表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
グラデーション(Thứ bậc màu sắc)  作者: ふくマカロニ
あなたの国で雪は降らない
PR
20/27

教育係としての葛藤と新たな火種

 9月も中旬を過ぎた。僕が千葉に引っ越してきてから、もう半年が経過した計算になる。ここでの生活もすっかり板についてきた。

 Đã qua giữa tháng Chín. Tính ra tôi đã chuyển đến Chiba sống được nửa năm rồi.


「今日、フロアの新人が研修だからよろしくね。一応は木澤くんが教育係になっているけど、君の方が面倒見は良いと思ってるからさ」

「Hôm nay có nhân viên mới ngoài sảnh đến thực tập, có gì nhờ cậu để ý giúp nhé. Giao việc hướng dẫn cho Kizawa rồi đấy nhưng tôi thấy cậu biết cách chăm sóc người khác hơn cậu ta nhiều.」

 

「さっき会いました、ちゃんと見守っておきます」

「Vâng, tôi hiểu rồi. Tôi sẽ để ý mống mắt giùm cho.」

 

 細い従業員用の通路で、通りすがりの店長と立ち話をする。彼の顔を見上げると、そのメガネの奥の瞳が新人を気にかけるように揺れていた。彼は管理者として優しすぎる。

 Tôi đứng nói chuyện phiếm với quản lý ở hành lang hẹp dành cho nhân viên. Đằng sau cặp kính, ánh mắt của anh dao động vẻ lo lắng cho người mới. Anh ấy làm quản lý mà có phần quá hiền lành.


 (僕は面倒見が良いんじゃなくて、放って置けないだけなんだけどな。自分が新人の立場だったらって考えてしまうだけだ)

 (Không phải là mình biết cách chăm sóc người khác đâu, chỉ là mình không đành lòng bỏ mặc họ thôi. Mình chỉ tự đặt mình vào vị trí của họ khi còn là lính mới mà suy nghĩ thôi.)

 

 この頃はフロア従業員の総意の上で、何故か僕が新人の教育を担うようになっていた。君は新人の教育に向いていると店長にも褒められた。本来なら新人に仕事を教えるのは、僕より勤務歴の長い片桐さんや木澤くんの役目となるのだが。正直、半年しか働いていない立場で新人を教えるのは、どこか身の程知らずのような気もしていた。

 Dạo gần đây, không hiểu sao phần lớn nhân viên ngoài sảnh đều ngầm đồng thuận để tôi gánh vác việc hướng dẫn cho người mới. Đến cả quản lý cũng khen tôi có năng khiếu trong việc đào tạo lính mới. Thật ra, việc dạy việc đáng lẽ phải là trách nhiệm của em Katagiri hay cậu Kizawa – những người có thâm niên làm việc lâu năm hơn tôi mới phải. Thú thật, mới làm việc được nửa năm mà đã đi chỉ bảo người khác, tôi cứ thấy mình có chút chưa đủ tầm (biết người biết ta).

 

 (まぁ、店長までそう判断したならいいのかな。悪い気はしないし、新人に優しい日本人というアピールが厨房のウーさんにまで届くのも好都合だな)

 (Mà thôi, đến cả quản lý đã đánh giá thế thì cứ vậy đi. Cũng chẳng mất gì, mà lại còn có dịp thể hiện hình ảnh 'một anh chàng người Nhật tốt bụng, biết yêu thương lính mới' trước mặt chị Ước dưới bếp nữa chứ, thế thì còn gì bằng.)


 僕は打算的な微笑みをマスクに忍ばせた。

 Tôi giấu một nụ cười đầy tính toán (đầy toan tính) đằng sau lớp khẩu trang.

 

 大学生の片桐さんは文化祭に向けたバンド活動などの理由があって、最近は一週間のシフトを大幅に削っている。

 Em Katagiri đang là sinh viên đại học, vì bận bịu với các hoạt động ban nhạc chuẩn bị cho lễ hội trường nên dạo này đã cắt giảm đáng kể lịch làm việc (shift) trong tuần.

 

 その逆で、フリーターの木澤くんは週五日というペースで働いているが、フロアの業務内容の説明が壊滅的に下手だったりする。仕事が忙しい時の彼は語気も強く、全体的に指示が雑になりがちなのだ。

 Ngược lại, cậu bạn làm tự do Kizawa thì vẫn cày cuốc với tần suất năm buổi một tuần, nhưng cái khả năng giải thích công việc ngoài sảnh của cậu ta phải gọi là thảm họa của nhân loại. Những lúc quán đông khách, giọng điệu của cậu ta trở nên gắt gỏng và những lời chỉ thị chung chung thì cực kỳ cẩu thả.

 

 そう考えると、僕も週五日のペースで頻繁にシフトに顔を出し、いつも年長者としての振る舞いを心がけているので、皆から新人の教育を任せられるのは必然だった。

 Nghĩ đi nghĩ lại, tôi cũng đi làm đều đặn năm buổi một tuần, lại luôn giữ cho mình một phong thái đĩnh đạc của một người có tuổi (trưởng thành), nên việc mọi người tin tưởng giao phó trọng trách dạy người mới cho tôi cũng là điều hiển nhiên.


「ただいま、フロアの仕事終わったよ。あれっ?」

「Tớ về rồi nè, việc ngoài sảnh xong xuôi rồi nhé. Ủa, cái gì thế này?」


 その高校生の名前は佐々木くんだったか。僕が出勤前に事務所で面倒を見て、はっぴの着方や持ち物を教えてあげた男の子だから覚えている。今日、フロアの新人として入ってきたばかりの高校三年生だ。ずっと野球一筋だったので、とば寿司が初めてのバイトだと打ち明けてくれた。

 Cậu nhóc học sinh cấp ba đó tên là Sasaki thì phải. Tôi nhớ rõ vì trước khi vào ca, chính tôi đã hướng dẫn cậu ấy trong văn phòng, chỉ từ cách mặc áo Happi cho đến những đồ dùng cần mang theo. Đó là một cậu nhóc lớp 12 vừa mới chân ướt chân ráo vào làm nhân viên mới ngoài sảnh ngày hôm nay. Sasaki bộc bạch rằng trước giờ cậu chỉ biết đến mỗi bóng chày, nên TobaSushi chính là nơi đầu tiên cậu đi làm thêm.


「いや、そこで洗剤は使うなって。こう、グワァって感じで水を流していかないと間に合わないじゃん?」

「Kìa, đã bảo là chỗ đó không dùng nước rửa bát mà. Phải xả nước ào ào theo kiểu 'gào oo' thế này này, không thì làm sao mà kịp được?」

 

「はい、すいません!」

「Vâng, em xin lỗi ạ!」

 

 僕がフロアから小厨房に戻ったタイミングだった。

 佐々木くんがシンクに溜まった洗い物の片付けに手間取っているようで、その様子を木澤くんに厳しく指導されている。まだ仕事を始めたばかりなら混乱するのも当然だろう。木澤くんの言動に悪気はなくとも、このまま静観し続けるのも大人のする行動ではないと感じた。

 僕は柔らかな声で口を挟んだ。

 Đó là khoảnh khắc tôi vừa từ ngoài sảnh quay trở lại căn bếp nhỏ.

 Sasaki có vẻ đang lóng ngóng, chật vật với đống bát đĩa tồn đọng trong bồn rửa, và cảnh tượng đó đang bị Kizawa mắng mỏ, chỉ bảo một cách khá nghiêm khắc. Với một người vừa mới bắt đầu công việc thì chuyện rối rắm, nhầm lẫn là điều hoàn toàn hiển nhiên. Dù biết lời nói và hành động của Kizawa không có ý ác, nhưng nếu cứ đứng im lặng quan sát thế này thì không phải là cách hành xử của một người trưởng thành.

 Tôi liền lên tiếng xen vào bằng một giọng điệu nhẹ nhàng.

 

「木澤くん、それだと伝わってないと思うよ」

「Kizawa ơi, tôi nghĩ giải thích kiểu đó cậu ấy không hiểu được đâu.」

 

「マジか、でも先輩なら一発で理解してくれたじゃん?」

「Thật thế ạ? Nhưng hồi trước em nói thế là tiền bối hiểu ngay tắp lự còn gì?」

 

「やめろやめろ、過去を美化するな。最初の方は僕も普通に混乱しまくってたよ」

「Thôi đi ông tướng, đừng có thần thánh hóa quá khứ thế chứ. Hồi đầu tôi cũng lú lẫn bỏ xừ ra đấy thôi.」

 

 新人の前なので、おどけてみせる。

 Trước mặt lính mới, tôi cố tình nói bằng giọng điệu hóm hỉnh để làm dịu bầu không khí.

 

 木澤くんはフロアの仕事のどの部分を雑にこなしても良いか、どこを疎かにするとフロアの動線が破綻するか、その理解を感覚的にしているタイプで、自分が器用に微調整を行なっている自覚もない。このフロアが初めてのバイトだという新人にとって、彼のように語気の強い教育係はスパルタに感じるかもしれない。実際にスパルタである。

 Kizawa thuộc tuýp người làm việc theo bản năng. Cậu ta biết rõ phần nào trong công việc ngoài sảnh có thể làm qua loa một chút, còn chỗ nào nếu lơ là thì toàn bộ guồng quay của sảnh sẽ bị vỡ trận ngay lập tức, nhưng bản thân cậu ta lại không có ý thức rằng mình đang tự điều chỉnh mọi thứ một cách khéo léo. Đối với một lính mới coi đây là công việc làm thêm đầu đời, một người hướng dẫn có giọng điệu gắt gỏng như cậu ta có thể mang lại cảm giác cực kỳ áp lực (kiểu thiết quân luật). Mà thực tế thì đúng là thiết quân luật thật.


 (木澤くんは仕事ができる子には愛想が良いけど、手際が悪い子には残酷なまでに態度が変わるからな)

 (Kizawa chỉ niềm nở với những đứa làm được việc thôi, chứ với những đứa chân tay lóng ngóng là thái độ của cậu ta quay ngoắt một cách tàn nhẫn ngay.)

 

 感覚派な木澤くんの指示に混乱する新人。そして仕事が遅い新人への当たりが強くなる木澤くん。いわゆる負のスパイラルだ。その構造に気付いてから、新人への気配りに力を入れるようになった。これは大人として果たすべき義務であり、僕の自己満足でもある。

 Lính mới thì hoang mang trước những lời chỉ thị mang tính cảm giác của Kizawa. Còn Kizawa thì lại ngày càng gắt gỏng hơn trước sự chậm chạp của lính mới. Đó chính là cái gọi là một vòng xoáy tiêu cực (vòng lặp vô tận). Kể từ khi nhận ra cái cấu trúc đó, tôi bắt đầu dồn nhiều tâm sức hơn vào việc để mắt, quan tâm đến những người mới vào. Đây vừa là trách nhiệm mà một người trưởng thành nên gánh vác, và cũng là một sự thỏa mãn cái tôi (thỏa mãn bản thân) của chính tôi.


「ごめんね、木澤くんが教えるの下手すぎて」

「Xin lỗi em nhé, tại thằng Kizawa nó dạy việc vụng thối vụng nát ra ý mà.」

 

「うわっ、ひどい。でもその通りなんだわ。一応、新人の教育係は俺の仕事なんだけど。この人に教わった方がいいかもしれない。それなら後は先輩に任せるわ」

「Ơ kìa, anh nói phũ thế. Nhưng mà chuẩn cơm mẹ nấu rồi. Kể ra thì danh nghĩa hướng dẫn người mới là việc của em thật, nhưng có khi nhóc này học theo tiền bối lại ngon hơn đấy. Thế thì phần còn lại em giao khoán cho tiền bối nhé.」


 こういう時、妙なプライドで教育係としての立場に固執しないのは木澤くんの強みだと思う。僕も出しゃばっている自覚はあるので申し訳ない。結果として仕事が早く回るなら、その過程など気にしないという彼の柔軟な姿勢は素直に尊敬だ。僕は胸を軽く叩いてみせた。

 Những lúc thế này, tôi nghĩ việc không để cái sĩ diện hão xen vào rồi cố chấp giữ lấy cái mác người hướng dẫn chính là một điểm mạnh của Kizawa. Bản thân tôi cũng tự ý thức được là mình đang hơi bao đồng (lăng xăng) nên cũng thấy có chút áy náy. Nhưng xét cho cùng, nếu kết quả giúp công việc trôi chảy nhanh chóng hơn mà cậu ta không màng đến quá trình, thì cái thái độ linh hoạt đó của cậu ta thực sự khiến tôi nể phục. Tôi khẽ vỗ nhẹ vào ngực mình đầy tự tin.

 

「うん、任せて。ちゃんとした戦力にはするからさ」

「Ừm, cứ giao cho anh. Tôi sẽ đào tạo nhóc này thành một chiến thần gánh team thực thụ.」

 

「おお、期待しとくわ」

「Ồ, em lót dép hóng nha.」

 

 ほいっと木澤くんがシンク前の場所を譲ってくれる。

 僕は佐々木くんに微笑みかけた。まるでイソップ童話の北風と太陽である。

 Kizawa nhanh nhảu nhường lại vị trí trước bồn rửa bát cho tôi.

 Tôi quay sang nở một nụ cười ấm áp với Sasaki. Cảnh tượng này y hệt như câu chuyện ngụ ngôn Aesop về Gió bấc và Mặt trời vậy.


「ごめんね、置いてきぼりにしちゃって」

「Xin lỗi em nhé, nãy giờ làm em bị bơ vơ một mình rồi.」

 

「いえ、大丈夫です!」

「Dạ không sao đâu ạ!」


 流石は元野球部の高校三年生、とても元気の良い返事であるし、さっきまでキツく言われていたのにメンタルも安定しているようだ。

 Đúng chất của một cậu học sinh năm cuối cấp ba từng tham gia câu lạc bộ bóng chày, lời đáp của cậu nhóc cực kỳ dõng dạc, tràn đầy năng lượng, và tinh thần (mental) xem ra cũng rất vững vàng, ổn định.


「こういうフォークやスプーンとか子供用の食器は、ちゃんと洗剤を使って洗うんだけどね。このガリを入れてた箱とか甘だれと醤油とわさびの容器は、軽く水洗いするだけで大丈夫なんだ。この後、すぐに中身を補充したら、またフロアの備品として使うからね。もし洗剤の泡が残ったりしたら大問題でしょ?」

「Mấy cái đồ dùng trẻ em như dĩa, thìa hay bát đĩa kiểu này thì mình phải dùng nước rửa bát để cọ rửa thật sạch sẽ này. Nhưng còn mấy cái hộp đựng gừng vàng (gari), hay lọ đựng nước sốt ngọt, nước tương với mù tạt (wasabi) này thì em chỉ cần tráng sơ qua bằng nước sạch là được rồi. Vì ngay sau đây, mình sẽ bổ sung thêm đồ vào trong rồi lại mang ra ngoài sảnh làm đồ dự trữ luôn mà. Nếu mà để dính lại chút bọt nước rửa bát nào ở trong thì to chuyện lớn đúng không?」

 

「確かにそうですね。それはクレームになりそうです」

「Dạ chuẩn luôn ạ. Kiểu gì cũng bị khách phàn nàn (claim) cho xem.」


 僕は論理的に説明することが好きだから、素直に聞いてくれる年下の子は好きだ。

 Vì tôi là kiểu người thích giải thích mọi thứ một cách logic, nên tôi rất có thiện cảm với những đứa trẻ biết lắng nghe một cách ngoan ngoãn như thế này.

 

「お客さんの口に触れた洗い物だけ、ちゃんと洗剤を使って洗うことを覚えておくといいよ。わさびとか醤油を直接ペロって舐めようとするお客さんなんていないからね」

「Em cứ nhớ nằm lòng quy tắc này là được: chỉ có những đồ dùng nào tiếp xúc trực tiếp với miệng của khách hàng thì mình mới cần dùng nước rửa bát để cọ thật kỹ thôi. Chứ làm gì có vị khách nào lại rảnh rỗi đi liếm láp trực tiếp vào mấy cái lọ đựng mù tạt hay nước tương đâu đúng không nào.」

 

「あっ、分かりやすいです。ありがとうございます!」

「A, anh nói thế làm em dễ hình dung hẳn ra luôn ý. Em cảm ơn anh ạ!」


 僕が洗い物を実演していると、木澤くんが横から覗き込んできた。何やら感心したような様子で頷いている。

 Trong lúc tôi đang vừa làm mẫu vừa giảng giải việc rửa dọn, Kizawa ở bên cạnh khẽ ghé đầu vào ngó nghiêng nhìn. Cậu ta vừa gật gù vừa lộ ra vẻ mặt vô cùng tâm đắc, thán phục.

 

「なるほどね、そう言ったらいいのか。やっぱり先輩って大人なんだよな。たまに忘れるけど」

「Ra là vậy, phải giải thích thế này người ta mới thông suốt được chứ. Công nhận tiền bối lúc nào trông cũng ra dáng người lớn (trưởng thành) thật đấy. Dù thi thoảng em toàn quên khuấy đi mất.」

 

「何でだよ、忘れないで」

「Ơ hay cái thằng này, sao lại quên là thế nào!」

 

「えっ、木澤さんの先輩なんですか?」

「Ơ, anh ấy là tiền bối khóa trên của anh Kizawa thật ạ?」

 

「違うよ、木澤くんが勝手に先輩って呼んでるだけ!」

「Không phải đâu em ơi! Tại thằng Kizawa nó cứ thích tự tiện gọi tôi là tiền bối thế đấy chứ!」


 小厨房に和気藹々とした雰囲気が流れる。佐々木くんが体育会系の部活に所属していたこともあるだろう。彼が木澤くんの雑な指導に対して、モヤっとした感情を引きずるような様子を見せていなくて安心した。僕の人間観察が絶対的な精度を誇るという訳でもないけど。

 Bầu không khí trong căn bếp nhỏ bỗng trở nên vô cùng hòa nhã, vui vẻ rộn ràng. Một phần cũng là nhờ Sasaki từng ở trong môi trường câu lạc bộ thể thao học đường (thể dục hội hệ). Tôi cũng nhẹ cả người khi thấy cậu nhóc không hề giữ chút ấm ức hay lấn cấn nào trước lối chỉ dạy lóng ngóng, cẩu thả của Kizawa. Dù rằng cái tài nhìn người (nhân văn quan sát) của tôi cũng chẳng phải lúc nào độ chính xác cũng đạt mức tuyệt đối.

 

 こんな感じで、僕はフロアの教育係となった。正直に打ち明けると、ずっと年長者の仮面を被り続けるのは大変だった。高校生の新人にも優しくできるという自負と、彼らが帰った後のラスト作業が増えていくという葛藤に挟まれていた。それでも年下に頼られて慕われる心地良さから抜け出せなかった。いつか、このメッキが剥がれることを考えては怖くなるばかりだった。

 Cứ như vậy, tôi đã nghiễm nhiên trở thành người hướng dẫn của khu vực ngoài sảnh. Nói một cách thành thật từ tận đáy lòng, việc cứ phải liên tục đeo chiếc mặt nạ của một người bề trên (người trưởng thành) thực sự là một điều vô cùng mệt mỏi. Tôi luôn bị giằng xé giữa một bên là lòng tự tôn rằng mình có thể đối xử bao dung, dịu dàng với người mới là học sinh cấp ba, và một bên là nỗi niềm trăn trở khi thấy khối lượng công việc chốt ca (last) của mình cứ thế ngày một tăng dần sau khi tụi nhỏ ra về. Thế nhưng, tôi lại chẳng thể nào dứt ra khỏi cái cảm giác ngọt ngào, dễ chịu khi được những người nhỏ tuổi hơn tin tưởng và ngưỡng mộ. Cứ mỗi lần nghĩ đến viễn cảnh một ngày nào đó, lớp mạ vàng này bị bong tróc ra, tôi lại không khỏi cảm thấy rùng mình sợ hãi.


「今日私15時からラストまでよ。疲れた」

「Hôm nay chị làm từ 15 giờ đến tận ca đóng cửa (last) luôn ý. Mệt rã rời.」

 

「とても長いね。お疲れ様。僕も20時までずっとレジの前で叫んでいたよ。いらっしゃいませーってww」

「Ca làm dài dằng dặc luôn chị nhỉ. Chị vất vả rồi ạ. Tôi thì cũng phải đứng hét trước quầy thu ngân suốt từ nãy đến tận 20 giờ đây này. Kiểu 'Kính chào quý kháchーー' ý ww」

 

「大変だったね、あなたの声は厨房まで聞こえたよww」

「Vất vả cho em quá nè, tiếng của em vang tận vào trong bếp luôn đó ww」


 だから、ウーさんとのLINEが支えになっていた。僕はもう成人済みだから、年相応な態度を取っているとは言えないのかもしれない。それでも彼女の前では素直な少年でいたかった。

 Chính vì thế, những dòng tin nhắn qua LINE với chị Ước đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc cho tôi. Tôi đã là một người trưởng thành rồi, có lẽ việc hành xử thế này không được đúng mực với lứa tuổi cho lắm. Thế nhưng, trước mặt cô gái ấy, tôi vẫn luôn muốn giữ cho mình sự thành thật, thuần khiết của một cậu thiếu niên.


「あなた、休憩で寿司食べないね?」

「Em không ăn sushi vào giờ giải lao à?」

 

「お肉が好きだから。あと休憩から戻った時、自分で使ったテーブルを片付けるのが嫌なんだww」

「Tại tôi hảo thịt hơn ạ. Với cả cứ nghĩ đến cảnh ăn xong phải tự dọn dẹp cái bàn ăn là tôi lười lắm luôn ww」

 

「そうね。私もテーブルの片付けは苦手ww」

「Chuẩn luôn. Chị cũng chúa ghét việc dọn bàn ăn luôn ý ww」


 たまに厨房の様子を覗くと、ウーさんもレジ締めや在庫管理などの慣れない作業に追われているようだった。いつもラストの彼女は目が死んでいた。それは僕と同じ表情だった。

 Thi thoảng ngó nghiêng vào tình hình dưới bếp, tôi thấy chị Ước cũng đang ngập đầu trong những công việc chưa quen tay như chốt két tiền hay quản lý hàng tồn kho. Chị làm ca đóng cửa nên lúc nào đôi mắt cũng trong tình trạng 'héo úa' (mắt chết trân). Đó cũng chính là biểu cảm y hệt của tôi.

 

 彼女にとっても、僕のLINEが支えになってくれていたら嬉しい。そう思って、使う語彙の選び方、句読点の置き方、絵文字の使い方、全てに気を遣った。その気配りだけは不思議と疲労を感じなかった。

 Nếu những dòng tin nhắn của tôi cũng có thể trở thành một điểm tựa cho chị ấy thì tốt biết mấy. Nghĩ vậy, tôi đã vô cùng cẩn trọng trong từng việc lựa chọn từ vựng, cách đặt dấu câu, cho đến cả cách sử dụng biểu tượng cảm xúc (emoji). Thật kỳ lạ là sự tinh tế, để ý ấy lại chẳng hề khiến tôi cảm thấy mệt mỏi chút nào.


「私は最近寿司よく食べたくなる」

「Dạo gần đây chị hay thèm ăn sushi lắm.」

 

「へぇ、どの寿司が美味しかった?」

「Hể, thế chị thấy món sushi nào ngon nhất ạ?」


 思い返すと確かに、最近のウーさんは自分のお持ち帰り用に注文した寿司を彼女自身で握っている。それはラストで僕が見る光景の一つになっていた。

 Ngẫm lại thì đúng là dạo này, tôi thường thấy chị Ước tự tay nắm những phần sushi mà chị ấy đặt để mang về nhà. Cảnh tượng đó đã trở thành một trong những hình ảnh quen thuộc của ca đóng cửa.


「えびアボカドとまぐろユッケね、大好きよ」

「Sushi tôm bơ (Ebi Avocado) với cả cá ngừ sốt Yukhoe (Maguro Yukke) nha, chị mê hai món đó lắm.」

 

「それは最高の選択だね。僕もアボカドが好きだよ」

「Lựa chọn đỉnh cao luôn chị ơi. Tôi cũng nghiện quả bơ lắm.」

 

「一緒ね!」

「Giống nhau thế nhỉ! / Hai đứa mình giống nhau nè!」


 あと、この何でもない時間が好きだった。それは伝えられなかった。

 Và còn một điều nữa, tôi thực sự rất trân trọng cái khoảng thời gian vô thưởng vô phạt, bình yên này. Nhưng điều đó, tôi đã chẳng thể nói ra.


ーーー


 (今日はしんどいけど、あと少しで木澤くん達が来る。それまでの辛抱だ)

 (Hôm nay tuy mệt rã rời thật đấy, nhưng cố một chút nữa thôi là nhóm Kizawa đến rồi. Phải cắn răng chịu đựng đến lúc đó thôi.)

 

 とある10月下旬の日曜日だった。その日は11時からの出勤だった。片桐さんが学祭のバンド出演で欠席。木澤くんと成田くんが学祭を回るために午後からの出勤。他の人も各々の用事で欠勤。僕と厨房のベトナム人を含めた少人数で昼のピーク帯を捌かなくてはいけなかった。

 Đó là một ngày Chủ nhật vào cuối tháng Mười. Hôm đó tôi đi làm từ 11 giờ trưa. Chị Katagiri thì xin nghỉ để tham gia biểu diễn ban nhạc ở lễ hội trường. Kizawa và Narita thì đi lượn lờ lễ hội nên xin lùi lịch làm sang ca chiều. Những người khác cũng bận việc riêng mà xin nghỉ sạch. Thành ra, tôi cùng với mấy người Việt Nam dưới bếp phải gồng gánh, xử lý cái ca cao điểm (peak) buổi trưa với một lượng nhân sự ít ỏi đến tội nghiệp.


「えっ、二人とも遅刻ですか!?」

「Hả, cả hai đứa đều đi muộn ạ!?」

 

「本当にごめん。厨房の方も人手が足りないから、もう少しだけ一人で回してほしい」

「Quản lý thực sự xin lỗi cậu. Dưới bếp hiện tại cũng đang thiếu người trầm trọng, nên cậu cố gắng tự xoay xở ngoài sảnh thêm một chút nữa giúp tôi nhé.」

 

 本当なら15時から入るはずの木澤くんと成田くんだが、彼らが遅刻するとの連絡が店長によって告げられた。応援のベトナム人は厨房に戻った。僕は昼の休憩にも行けず、一人でアイドリングの作業を回すことになった。

 Đáng lẽ ra 15 giờ là Kizawa và Narita phải có mặt, nhưng quản lý lại vừa thông báo cho tôi một tin sét đánh rằng hai đứa nó sẽ đến muộn. Người bạn Việt Nam ra hỗ trợ tôi lúc nãy cũng phải quay trở lại dọn dẹp dưới bếp. Tôi thậm chí còn chẳng thể đi ăn ca trưa, cứ thế một mình trân mình ra xoay xở với đống công việc dọn dẹp vào khung giờ lỡ cỡ (idling).

 

 16時半過ぎ、予定時刻を1時間以上も踏み倒して、木澤くんと成田くんがフロアに顔を出した。

 Hơn 16 giờ 30 phút, bùng lịch hẹn ban đầu tận hơn một tiếng đồng hồ, Kizawa và Narita mới chịu ló mặt xuất hiện ngoài sảnh.


「ごめん、遅刻したわ」

「Em xin lỗi, em đi muộn ạ.」

 

「すいません、遅刻しちゃいました」

「Em xin lỗi anh, tụi em tới muộn mất rồi.」


 僕は成人だけど聖人ではないので、無言で二人を睨むことにした。彼らの遅刻により、日曜日のフロアを一人で回すことになったのだ。流石に怒りが収まらなかった。

 Tôi chẳng thèm nói một lời, chỉ im lặng lườm hai đứa nó cháy mặt. Vì hai cái đứa đi muộn này mà tôi đã phải một mình cân trọn cái sảnh nhà hàng vào ngày Chủ nhật. Thực sự là ngọn lửa giận trong lòng tôi không cách nào nguôi ngoai ngay được.

 

 いつもは飄々としている彼らだが、今回ばかりは気まずかったのだろう。僕がシンクに溜まった洗い物をするために小厨房へと戻ったタイミングで、二人が慌てた様子で追いかけてきた。

 Bình thường hai đứa nó hay tỏ vẻ phởn phơ, cợt nhả là thế, nhưng lần này chắc cũng tự biết điều và thấy áy náy lắm rồi. Ngay khoảnh khắc tôi quay trở lại căn bếp nhỏ để xử lý đống bát đĩa bẩn đang chất cao như núi trong bồn rửa, hai đứa nó liền lật đật chạy đuôi theo sau.


「いや、マジでごめん、めっちゃ怒ってるよな?」

「Kìa tiền bối, tụi em xin lỗi mà, anh đang cáu điên lên rồi đúng không?」

 

「……怒ってないけど」

「……Có cáu đâu.」


 喉の奥から低い声が出た。まだ溜飲は下がらない。

 Một thanh âm trầm thấp, lạnh lùng rít ra từ sâu trong cuống họng tôi. Cục nghẹn trong lòng vẫn chưa thể nào nuốt trôi được.

 

「いや、本当にごめん。学祭の屋台で成田くんが服を汚したりしてさ、色々あったんよ」

「Kìa, tụi em thực sự xin lỗi anh mà. Tại ở quầy hàng trên lễ hội trường, thằng Narita nó làm bẩn hết quần áo rồi phát sinh đủ thứ chuyện trên đời ý ạ.」

 

「ちょい、俺のせいにするなよ。いや、でも本当にすいません。まだ先輩って休憩行けてないですよね。俺が洗い物は全部やっておくんで!」

「Ơ kìa, sao anh lại đổ hết lên đầu em thế. Nhưng mà tiền bối ơi, tụi em xin lỗi anh nhiều ạ. Đến giờ này mà anh vẫn chưa được đi nghỉ ca đúng không ạ. Để đống bát đĩa này em thầu hết cho, anh cứ mặc kệ em!」


 これで充分な威圧感は出せただろう。遅刻に寛容な先輩だと思われるのは心外だが、このまま雰囲気を悪くし続けても、この状況が良くなる訳でもない。まだ夜のピーク帯という正念場が残っているのだ。僕は打算的な考えに基づいて、外向きの怒りを引っ込めることにした。

 Thôi thế này là đủ tạo ra một màn uy hiếp ra trò rồi đấy nhỉ. Để tụi nó nghĩ mình là một ông tiền bối dễ dãi với việc đi muộn thì thật là sai lầm, nhưng nếu cứ tiếp tục làm căng và giữ cái bầu không khí hầm hầm này thì tình hình cũng chẳng khá khẩm hơn được chút nào. Trước mắt vẫn còn một trận chiến sống còn vào khung giờ cao điểm buổi tối đang chờ đợi phía trước. Dựa trên sự tính toán đầy lý trí của mình, tôi quyết định thu hồi lại sự phẫn nộ đang phơi bày ra mặt.


「いいよ、許してあげる。でも、この後の休憩はちょっと長めに行かせてよね」

「Được rồi, tôi tha lỗi cho đấy. Nhưng mà, lát nữa bù lại tôi sẽ đi nghỉ ca dài hơn một chút đấy nhé.」

 

「もちろん、俺らの休憩を削ってもいいからさ!」

「Dạ tất nhiên rồi ạ, anh có cắt bớt giờ nghỉ ca của tụi em đi cũng được nữa là!」

 

「もちろん、いっぱい休んでください!」

「Dạ vâng, anh cứ nghỉ ngơi thật nhiều cho đã đời đi ạ!」


 二人の声が重なる。全く調子のいい後輩だ。

 Giọng hai đứa nó đồng thanh vang lên. Đúng là cái lũ hậu bối khéo mồm khéo miệng, gió chiều nào theo chiều nấy.

 

「じゃあ、今から行ってくる。あとで戻ってきたら、学祭の話も聞かせてよね」

「Thế tôi đi nghỉ đây. Tẹo nữa tôi quay lại, nhớ kể cho tôi nghe chuyện ở lễ hội trường đấy nhé.」

 

 きっちりと長めの休憩を要求して貸しを作り、夜のピーク帯に向けたフロアの士気を戻していく。我ながら見事なアンガーマネジメントだったと思う。

 だから、僕個人としては彼らに対する遺恨は残らなかった。

 Yêu cầu một khoảng thời gian nghỉ ca dài hơn một chút để khiến tụi nó phải mắc nợ mình, rồi từ đó vực dậy sĩ khí của cả sảnh cho khung giờ cao điểm buổi tối. Tự bản thân tôi cũng thấy đây là một màn quản trị cơn giận (anger management) vô cùng xuất sắc.

 Chính vì vậy, xét trên tư cách cá nhân, tôi đã không còn giữ chút hiềm khích hay oán hận nào với hai đứa nó nữa.


「ただいま、休憩戻ったよ。それで学祭は楽しかった?」

「Tôi về rồi đây, nghỉ ca xong rồi nhé. Thế đi lễ hội trường có vui không đấy?」

 

「あぁ、その話なんだけどさ……」

「À, cái chuyện đó thì như này anh ạ……」


 しかし、これは10月27日に僕が経験した出来事だ。この目線では彼らが学祭で盛り上がってシフトに遅刻しただけのことに思えたが、裏で起きている事態は更に複雑だったようだ。

 Thế nhưng, đây mới chỉ là những gì mà tôi được trải nghiệm vào ngày 27 tháng Mười. Dưới lăng kính và góc nhìn của tôi lúc bấy giờ, chuyện này tưởng chừng chỉ đơn giản là việc hai đứa nó mải đi quẩy lễ hội trường rồi đâm ra đi làm muộn. Nào ngờ, cục diện bùng nổ diễn ra ở phía sau hậu trường lại phức tạp và rắc rối hơn thế nhiều.


「えっ。木澤くん達が行った学祭って、片桐さんとは別の大学だったのか。片桐さんのバンドを観に行くって約束してたんじゃなかったの!?」

「Cái gì cơ!? Lễ hội trường mà bọn em đi là của một trường đại học hoàn toàn khác với trường của em Katagiri á? Chẳng phải bọn em đã hứa là sẽ đến xem ban nhạc của em Katagiri biểu diễn rồi hay sao!?」

 

「いやぁ、最近はギクシャクしてたんだよね。なんかドタキャンしちゃったわ」

「Thì tại dạo gần đây bọn em cứ bị bằng mặt không bằng lòng ý anh. Thế là tụi em hủy lịch phút chót (bùng kèo) luôn.」

 

 僕は頭を抱えた。

 Tôi chỉ biết ôm đầu ngao ngán.

 

「……やってる事やばいね。それでインスタに載せた写真が片桐さんにバレて、大量のDMが来てるんでしょ?」

「……Bọn em làm trò này là hơi bị dại dột (gây chuyện lớn) rồi đấy nhé. Rồi bây giờ mấy cái ảnh đăng lên Instagram bị chị Katagiri phát hiện, nên chị ấy đang spam một rổ tin nhắn DM khủng bố qua đúng không?」

 

「いや、やばい自覚はあるけどさ。まぁ、何とかなるっしょ。それに成田くんも共犯だしな」

「Thì tụi em cũng tự biết là mình nghịch dại rồi mà. Mà thôi, kiểu gì chẳng có cách giải quyết. Dù sao thì thằng Narita cũng là đồng phạm với em mà.」

 

「おい、木澤くんが投稿したせいだろ!」

「Ơ kìa, chẳng phải là tại anh Kizawa tự tiện đăng lên mạng xã hội hay sao!」

 

 どうやら話を聞く限り、木澤くんと成田くんが片桐さんの学祭に行く約束を破って、直前で別の大学に目的地を変更したらしい。つまりドタキャンということだ。そして、その様子をインスタグラムに投稿して、そのストーリーが片桐さんに見つかったらしい。その全貌を木澤くんの口から聞いた時、僕は普通に呆れ返るしかなかった。彼らは危機感を持たずにヘラヘラと笑っていた。

 Theo như những gì tôi hóng hớt được, có vẻ như Kizawa và Narita đã lật lọng, thất hứa chuyện đến cổ vũ lễ hội trường của Katagiri, để rồi ngay trước giờ G lại quay xe đổi địa điểm sang một trường đại học khác. Nói trắng ra là bùng kèo phút chót. Đã thế, bọn nó còn hồn nhiên đăng tải cái khoảnh khắc đi quẩy đó lên Instagram, và thế là đoạn Story đó đập thẳng vào mắt Katagiri. Khi được chính miệng Kizawa kể lại toàn bộ ngọn ngành câu chuyện, tôi chỉ biết cạn lời, ngán ngẩm toàn tập. Vậy mà hai cái đứa gây chuyện kia vẫn không một chút cảm giác khủng hoảng, cứ đứng đấy cười hơ hớ với nhau.

 

 この日からフロアにピリピリとした空気が流れるようになった。その原因は明らかだった。

 Kể từ ngày hôm đó, bầu không khí ngoài sảnh bắt đầu trở nên căng thẳng, nồng nặc mùi thuốc súng. Mà nguyên nhân của nó thì đã quá rõ ràng rồi.


 (このままだとフロアが内部分裂するぞ)

 (Cứ cái đà này là nội bộ lục đục, tan đàn xẻ nghé đến nơi rồi đây.)

 

 去年まではフロアの従業員は女性の比率が多かったらしい。そこに僕というフリーターが現れて、最近は佐々木くんという男子高校生も現れて、これまで抑圧されていた男性陣の気が大きくなったようだ。今回のドタキャン騒動がその不和に火を付けた。木澤くんと成田くんの行動を調子に乗っていると評価する片桐さんと、それに反発する問題児の二人。その争いに巻き込まれたくないと傍観する僕や丸林さんといった年長者。当事者に意見を求められて困惑する高校生。中島店長は優しすぎて頼りにならない。誰にも仲裁できない水面下の決戦が火花を散らした。

 Nghe nói cho đến năm ngoái, tỉ lệ nhân viên nữ ngoài sảnh vẫn chiếm đa số. Thế rồi một kẻ làm tự do như tôi xuất hiện, dạo gần đây lại có thêm cậu nhóc cấp ba Sasaki gia nhập, khiến cho hai cái thành phần nam giới vốn bị áp bức bấy lâu nay bỗng trở nên gan dạ và lộng hành hơn hẳn. Vụ lùm xùm bùng kèo lần này chẳng khác nào mồi lửa châm ngòi cho sự bất hòa ấy. Em Katagiri thì đánh giá hành động của Kizawa và Narita là cái thói tinh tướng, ảo tưởng sức mạnh, còn hai đứa kia thì lại ra sức tỏ thái độ bất mãn, phản kháng. Những người lớn tuổi (bề trên) như tôi hay chị Marubayashi thì chỉ muốn làm khán giả đứng xem drama chứ chẳng dại gì nhúng tay vào cuộc chiến. Mấy đứa nhóc cấp ba thì ngơ ngác, khốn khổ khi bị các bên lôi kéo bắt phải đứng về phía mình. Quản lý Nakajima thì lại quá hiền lành nhu nhược nên chẳng thể trông cậy được gì. Một cuộc đại chiến ngầm không ai có thể đứng ra hòa giải đang không ngừng tóe lửa ở ngay dưới mặt nước phẳng lặng.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ