表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
グラデーション(Thứ bậc màu sắc)  作者: ふくマカロニ
あなたの国で雪は降らない
PR
19/27

ゆっくりと動き出す予感

 その日任せの軽いフットワークで、ウーさんとフォーを食べに行った二日後。僕は水曜日のシフトに出勤していた。

 Hai ngày sau buổi đi ăn Phở đầy ngẫu hứng với chị Ước. Tôi đang có ca làm việc vào ngày thứ Tư.


「はい、これで湯呑みは全部洗い終わったよ」

「Xong rồi nè, cốc tách tớ rửa sạch bách hết rồi nhé.」

 

「あとは拭くだけだな、先輩!」

「Giờ chỉ việc lau khô thôi nhỉ, tiền bối!」

 

 今夜は"とば寿司"の小厨房に囚われていた。食洗機で汚れを取り除いたばかりの濡れた湯呑みを布巾で拭く作業。乾かした湯呑みを次から次へとお盆に乗せていく。単純かつ連続した作業。アルバイトに求められている仕事なんてこの程度だ。

 Đêm nay, tôi đang bị "giam lỏng" trong căn bếp nhỏ (tiểu trù phòng) của Toba Sushi. Công việc là lau khô những chiếc cốc vừa được máy rửa bát lấy đi lớp vết bẩn và còn đang ướt sũng bằng một chiếc khăn vải. Những chiếc cốc sau khi làm khô lại được xếp lần lượt, hết chiếc này đến chiếc khác lên khay. Một công việc đơn giản và lặp đi lặp lại liên tục. Kể ra thì việc làm thêm đòi hỏi ở một người làm công cũng chỉ đến mức này mà thôi.


「うーん、早く帰ってくれないかな」

「Uôi, ước gì khách về sớm sớm cho mình nhờ nhỉ.」

 

「まじ、それな」

「Chuẩn luôn anh ơi, chuẩn bài.」

 

 今週もバイト三昧の日々だ。いつものように備品補充や洗い物の作業を終えて、最後のお客さんが帰るのを小厨房で待っていた。彼らが会計を終えたら、もう今夜は閉店することができる。このラスト(深夜帯)の顔馴染み、フリーターの木澤くんと暇を潰すように談笑した。

 Tuần này tôi cũng ngập ngụa trong những ngày làm thêm. Sau khi hoàn thành việc bổ sung các đồ dùng dự trữ và dọn rửa như thường lệ, tôi đứng trong bếp nhỏ chờ vị khách cuối cùng ra về. Chỉ cần họ tính tiền xong là đêm nay chúng tôi có thể đóng cửa ra về. Tôi vừa nói chuyện phiếm vừa cười đùa với Kizawa – cậu bạn làm tự do (freeter) quen mặt trong các ca đóng cửa (last) này để giết thời gian.


「先輩って学祭とかに興味あるの?」

「Tiền bối có hứng thú với mấy cái lễ hội trường (Gakusai) không?」

 

「いや、ないよ。もう学生は卒業しちゃったからね」

「Không, tôi chịu thôi. Tôi tốt nghiệp đời sinh viên lâu rồi mà.」


 木澤くんが使用済みの布巾を丸めて、ジャグリングするように遊んでいる。ギャンブル中毒でジャグラー好きの彼にはお似合いの行動だ。きっと今月の給料もギャンブルに注ぎ込んでしまうのだろう。彼の生活は"濡れ手で粟"という訳にはいかないようだ。

 Kizawa vo tròn chiếc khăn lau đã qua sử dụng rồi tung hứng như thể đang làm xiếc. Hành động đó xem ra rất hợp với một kẻ nghiện cờ bạc và mê trò Juggler (máy xèng) như cậu ta. Chắc chắn tiền lương tháng này của cậu ta cũng lại nướng sạch vào mấy trò đỏ đen thôi. Đúng là chẳng thể có chuyện "tay không bắt giặc" (ngồi mát ăn bát vàng) dễ dàng thế được.

 

「そっかー。なんか今度さ、片桐さんが大学の文化祭でバンドのボーカルをするらしくてよ。俺も誘われたから観てくるわ」

「Thế ạ. Nghe bảo sắp tới chị Katagiri sẽ làm giọng ca chính (vocal) cho một ban nhạc ở lễ hội văn hóa của trường đại học đấy. Em cũng được mời nên chắc sẽ đi xem thử xem sao.」

 

「おお、いいじゃん。そういえば片桐さんはバンドを組んでるって言ってたね。楽しんでおいでよ」

「Ồ, ngon vậy. Nhắc mới nhớ, trước em Katagiri cũng bảo có lập một ban nhạc nhỉ. Đi chơi vui vẻ nhé.」


 もうジャグリングには飽きたのか。木澤くんが手持ち無沙汰そうにボールペンをくるくるっと指先で回した。僕も真似をしてペン回しをする。さりげないミラーリング効果を狙ってみた。

 Chắc là đã chán trò tung hứng, Kizawa lại lóng ngóng quay quay chiếc bút bi trên các đầu ngón tay một cách vô định. Tôi cũng bắt chước quay bút theo cậu ta. Tiện thể thử vận dụng hiệu ứng phản chiếu (mirroring effect) trong tâm lý học xem sao.


「先輩は好きなバンドのライブとか行かねーの?」

「Tiền bối không đi xem liveshow của ban nhạc nào mình thích à?」

 

 

「僕は重低音が苦手なんだよな。太鼓の音とか振動が怖くなるんだよね」

「Tôi bị dị ứng với mấy âm thanh trầm (bass) nặng đô ý. Tiếng trống hay mấy cái độ rung mạnh cứ làm tôi thấy run run sợ sợ kiểu gì ý.」

 

「あれ、太鼓じゃなくてドラムな」

「Kìa, cái đó người ta gọi là trống Jazz (drum) chứ ai gọi là trống thường (taiko)」

 

「そうとも言うね」

「Thì cũng là một cách gọi thôi mà.」

 

「そうとしか言わんて。というか、ペン回し上手くね?」

「Gọi thế ai mà hiểu được. Mà công nhận, tiền bối quay bút đỉnh thế?」


 木澤くんが悔しそうに自分のボールペンをポケットにしまい込んだ。ふふんと僕は鼻を鳴らす。ミラーリングというより、どうでもいいマウントを取っただけである。

 Kizawa có vẻ ấm ức, liền nhét tọt chiếc bút bi của mình vào túi áo. Tôi khẽ hếch mũi lên đắc ý. Cái này chẳng phải hiệu ứng phản chiếu gì sất, đơn giản là tôi vừa làm một màn thể hiện cái tôi (flex) vô thưởng vô phạt mà thôi.

 

 その時、小厨房を覗き込む二人分の人影があった。

 Đúng lúc đó, có hai bóng người khẽ ghé mắt nhìn vào căn bếp nhỏ.


「おお、ウーさんじゃん。あとジョンさんも」

「Ồ, chị Ước kìa. Cả anh John nữa.」

 

「本当だ、ジョンさん、ウーさん、お疲れ様です」

「A đúng rồi, xin chào anh John, chào chị Ước nha.」


 ジョンさんとウーさんが小厨房に並んで顔を出す。僕は二人に会釈を返した。このフロア従業員の憩いの場で顔を合わせるには珍しい組み合わせだった。

 Anh John và chị Ước ló mặt vào căn bếp nhỏ. Tôi khẽ cúi đầu chào hai người. Đây là một sự kết hợp khá hiếm thấy ở cái chốn nghỉ ngơi của nhân viên chạy bàn này.

 

 ジョンさんは統括マスターのベトナム人で、眼鏡をかけているベトナム人の若い男性だ。僕より二つだけ歳上だった気がする。厨房のゴックさんという可愛い女の子の恋人がいる。あと付け加えるなら、木澤くんとは相性が悪いようで、たまにギクシャクした雰囲気を出している。

 Anh John là người Việt Nam, hiện giữ chức Quản lý tổng quát (Tokatsu Master), là một anh chàng trẻ tuổi đeo kính. Nếu tôi nhớ không nhầm thì anh ấy hơn tôi hai tuổi. Anh ấy có cô người yêu tên là Ngọc cũng rất dễ thương làm ở dưới bếp. Và nếu phải nói thêm một điều nữa, thì có vẻ anh ấy và Kizawa không hợp cạ nhau cho lắm, thi thoảng hai người cứ tỏa ra cái bầu không khí gượng gạo, bằng mặt không bằng lòng.


「まだノーゲストではないね。あとお客さんは一組ですか?」

「Vẫn chưa hết khách (no guest) nhỉ. Còn một đoàn nữa đúng không?」

 

「はい、そうですよ」

「Vâng, đúng vậy ạ.」

 

「そうか。それならウー、ここで待っていてください」

「Thế à. Vậy thì Ước, em đứng đây đợi một chút nhé.」


 ジョンさんが流暢な日本語で尋ねてくる。しれっと木澤くんが顔を逸らしたので、何故か僕だけが返事することになった。ジョンさんは大して気にもせず、小厨房を通り過ぎてレジへと入っていく。

 Anh John hỏi bằng thứ tiếng Nhật vô cùng lưu loát. Kizawa khẽ quay mặt đi chỗ khác với vẻ không mấy mặn mà, nên chỉ có mình tôi lên tiếng trả lời. Anh John cũng chẳng mấy bận tâm, anh đi xuyên qua căn bếp nhỏ để bước vào quầy thu ngân.


「先輩、先にトイレを閉めてくるわ。そっちは任せた」

「Tiền bối ơi, em ra chốt cái nhà vệ sinh trước nhé. Chỗ này giao lại cho anh đấy.」

 

「いってらっしゃい」

「Ok, đi đi em.」


 異国人の統括マスターの前では、さっきまでのようにリラックスできなかったのだろうか。少しだけ表情を固くした木澤くんが適当な仕事を探しにフロアへ出ていく。

 その後ろ姿を見送って、僕は取り残されているウーさんに向き直った。一緒に出かけたのは二日前で、どこか面映い気持ちになってしまう。

 Chắc là đứng trước mặt một vị quản lý người nước ngoài thì khó mà tiếp tục buôn chuyện được chăng? Kizawa với gương mặt hơi đanh lại một chút liền kiếm đại một công việc rồi bước ra phía sảnh.

 Nhìn theo bóng lưng cậu ta đi khuất, tôi quay sang đối diện với chị Ước đang bị bỏ lại. Vì mới đi chơi với nhau cách đây hai ngày nên khoảnh khắc này tự dưng lại thấy có chút ngượng ngùng, mặt nghệt ra.


「久しぶりだね、ウーさん。元気だった?」

「Lâu rồi không gặp nhỉ, chị Ước. Chị có khỏe không?」

 

「うん、久しぶり。とても元気よ」

「Ừm, lâu rồi không gặp. Chị khỏe lắm.」

 

 そこで僕は首を傾げた。

 Đến đây thì tôi khẽ nghiêng đầu thắc mắc.

 

「それにしてもウーさんがフロアに来るなんて珍しいね。どうしたの?」

「Mà hiếm khi thấy chị Ước ra phía sảnh thế này nhỉ. Có chuyện gì thế chị?」


 ウーさんがはにかむように微笑んだ。

 Chị Ước khẽ mỉm cười đầy thẹn thùng.


「私は統括の仕事を勉強している。これからレジ締めね」

「Chị đang học việc quản lý. Lát nữa sẽ học cách chốt doanh thu két tiền.」

 

「そっか、頑張ってね!」

「Ra là vậy, chị cố lên nhé!」


 僕はぐっと拳を握ってみせた。コツンっと小さな拳が間髪入れずにぶつかってくる。ウーさんは微笑した。

 Tôi nắm chặt bàn tay lại để cổ vũ chị. Và rồi, một nắm đấm nhỏ nhắn khẽ "cộc" nhẹ vào tay tôi. Chị Ước khẽ mỉm cười đầy thẹn thùng.


「ありがとうね。大変だけど頑張ってみるよ」

「Cảm ơn em nhiều nha. Tuy mệt nhưng chị sẽ cố gắng xem sao.」


 その時、お客さんの会計を示すランプが点滅した。レジから顔を出したジョンさんがこっちに手招きする。確かに初回でレジの複雑な操作を教えるなら、日本人の店長よりもベトナム人同士の方が適任なのかもしれない。ここに二人が現れた理由に納得したところで、僕はウーさんに手を振った。

 Đúng lúc đó, chiếc đèn tín hiệu báo khách thanh toán nhấp nháy liên hồi. Anh John ló đầu ra từ quầy thu ngân vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi. Quả thực, nếu là lần đầu tiên dạy những thao tác phức tạp trên máy tính tiền, việc để người Việt Nam chỉ bảo cho nhau xem ra lại thích hợp hơn là để ông quản lý người Nhật làm. Hiểu ra lý do hai người xuất hiện ở đây, tôi vẫy tay chào chị Ước.


「じゃあね、頑張って。僕も頑張ってくる」

「Vậy nhé, chị cố lên. Tôi cũng đi làm việc của tôi đây.」

 

「うん、お疲れ様ね」

「Ừm, em làm việc vất vả nhé.」


 僕はフロアで木澤くんと合流して、その日のラスト作業を順調に終わらせた。事務所を出た帰り際、レジ締めを実演中のジョンさんとウーさんに別れを告げた。さよならの挨拶は欠かしたくない。

 I hội quân với Kizawa ngoài sảnh và thuận lợi hoàn thành những công việc dọn dẹp cuối cùng của ngày. Lúc rời khỏi văn phòng để đi về, tôi không quên chào tạm biệt anh John và chị Ước đang thực hành chốt két tiền.

 

 二人で遊びに行ったからといって、急に関係性が変わった訳ではない。それでも、いつもと違う私服姿を意識してからの、紺色のはっぴに身を包んだ姿で会うというのは、どこか不思議なギャップを生じさせていた。

 Không phải cứ đi chơi riêng với nhau một buổi là mối quan hệ giữa hai đứa sẽ lập tức thay đổi 180 độ. Thế nhưng, việc gặp lại chị trong bộ áo Happi màu xanh thẫm sau khi đã lỡ "khắc cốt ghi tâm" dáng vẻ thường phục đáng yêu ngày hôm đó, quả thực đã tạo nên một sự chênh lệch vô cùng kỳ diệu.


 (僕の世界は狭いから、この職場でしか恋心は補充できないみたいだな)

 (Thế giới của mình nhỏ bé quá, nên có vẻ như những xúc cảm yêu đương này chỉ có thể được sạc đầy tại chính nơi làm thêm này mà thôi.)


 帰り道、フリーターは湿っぽい独白を喉奥に流し込んだ。

 Trên đường về, tôi nuốt trôi lời độc thoại đầy cay đắng của một kẻ làm tự do vào sâu trong cuống họng.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ