとしても絶対に守るっていう決まりごとを作る。僕は新潟で一人暮らしを始めた時に、ある一つのルールを作った」

「Tôi nghĩ là chú mày nên tự đặt ra cho mình một quy tắc riêng. Một cái luật lệ mà dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào đi chăng nữa, chú cũng tuyệt đối phải tuân theo. Hồi tôi mới bắt đầu cuộc sống tự lập ở Niigata, tôi cũng đã tự đặt ra cho mình một quy tắc duy nhất.」

 

「どんなルールだった?」

「Quy tắc gì thế anh?」


 僕は目を閉じて、四年前の決意を思い返した。

 Tôi khẽ nhắm mắt lại, hồi tưởng về quyết tâm của bốn năm về trước.


「赤信号を守る。それだけだったよ。車でも、自転車でも、徒歩でも、どんな時でも」

「Không vượt đèn đỏ. Chỉ vậy thôi. Dù là đi ô tô, đi xe đạp, hay là đi bộ, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng vậy.」

 

「マジか、そんな簡単なことでいいのかよ?」

「Thật á anh? Chuyện đơn giản như thế mà cũng được coi là quy tắc sao?」

 

「おい、どの口が言ってんだ。木澤くん、たまに深夜のドライブで信号を無視しかけることあるでしょ。あれ、いつか事故るからね」

「Ơ hay, cái mồm chú mày vừa thốt ra câu gì đấy. Kizawa này, chẳng phải thi thoảng lúc lái xe lượn lờ đêm muộn, chú cũng suýt vượt đèn đỏ mấy bận còn gì. Cứ cái kiểu đấy thì có ngày tông xe tai nạn đấy nhé.」


 僕は苦笑した。そして言葉を続ける。

 Tôi khẽ cười trừ, rồi lại tiếp tục mạch nói.


「車の運転中は論外だけどさ。たまに誰も見ていない深夜の横断歩道とか赤信号でも渡りたくなるじゃん。今すぐ帰りたい時とか、特に急いでる時は。そういう時でもグッと堪えることにしていたよ」

「Việc lái xe thì là chuyện đương nhiên miễn bàn rồi. Nhưng mà, thi thoảng vào đêm muộn, trước một cái vạch qua đường vắng ngắt không một bóng người, mà đèn thì đang đỏ, ai mà chẳng có lúc muốn tặc lưỡi bước qua đúng không. Nhất là những lúc chỉ muốn lao ngay về nhà, hoặc có việc gì đang vội vã. Những lúc như thế, tôi đều chọn cách kìm lòng mình lại, bấm bụng đứng chờ.」

 

「それに何の意味があるんだ。誰も見ていないのに?」

「Nhưng làm thế thì có ý nghĩa gì đâu anh? Có ai nhìn thấy đâu cơ chứ?」


 木澤くんが首を傾げる。

 このルールは、大学一年生の僕が誰かに言われるでもなく、誰かに見せるでもなく、一人で生き抜く指針にしていたルールだった。僕が赤信号を無視したのは大学生活の四年間の中で一回だけだったと思う。

 Kizawa khẽ nghiêng đầu thắc mắc.

 Cái quy tắc này vốn là thứ mà cậu sinh viên đại học năm nhất là tôi năm xưa, chẳng đợi ai phải nhắc nhở, cũng chẳng cần diễn cho ai xem, đã tự coi nó như chiếc kim chỉ nam để sinh tồn một mình giữa dòng đời. Suốt bốn năm cuộc đời sinh viên, tôi nghĩ mình mới chỉ vi phạm, vượt đèn đỏ duy nhất đúng một lần.


「赤信号を渡らないことで自信がつく。そんな自分を誇りに思える。バイト先の失敗や、将来への不安とか、自分を否定されるような気持ちになったとしても、それでも僕は信号を守れる人間だからと前を向ける。もし守れなかった時は、自分の生活が正常な道からズレているって合図だ。それに気付いた時は取り返しがつかなくなる前に休むことにしていたよ」

「Việc không vượt đèn đỏ sẽ mang lại cho mình sự tự tin. Nó khiến mình cảm thấy tự hào về chính bản thân. Để rồi dù cho có gặp thất bại trong công việc làm thêm, hay có bị bủa vây bởi nỗi bất an về tương lai, thậm chí là có những lúc cảm thấy như cả thế giới đang phủ nhận giá trị của mình, thì anh vẫn có thể ngẩng cao đầu hướng về phía trước và tự nhủ: Dù sao đi nữa, mình vẫn là một người biết giữ luật lệ giao thông. Còn nếu đến cả cái việc đó mà cũng không làm nổi, thì đó chính là hồi chuông cảnh báo rằng cuộc sống của mình đang bị chệch hướng khỏi quỹ đạo bình thường rồi. Những lúc nhận ra điều đó, anh sẽ chọn cách nghỉ ngơi thư giãn trước khi mọi chuyện tồi tệ đến mức không thể cứu vãn.」


 それは寝坊した日の通学。小さな路地にある赤信号の横断歩道を駆け抜けた。僕を咎めるような車は通っていなかった。しかし反対側の歩道まで渡り切って、明らかな余裕の無さに気付いた。心臓がバクバクと波打っていた。自分の心に嘘はつけなかった。

 その日の夜はシャワーを浴びて、すぐに布団に潜り込んだ。翌朝からは余裕を持って通学することにした。

 Đó là vào một buổi sáng ngủ nướng muộn học. Tôi đã lao thục mạng băng qua một vạch đường đèn đỏ ở một con ngõ nhỏ. Lúc ấy chẳng có chiếc ô tô nào đi qua để ăn vạ hay khiển trách tôi cả. Thế nhưng, khi đã sang đến bờ bên kia của vạch đường, tôi chợt bừng tỉnh và nhận ra sự thiếu thốn thảnh thơi một cách rõ mồn một trong tâm hồn mình. Lồng ngực tôi phập phồng, trái tim đập thình thịch liên hồi. Tôi không cách nào tự dối lừa tiếng lòng của chính mình được.

 Tối hôm đó, tôi đi tắm rửa qua loa rồi lập tức chui tọt vào trong chăn ngủ sớm. Để rồi kể từ sáng ngày hôm sau, tôi luôn chủ động chuẩn bị dư dả thời gian trước khi đến trường.

 

「なるほど。でも信号を守るより、もっとすごいルールを守った方がいいんじゃないのか?」

「Ra là vậy. Nhưng mà thay vì giữ cái luật đèn đỏ đó, chẳng phải mình tự đặt ra và thực hiện mấy cái quy tắc nghe ngầu lòi, oai phong hơn thì tốt hơn sao anh?」

 

「きっと大事なのは積み重ねなんだ。僕も木澤くんも外出が苦じゃないタイプだろう。一週間の間に数え切れない程の信号を通り過ぎているんだと思うよ。それならルールを意識するだけで身体への染みつきが違う」

「Tôi nghĩ điều quan trọng cốt lõi nằm ở sự tích lũy. Cả tôi và chú mày đều thuộc tuýp người không ngại việc ra ngoài đường đúng không. Tôi tin là trong vòng một tuần, số lần chúng ta đi qua các cột đèn giao thông là nhiều không đếm xuể. Thế nên, chỉ cần mình luôn có ý thức giữ vững cái quy tắc đó thôi, thì dần dần nó sẽ tự khắc ăn sâu vào trong từng thớ thịt, mạch máu của mình.」

 

「確かにそうだな。禁煙とか、貯金とかでもいいよな?」

「Công nhận anh nói chuẩn thật. Kiểu như cai thuốc lá, hay là tiết kiệm tiền cũng được đúng không anh?」

 

 

「一つでいい。簡単なことでいい。小さな積み重ねが大人を形作るんだと思うよ」

「Chỉ cần một điều thôi. Một điều thật đơn giản thôi cũng được. Anh nghĩ chính những sự tích lũy nhỏ nhặt ấy sẽ nhào nặn và định hình nên một người lớn trưởng thành.」

 

「おお、すごいな……」

「Oa, đỉnh thật sự luôn ý……」


 もっともらしいが、底の浅い演説が終わった。ほとんど深夜の雰囲気に酔った冗長な自分語りである。

 Màn diễn thuyết nghe thì có vẻ đạo mạo, sâu sắc nhưng thực chất lại khá nông cạn của tôi đã khép lại như thế đấy. Nghĩ lại thì nó giống như một màn tự luyến, dông dài về bản thân nương theo cái bầu không khí tịch mịch của đêm muộn thì đúng hơn.

 

 何とも皮肉な話だ。今日の昼には、自堕落なフリーターとして居心地の良い場所に甘んじていると反省したのに。それが深夜になると、とば寿司で理想の大人として羨望の眼差しを向けられている。

 Thật là một sự mỉa mai nực cười. Mới trưa ngày hôm nay thôi, tôi còn đang tự kiểm điểm, dằn vặt bản thân vì đã cam chịu bằng lòng với vị trí một kẻ làm tự do sa đọa trong một không gian quá đỗi dễ chịu. Thế mà khi màn đêm buông xuống, tại Toba Sushi này, tôi lại đang nghiễm nhiên đón nhận những ánh mắt ngưỡng mộ đầy thèm khát như một hình mẫu người lớn lý tưởng.

 

 それでも、僕が後輩に大人としての道理を説くとは。大学の教授や同級生や両親が見たら驚くだろう。木澤くんは静かに自分の考えをまとめているようだった。彼の心の弱さに楔を打ち込めるような言葉があったなら嬉しい。

 Dẫu vậy, việc một kẻ như tôi lại đi truyền thụ đạo lý làm người trưởng thành cho hậu bối thế này…… Nếu để các vị giáo sư đại học, bạn bè đồng lứa hay bố mẹ tôi mà nhìn thấy, chắc họ sẽ sốc đến mức rớt cằm mất thôi. Kizawa lúc này xem ra đang lặng im để tự đúc rút, sắp xếp lại những suy nghĩ của riêng mình. Nếu như những lời vừa rồi có thể trở thành một cái vạch điểm tựa mũi gạt găm thẳng vào sự yếu đuối trong lòng cậu ta, thì tôi cũng thấy mừng lòng.

 

 その時、小厨房に慌てたような足音が近付いてきた。

 Đúng lúc ấy, có tiếng bước chân vội vã đang tiến lại gần căn bếp nhỏ.

 

「あっ、急で本当に申し訳ないんだけど、一つ仕事を頼んでもいいかな。ごめんね、伝えるの遅れちゃって……」

「Á, thực sự xin lỗi hai đứa vì sự đột ngột này nhé, nhưng anh có thể nhờ hai đứa một việc này được không. Xin lỗi nha, anh thông báo hơi muộn mất rồi……」

 

 中島店長が申し訳なさそうに手を合わせた。

 Quản lý Nakajima chắp hai tay lại trước ngực với vẻ mặt đầy áy náy.

 

「はい、大丈夫ですよ!」

「Dạ vâng, không sao đâu anh ạ!」

 

「この熟成まぐろなんだけど。明日から価格が115円から120円に変更されてね。客席の価格ポップをこっちの120円の方に切り替えてもらえないかな?」

「Là về món cá ngừ ủ chín (Jukusei Maguro) này này. Từ ngày mai giá của nó sẽ thay đổi từ 115 Yên lên 120 Yên. Hai đứa có thể giúp anh tráo mấy cái bảng giá (pop) ở các bàn ăn của khách sang loại 120 Yên này được không?」


 まだ考え込んでいる木澤くんを横目に、僕は愛想良く頷いてみせた。もう閉店時刻まで30分を切っている。ここで変にゴネている時間はない。

 Liếc mắt nhìn Kizawa vẫn còn đang đứng thẫn thờ suy nghĩ, tôi nở một nụ cười niềm nở rồi gật đầu lia lịa. Lúc này chỉ còn chưa đầy 30 phút nữa là đến giờ đóng cửa rồi. Chẳng có thời gian đâu mà đứng đấy kỳ kèo, vặn vẹo làm gì.

 

「分かりました。もうお客さんも少ないので、奥のテーブルから切り替えておきますね!」

「Tôi hiểu rồi ạ. Bây giờ khách khứa cũng thưa thớt rồi, để tụi tôi bắt đầu thay từ mấy cái bàn ở phía góc trong cùng cho nhé!」

 

「いつも助かるよ。本当にありがとう」

「Lúc nào cũng phải cậy nhờ đến cậu. Thực sự cảm ơn cậu nhiều nhé.」


「ほら行くよ、木澤くん。さっさと終わらせよう」

「Nào đi thôi Kizawa. Giải quyết nhanh gọn lẹ cho xong xuôi nào.」

 

「おっ、おう。そうだな」

「À, ờ. Chuẩn rồi đấy.」


 そんなに僕の演説が響いたのか。まだフワフワした様子の木澤くんの背中を押す。テーブル全てのポップを切り替えるのも、男二人がかりなら楽々だった。

 Tôi vỗ vào lưng thúc giục Kizawa. Việc thay đổi toàn bộ bảng giá ở các bàn ăn, nếu có hai gã đàn ông cùng xắn tay vào làm thì cũng nhẹ tựa lông hồng.


「じゃあね、木澤くん」

「Chào chú mày nhé, Kizawa.」

 

「おう、お疲れ様。またな!」

「Vâng, anh về cẩn thận nhé. Hẹn gặp lại anh sau ạ!」

 

 その日の帰り道、赤信号の横断歩道で立ち止まる。自分で語ったばかりのルールだ。ちゃんと守らなくては格好がつかない。ぼんやりと立ち尽くす間、薄手のウィンドブレーカーを夜風が撫でる。

 Trên con đường trở về nhà ngày hôm ấy, tôi dừng bước trước một vạch đường đang hiển thị đèn đỏ. Đây là cái quy tắc mà chính miệng tôi vừa mới bốc phét, truyền thụ xong xuôi mà. Phải nghiêm túc chấp hành thôi, chứ không thì trông mất mặt, ra thể thống gì nữa cơ chứ. Trong lúc đứng thẫn thờ chờ đợi ở đó, một cơn gió đêm khẽ lùa qua tà chiếc áo khoác gió mỏng manh của tôi.


「こんな格好でも肌寒さは感じないんだな」

「Mặc phong phanh thế này mà mình lại chẳng hề cảm thấy cái lạnh thấu xương nhỉ.」


 まだ秋だから当然だが、ふぅっと吐いた息が白くならない。ここが新潟だと、もうすぐ初雪が降り始めていてもおかしくない。あの場所は11月の中旬に雪が積もり始める土地なのだ。

 Dù sao thì bây giờ cũng mới chỉ là mùa thu nên điều này là hiển nhiên, nhưng làn hơi thở tôi thở hắt ra tuyệt nhiên không hề đọng lại thành làn khói trắng. Nếu nơi đây mà là Niigata, thì có lẽ lúc này những bông tuyết đầu mùa đã bắt đầu rục rịch rơi kín trời rồi cũng nên. Cái vùng đất mà cứ đến giữa tháng Mười một là tuyết đã bắt đầu đóng dày, tích tụ lại rồi.


「やっぱり、千葉に引っ越してきて良かった」

「Quả nhiên, quyết định chuyển đến Chiba sinh sống là hoàn toàn đúng đắn.」

 

 改めて、大学生の自分が過酷な環境で暮らしていたのだという実感が湧く。木澤くんに自分語りをする上で回想したからだろう。今夜はセンチメンタルな気分だった。

 Một lần nữa, cảm giác chân thực về việc cậu sinh viên đại học là tôi năm xưa đã từng phải sinh tồn trong một môi trường khắc nghiệt đến nhường nào lại trào dâng mãnh liệt. Chắc là do lúc nãy mải buôn chuyện, hồi tưởng lại quá khứ với Kizawa đây mà. Đêm nay, tâm trạng tôi bỗng trở nên đa sầu đa cảm, hoài niệm đến lạ kỳ.


 (あの頃は僕にも彼女がいたのか……しばらく会ってないけど元気かな)

 (Nghĩ lại thì, hồi đó mình cũng có người yêu rồi cơ à…… Đã một thời gian dài không gặp rồi, chẳng biết giờ cô ấy có khỏe không nữa.)


 柚城さんという三歳上の恋人だった。

 Đó là Yuzuki-san, người yêu cũ lớn hơn tôi ba tuổi.

 

 そういえば、彼女と付き合い始めたきっかけも大雪だった。二人で撮った写真も、連絡先も、お互いに関わるものは全て消したから、どうしても朧げな輪郭しか浮かんでこないけど。

 Nhớ không lầm thì, cơ duyên khiến hai đứa bắt đầu hẹn hò với nhau cũng là vào một ngày tuyết rơi dày đặc. Những bức ảnh chụp chung của hai đứa, rồi cả phương thức liên lạc, tất cả những gì liên quan đến đối phương tôi đều đã xóa sạch bách rồi, nên giờ đây trong tâm trí tôi chỉ còn hiện lên một đường nét mờ ảo, mông lung mà thôi.

 

 これは小説家としての本能であり、習性なのだろうか。

 どんなに月日が経っていても、二人きりで交わした言葉だけは鮮明に思い出してしまう。

 Đây phải chăng chính là bản năng, là tập tính ăn sâu vào máu của một tiểu thuyết gia?

 Dù cho năm tháng có chảy trôi qua bao lâu đi chăng nữa, thì chỉ riêng những lời nói, câu chữ mà hai đứa từng trao nhau khi chỉ có hai người, tôi vẫn có thể hồi tưởng lại một cách rõ mồn một, vẹn nguyên như mới ngày hôm qua.

 

 彼女は言った。

 Chị ấy đã nói thế này.


「一人で死ぬのは怖いから、私の彼氏になってよ」

「Vì chị sợ chết một mình nên hãy làm bạn trai chị nhé」

 

 新潟の吹雪は、いつでも簡単に人の命を奪いかねないほどで。僕たちが生き続けるためには、恋人と呼べる存在が必要だった。気高い飢えの衝動が必要だった。

 Bão tuyết ở Niigata lạnh đến mức có thể cướp đi sinh mạng con người bất kỳ lúc nào. Vì để sống tiếp chúng tôi nên cần một người để gọi là người yêu. Chúng tôi cần thứ xung lực từ cái gọi là "cơn đói khát cao quý" ấy.


 僕は答えた。

 Và tôi đã trả lời.


「いいですよ、付き合いましょう」

「Được thôi ạ, mình hẹn hò đi.」


 彼女の重めの告白に比べると、少し淡白な返事だったと思う。あの頃は素っ気ない言葉の出力しか知らなかった。

 Nếu đặt lên bàn cân với lời tỏ tình đầy sức nặng của cô ấy, tôi nghĩ câu trả lời lúc đó của mình có phần hơi nhạt nhẽo. Vào những ngày tháng đó, tôi mới chỉ biết cách xuất ra những lời lẽ có phần thờ ơ, lãnh đạm như thế mà thôi.


 ここで重要なのは。

 僕たちが恋人という関係を、死なない為の手段として捉えていたこと。それを受け入れたこと。それだけだった。

 Điều cốt lõi quan trọng ở đây là.

 Cả hai chúng tôi đều coi mối quan hệ người yêu này như một công cụ, một phương thức để không phải chết. Và việc chúng tôi chấp nhận điều đó. Chỉ đơn giản có vậy.


 赤信号を待つ静寂の中、夜風が過去の記憶の扉をノックする。

 ここにロマンチックはない。

 そこにはベトナム人が喜ぶようなロマンチックは何一つない。

 Giữa khoảng lặng đứng chờ đèn đỏ, cơn gió đêm như đang gõ cửa vào ký ức của những ngày tháng đã qua.

 Chẳng có gì lãng mạn trong chuyện này cả.

 Ở đây chẳng có chút lãng mạn nào có thể làm người Việt Nam hài lòng.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ