表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
グラデーション(Thứ bậc màu sắc)  作者: ふくマカロニ
バナナをくれた女の子
PR
18/27

フォーの店に出かけたよ

 僕は溜息を吐いた。

 Tôi khẽ thở dài.


「あーあ、息抜きがしたかったのにな」

「Trời ạ, mình chỉ muốn ra ngoài đổi gió một chút thôi mà.」


 お盆休みが終わって、千葉を台風が通過した。世間は長期休みのタイミングに集中豪雨が重ならなくて幸いだったと喜んでいたが、僕としては複雑な気持ちだった。

 Kỳ nghỉ Obon vừa kết thúc thì cũng là lúc một cơn bão càn quét qua tỉnh Chiba. Mọi người xung quanh đều thở phào nhẹ nhõm, mừng rỡ vì trận mưa xối xả này không trùng vào đúng đợt nghỉ dài ngày của họ, nhưng lòng tôi thì lại đầy ngổn ngang mâu thuẫn.

 

 今日の外出は断念するしかない。土砂降りの雨に濡れた衣服を部屋干ししながら、窓ガラスを伝う大粒の水滴を睨みつける。本当に意地悪なタイミングだった。

 Chẳng còn cách nào khác, tôi buộc phải từ bỏ ý định ra ngoài ngày hôm nay. Vừa treo đống quần áo sũng nước vì trận mưa lớn vào trong phòng, tôi vừa lườm những giọt nước mưa to bản đang lăn dài trên mặt kính cửa sổ. Thời điểm này đúng là biết trêu ngươi lòng người mà.


 (ウーさんは大丈夫かな。この雨だと自転車で移動するのは大変だろうな)

 (Không biết chị Ước có sao không. Mưa gió tầm tã thế này mà phải đi xe đạp thì vất vả lắm đây.)

 

 そうこうしている内に今年の夏休みが終わった。

 僕が誰かと遊びに行く機会はなかった。

 Cứ thế, kỳ nghỉ hè của tôi đã khép lại.

 Đã không có một cơ hội đi chơi nào giữa tôi và một ai đó diễn ra cả.


ーーー

 

 そして季節が秋へと移り変わり、9月の初日となった。

 Rồi mùa thu cũng sang, hôm nay đã là ngày đầu tiên của tháng Chín.


「お先に失礼します」

「Em xin phép về trước ạ.」

 

 フロアの仕事は厨房より早く終わる。ウーさんの顔を見て挨拶するのとは別で、LINEでも労いのメッセージを送ることが僕の日課となっていた。

 Công việc ngoài sảnh luôn kết thúc sớm hơn trong bếp. Ngoài việc chào hỏi trực tiếp khi nhìn thấy chị Ước, việc gửi tin nhắn hỏi thăm chị qua LINE cũng đã trở thành thói quen hàng ngày của tôi.


「今日もお疲れ様。外は雨だから気をつけてね」

「Hôm nay chị cũng vất vả rồi. Ngoài trời đang mưa nên chị đi đường cẩn thận nhé.」

 

 それは何とない日課の延長線だった。

 バイトが終わった深夜の12時過ぎ。日付が日曜日から月曜日に変わって、新たな一週間が始まったばかりだった。

 Đó chỉ là một phần trong thói quen dung dị hàng ngày của tôi.

 Lúc đó là hơn 12 giờ đêm, ca làm kết thúc. Ngày cũ đã chuyển từ Chủ Nhật sang thứ Hai, một tuần mới vừa mới bắt đầu.

 

「あの、あなたは月曜バイトする?」

「À này, thứ Hai em có đi làm thêm không?」

 

 僕がシャワーを浴びているタイミングで、ウーさんからの返信があった。ポンっという通知音は水音にかき消されていた。だから即座の返信はできなかった。

 Tin nhắn từ chị Ước gửi đến đúng lúc tôi đang tắm. Tiếng chuông báo "pính" đã bị tiếng nước xối xóa đi mất. Vì vậy, tôi không thể trả lời ngay lập tức.

 

「今日なら僕は休みだよ」

「Hôm nay tôi được nghỉ chị ạ.」


 次の返信は早朝の7時だった。まだ僕は寝ている時間だった。また即座に返信できなかった。

 Tin nhắn tiếp theo từ chị đến vào lúc 7 giờ sáng. Đó là khoảng thời gian tôi vẫn còn đang ngủ. Lại một lần nữa tôi không thể phản hồi ngay.


「そうか。ラーメンとか一緒に食べに行かない?」

「Vậy à. Thế đi ăn mì Ramen hay gì đó cùng chị không?」


 朝の8時過ぎ。この文章を寝起きに見て、どれだけ驚いたことか。洗面所で顔を洗う時間も惜しく、僕はショボショボする目で返信を打ち込んだ。

 Hơn 8 giờ sáng. Bạn có biết tôi đã kinh ngạc đến nhường nào khi nhìn thấy dòng chữ này ngay khi vừa ngủ dậy không? Chẳng thèm tốn thời gian vào nhà vệ sinh rửa mặt, tôi dùng đôi mắt vẫn còn kèm nhèm để gõ vội câu trả lời.


「今起きた、行こう!」

「Tôi vừa mới dậy xong, đi chứ chị!」

 

「どこ行こうかな。ああ、ベトナム料理食べてみる?」

「Đi đâu được nhỉ. À, em có muốn ăn thử đồ ăn Việt Nam không?」

 

「前に教えてくれた店?」

「Quán quán lần trước chị chỉ cho tôi ạ?」

 

「そう、フォーなどあるよ。行ってみない?」

「Đúng rồi, có cả Phở nữa đấy. Đi thử không em?」


 お盆休みが終わったら、ご飯を食べに行こう。この誘いは台風の襲来で宙ぶらりんになっていた。あれから二週間が経っても、ちゃんと覚えていてくれたことが嬉しい。

 Lời hứa "hết đợt bận Obon sẽ đi ăn cùng nhau" từng bị bỏ lửng do cơn bão càn quét. Tôi hạnh phúc vô cùng khi nhận ra dù đã hai tuần trôi qua, chị vẫn nhớ rõ điều đó.

 

「それはいいね、行きたい!」

「Tuyệt quá, tôi muốn đi!」

 

「ふふっ、何時だったらどう?」

「Hì hì, mấy giờ thì được nhỉ?」

 

「今日はいつでも大丈夫。ウーさんは昼と夜どっちがいい?」

「Hôm nay lúc nào tôi cũng rảnh ạ. Chị muốn đi buổi trưa hay buổi tối?」

 

「あっ、質問間違ったらww」

「Á, chị nhắn nhầm câu hỏi mất rồi ww」


 僕が首を傾げていると、追加のメッセージがあった。

 Trong lúc tôi còn đang nghiêng đầu thắc mắc thì tin nhắn tiếp theo đã tới.


「夜かな。今学校にいる」

「Chắc là buổi tối nha. Bây giờ chị đang ở trường.」

 

「授業だったら抜け出せないねww」

「Đang trong giờ học thì không trốn ra ngoài được rồi ww」

 

「うん、今は休憩だったww」

「Ừm, vừa nãy là giờ giải lao đó ww」


 僕はスマホで店の場所を再確認した。自宅から徒歩で向かっても20分くらいの距離にある。それなら一般的な夕食の時間の待ち合わせで大丈夫だろう。

 Tôi mở điện thoại để xác nhận lại vị trí của quán một lần nữa. Từ nhà tôi đi bộ đến đó mất khoảng 20 phút. Nếu vậy thì hẹn nhau vào giờ ăn tối bình thường là ổn rồi.


「18時くらいに集合でいい?」

「Tầm 18 giờ tụi mình tập hợp được không chị?」

 

「うん、また18時に」

「Ừm, hẹn em 18 giờ nhé.」

 

「集合する場所はどうする?」

「Mình sẽ gặp nhau ở đâu ạ?」

 

「柏駅かな。ドンキホテの近くのコンビニ知ってる?」

「Chắc là ga Kashiwa nha. Em có biết cái cửa hàng tiện lợi ở gần Don Quijote không?」


 柏駅の目の前にあるドンキホーテなら知っている。その近くのコンビニも見かけたような気がする。パッとコンビニの位置を検索して、自分の記憶に齟齬がないことを確認した。初めての待ち合わせは慎重になりたい。

 Cửa hàng Don Quijote ngay trước ga Kashiwa thì tôi biết rõ. Tôi cũng có máng máng nhớ là có một cửa hàng tiện lợi ở gần đó. Tôi nhanh chóng tìm kiếm vị trí cửa hàng tiện lợi trên bản đồ để chắc chắn rằng trí nhớ của mình không bị nhầm lẫn. Tôi muốn thật cẩn thận cho lần hẹn gặp đầu tiên này.

 

「知ってる!」

「Tôi biết chỗ đó!」

 

「じゃあコンビニで会う。授業だからまた後でね」

「Vậy hẹn gặp nhau ở cửa hàng tiện lợi nhé. Chị vào học tiếp đây, hẹn gặp lại em sau nha.」

 

「うん、楽しみにしておく!」

「Vâng, tôi sẽ rất mong chờ đấy!」


 ウーさんとの会話が終わっても、僕はスマホを手放せなかった。いきなりの誘いには驚いたが、ここで退く理由もない。きっと意思疎通が難しくなるほど、体温のある営みを大切に感じるはずだから。

 Dù cuộc trò chuyện với chị Ước đã kết thúc, tôi vẫn không thể rời mắt khỏi màn hình điện thoại. Sự chủ động bất ngờ này làm tôi ngạc nhiên, nhưng chẳng có lý do gì để tôi lùi bước cả. Tôi tin chắc rằng, khi việc thấu hiểu ngôn từ trở nên khó khăn, thì những tương tác có "nhiệt độ cơ thể" ngoài đời thực lại càng trở nên đáng trân quý hơn bao giờ hết.


ーーー


 僕は仮眠から目を覚ました。

 Tôi choàng tỉnh giấc sau một trận chợp mắt.


 (そろそろ準備する時間かな)

 (Đến lúc phải chuẩn bị rồi nhỉ.)


 17時に鳴り出したアラームを即座に止めて、外出の準備を始める。こういう時の服選びに時間がかからないのは男の特権だろう。フォーを食べに行くなら、飛び散った汁などの汚れが目立つような服装は避けておきたい。冷んやりとした生地のサマージャケットを手に取る。まだ外の気温は夏とさほど変わらない。この七分袖のジャケットで夜の柏市を歩くには充分だろう。黒いジャケットに合わせたインナーとジーンズをクローゼットから取り出した。

 Tôi lập tức tắt tiếng chuông báo thức vang lên lúc 17 giờ và bắt đầu chuẩn bị ra ngoài. Việc không tốn nhiều thời gian chọn quần áo trong những lúc thế này đúng là đặc quyền của đàn ông. Đã đi ăn Phở thì tốt nhất nên tránh những bộ đồ dễ làm lộ vết bẩn nếu lỡ bị nước dùng bắn vào. Tôi cầm lấy chiếc áo khoác summer jacket với chất vải mát rượi. Nhiệt độ ngoài trời lúc này vẫn chưa khác mùa hè là mấy. Một chiếc áo khoác tay lỡ (tay lửng) thế này là quá đủ để đi bộ ở thành phố Kashiwa vào buổi tối rồi. Tôi lấy từ trong tủ đồ ra một chiếc áo mặc bên trong và một chiếc quần jean sao cho hợp với sắc đen của chiếc áo khoác.

 

 (むむっ、見えにくいな)

 (Mưu u u, khó nhìn quá.)

 

 洗面所の鏡で今の服装を確認しようとして、小さな鏡には全身が入り切らずに断念する。まぁ、この服選びや着こなしに問題はないだろう。初めてのデートから気合を入れ過ぎて、その気がない相手との熱量の差を感じてしまうのも勿体無い。あくまで今日の食事会は、お互いにお盆のロングシフトを頑張った打ち上げのような集まりだ。

 Tôi định kiểm tra lại trang phục của mình trước gương nhà vệ sinh, nhưng đành bỏ cuộc vì chiếc gương nhỏ không thể soi được hết cả người. Mà thôi, chắc cách chọn đồ và phối đồ này của mình không có vấn đề gì đâu. Ngay từ buổi hẹn đầu tiên mà đã lên đồ quá lồng lộn, để rồi phải cảm nhận sự chênh lệch về nhiệt độ với một đối phương vốn không có ý đồ gì khác thì cũng thật phí công. Dù sao thì buổi ăn uống hôm nay cũng chỉ như một bữa tiệc liên hoan mừng cả hai đã nỗ lực hết mình trong đợt làm ca dài dịp Obon mà thôi.

 

 (フォーを食べるのは久しぶりだな。ベトナムでフォーを食べる時のマナーは調べたけど。お互いにとって落ち着ける夕食の時間になったらいいな。僕が頑張ろう)

 (Cũng lâu rồi mình mới lại ăn Phở nhỉ. Mình cũng đã tra cứu về văn hóa ăn Phở của người Việt rồi. Hy vọng đây sẽ là một bữa tối thoải mái cho cả hai. Mình phải cố gắng thôi.)

 

 僕の箸の使い方は凡人レベルなので、慣れない麺料理を服を一切汚さずに完食する自信はなかった。せめて、その後の対応でリカバリー出来るよう、新品のウェットティッシュをバッグの奥底に忍ばせておく。あとは清潔感を見せたい時のハンカチ、急に雨が降った時の折り畳み傘、小さな怪我をした時の絆創膏、ウーさんの自転車がパンクした時の空気入れ、ウーさんが肌寒さを感じた時のブランケット、そして……。

 Cách dùng đũa của tôi cũng chỉ ở mức bình thường như bao người, nên tôi không tự tin có thể ăn trọn vẹn một món mì lạ lẫm mà không làm bẩn quần áo chút nào. Ít nhất, để có thể "chữa cháy" kịp thời sau đó, tôi đã giấu sẵn một gói khăn giấy ướt mới tinh vào tận đáy ba lô. Tiếp theo là một chiếc khăn tay để thể hiện sự sạch sẽ, một chiếc ô gấp gọn phòng khi trời mưa đột ngột, vài miếng băng cá nhân phòng khi bị thương nhẹ, một cái bơm xe đề phòng xe đạp của chị Ước lại thủng lốp, một chiếc chăn mỏng nhỡ đâu chị Ước thấy lạnh, và rồi……


 (いや、流石に必要ないかも。これ以上はバッグが重くなってしまう。いったん整理するか)

 (Không, có khi mấy thứ này chẳng cần thiết đâu. Cứ thế này thì ba lô nặng chết mất. Phải dọn dẹp lại một chút thôi.)


 様々なシチュエーションを想定してしまうのは、きっと小説家としての習性なのだろう。我に帰った僕は気恥ずかしくなって、バッグで持ち込む物の取捨選択をした。

 Việc cứ tự vẽ ra đủ mọi viễn cảnh thế này chắc chắn là thói quen nghề nghiệp của một nhà văn rồi. Khi sực tỉnh và trở về với thực tại, tôi bỗng thấy ngượng ngùng và bắt đầu chọn lọc lại những thứ thực sự cần mang theo trong ba lô.

 

 17時30分になり、スッと自宅を抜け出した。

 今夜は何時帰りになるのだろう。ウーさんとの食事は何時くらいに解散するのだろう。一切の予想がつかない相手との食事会というのも久しぶりの経験だった。

 17 giờ 30 phút, tôi nhẹ nhàng bước ra khỏi nhà.

 Không biết đêm nay mấy giờ mới về nhỉ. Cuộc hẹn ăn uống với chị Ước sẽ giải tán lúc mấy giờ đây. Đã lâu lắm rồi tôi mới lại trải nghiệm một bữa ăn với một đối tượng mà mình hoàn toàn không thể dự đoán trước được điều gì như thế này.

 

 まだ昼の熱気が残っている黒いアスファルトを踏み締めて、通りすがりの電柱や車のナンバープレートを眺めながら歩いた。新潟で一人暮らしを始めた時から、徒歩で歩ける範囲の距離を移動する時は自転車やバスを使わないようにしている。気になった光景の前で立ち止まったり、意識を一点に集中させることが叶わないからだ。

 Dẫm chân lên lớp nhựa đường màu đen vẫn còn vương lại cái nóng ban ngày, tôi vừa đi bộ vừa ngắm nhìn những cột điện bên đường và biển số của những chiếc xe lướt qua. Từ hồi bắt đầu sống tự lập ở Niigata, tôi đã luôn tự quy định rằng nếu di chuyển trong phạm vi có thể đi bộ được thì sẽ không dùng xe đạp hay xe buýt. Bởi vì nếu làm vậy, tôi sẽ không thể dừng lại trước những cảnh tượng khiến mình chú ý, và cũng không thể tập trung ý thức vào một điểm duy nhất được.

 

 (そういえば、大学生の時から徒歩の移動が好きになったな。歩いている時の視野が広くなった)

 (Nghĩ lại thì, mình bắt đầu thích việc đi bộ di chuyển là từ hồi đại học. Tầm nhìn khi đi bộ trở nên rộng mở hơn hẳn.)

 

 初回のデッサンの授業で心に残っている言葉がある。やっとコロナ禍の騒ぎが収束して、待ちに待ったオフライン授業の始まりのオリエンテーションだった。

 Có một câu nói trong buổi học hình họa (sketch) đầu tiên vẫn luôn khắc sâu trong tâm trí tôi. Đó là buổi định hướng (orientation) đánh giá sự bắt đầu của các giờ học trực tiếp (offline) mà mọi người đã mong đợi từ lâu, ngay khi đại dịch Corona vừa kết thúc.

 

 ある教授が壇上でマイクを握った瞬間、どこか浮ついた雰囲気が引き締まるようだった。ざわついていた講義室が一瞬で静まり返ったのを今でも覚えている。

 Khoảnh khắc vị giáo sư nọ cầm lấy micro trên bục giảng, bầu không khí có phần đang bay bổng bỗng chốc trở nên nghiêm nghị. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nhớ như in việc phòng học vốn đang ồn ào bỗng im phăng phắc chỉ trong một giây.

 

「君たちは少なからず自分の力に自信を持って、この大学に入学したと思います。では、この中で何も見ずに電柱を描くことができる方はいますか。電柱でなくともいい。近所の猫や自宅のカーテン、自分たちが日常で見ているデザインを共有できる方はいますか?」

「Tôi nghĩ các em ngồi đây ít nhiều đều có sự tự tin vào năng lực của bản thân nên mới nhập học vào trường đại học này. Vậy thì, trong số các em, có ai có thể vẽ lại một cây cột điện mà không cần nhìn vào bất cứ tài liệu nào không? Không cần phải là cột điện cũng được. Một con mèo nhà hàng xóm, chiếc rèm cửa ở nhà, hay bất cứ thiết kế nào mà các em vẫn nhìn thấy trong cuộc sống hàng ngày, có ai có thể chia sẻ được không?」


 その静かな指摘に、僕を含めた生徒は誰も返答できなかった。一人の教授に部屋全体の空気が呑まれていた。

 Trước lời chất vấn lặng lẽ đó, không một sinh viên nào, bao gồm cả tôi, có thể đưa ra câu trả lời. Bầu không khí của cả căn phòng đã bị vị giáo sư một mình nuốt trọn.


「必ず目にする電柱や、通学に使う自転車、目の前を通過する自動車。外から見た自宅のアパート。君たちの生活には多くのデッサンの練習台が溶け込んでいます。将来、デザイナーの仕事をするに当たって、参考資料を見なくては描けないという弱音を吐くことは許されません。常に周囲の光景に目を光らせて、死ぬまで筆を動かすこと。それが君たちに伝えたいデッサンの意識です」

「Cây cột điện mà các em chắc chắn phải nhìn thấy, chiếc xe đạp dùng để đi học, chiếc ô tô lướt qua trước mắt. Hay tòa nhà chung cư nhìn từ bên ngoài vào. Cuộc sống của các em vốn dĩ đã hòa tan rất nhiều vật mẫu để luyện tập hình họa rồi. Sau này, khi làm công việc của một nhà thiết kế, các em sẽ không bao giờ được phép thốt ra lời than vãn yếu đuối rằng 'nếu không có tài liệu tham khảo thì em không vẽ được'. Phải luôn giữ cho đôi mắt nhạy bén với cảnh vật xung quanh, và cử động cây bút cho đến tận khi nhắm mắt xuôi tay. Đó chính là ý thức về hình họa mà tôi muốn truyền đạt cho các em.」


 とても厳しい人だった。それでも多くの生徒から慕われるに値する言葉と伝え方を持っている人だった。

 その教えは、小説を書くに当たっても通ずる理念があった。僕は死ぬまでアイデアを吐き続けるのだろう。

 Đó là một người thầy rất nghiêm khắc. Thế nhưng, thầy là người sở hữu những câu từ và cách truyền đạt hoàn toàn xứng đáng nhận được sự kính trọng từ rất nhiều sinh viên.

 Lời dạy đó cũng là một triết lý thông suốt đối với việc viết tiểu thuyết của tôi. Chắc chắn tôi cũng sẽ tiếp tục tuôn trào các ý tưởng cho đến tận cuối đời.


 (ナンバープレートの4桁の数字で暗算をするキャラがいたら、そのキャラの天才性を演出できるかな。一本一本の電柱にそれぞれの個性を感じて興奮するキャラがいたら、その電柱フェティシズムとも言える価値観がキャラの魅力に繋がらないかな……)

 (Nếu có một nhân vật có khả năng tính nhẩm bằng các chữ số trên biển số xe, liệu có thể làm nổi bật sự thiên tài của nhân vật đó không nhỉ? Hay nếu có một nhân vật luôn cảm thấy phấn khích trước cá tính riêng biệt của từng cây cột điện, liệu cái giá trị quan có phần 'cuồng cột điện' đó có trở thành nét cuốn hút của nhân vật không nhỉ……)


 そんな取り留めのない妄想を編んでいると、見覚えのあるドンキホーテが目の前に現れた。いつの間にか駅前まで潜り込んでいたようだ。先程までの静かな住宅街の街並みから、一気に喧騒が溢れる夕暮れの領域に突入する。

 Trong lúc đang thêu dệt nên những dòng suy nghĩ vẩn vơ, cửa hàng Don Quijote quen thuộc đã hiện ra trước mắt. Hóa ra tôi đã len lỏi đến trước nhà ga từ lúc nào không hay. Từ cảnh quan của khu dân cư yên tĩnh vừa nãy, tôi bỗng chốc lao thẳng vào vùng không gian hoàng hôn tràn ngập sự náo nhiệt.


 (ここまで来て、待ち合わせの場所を勘違いしてないよな。うん、ここで合ってるはず)

 (Mình không nhầm chỗ hẹn đấy chứ. Ừm, chắc chắn là ở đây rồi.)


 17時55分になり、集合場所のコンビニの店内でスマホを取り出す。短い文字を打ち込みながら、僕はコンビニの外に足を踏み出した。

 Đồng hồ điểm 17 giờ 55 phút, tôi rút điện thoại ra khi đang đứng bên trong cửa hàng tiện lợi là điểm tập kết. Vừa gõ những dòng chữ ngắn ngủi, tôi vừa bước chân ra phía bên ngoài cửa hàng.

 

「今ついたよ!」

「Tôi đến nơi rồi nè!」


 本当は集合時間の15分前に着いてしまったので、コンビニの店内で涼んでいた。僕の歩みが無意識に早まっていたようだ。まるでウサギとカメの良いとこ取りである。

 Thực ra vì đã đến trước giờ hẹn tận 15 phút nên tôi đã vào trong cửa hàng tiện lợi để tránh nóng. Có vẻ như bước chân của tôi đã vô thức nhanh hơn thường lệ. Đúng là sự kết hợp hoàn hảo giữa thỏ và rùa.

 

 コンビニの前にある建物の壁にもたれかかった。スマホを手持ち無沙汰に触りながら、お得意のポーカーフェイスを作ってみせる。現在の自分は孤独に立っているけど、それは待ち合わせの一環だという、どこの誰に弁解するでもないアピールをしておいた。実に空虚な在り方である。

 Tôi tựa lưng vào bức tường của tòa nhà trước cửa hàng tiện lợi. Vừa chạm nhẹ vào điện thoại để giết thời gian, tôi vừa cố tạo ra một vẻ mặt lạnh lùng (poker face) sở trường của mình. Tôi muốn phát ra một tín hiệu – dù chẳng biết là để biện bạch với ai – rằng 'hiện tại tôi đang đứng cô đơn một mình thế này thực chất chỉ là một phần của việc chờ hẹn mà thôi'. Thật là một cách tồn tại trống rỗng làm sao.

 

「ああ、ちょっと待ってね。そこまで行ってる」

「À, chờ chị một chút nhé. Chị đang đi đến đó rồi.」

 

「分かった!」

「Vâng ạ!」


 ウーさんからの返信は3分後だった。待ち合わせをすっぽかされなかったという事実に口角が上がる。僕の涼しげなポーカーフェイスには改善の余地がありそうだ。

 Tin nhắn trả lời của chị Ước đến sau đó 3 phút. Khóe miệng tôi khẽ nhếch lên trước sự thật rằng mình không bị cho leo cây. Xem ra vẻ mặt lạnh lùng của tôi vẫn cần phải cải thiện thêm rồi.


「おはよう、待った?」

「Chào buổi sáng, em chờ lâu chưa?」


 僕が駅の方向に注目していると、思わぬ方向から軽やかな声に呼びかけられた。パッと背後を振り向くと、いつもと違う私服姿のウーさんが手を振っていた。昨日もバイトで見かけたけど、やっと出会えたような感覚に陥ってしまう。

 Trong lúc tôi đang chú ý quan sát về phía nhà ga, một giọng nói nhẹ nhàng từ phía sau lưng bỗng cất tiếng gọi. Tôi giật mình quay lại, thấy chị Ước trong trang phục thường ngày hoàn toàn khác mọi khi đang vẫy tay chào. Dù mới hôm qua vẫn thấy chị ở chỗ làm thêm, nhưng khoảnh khắc này lại làm tôi rơi vào cảm giác như thể đã lâu lắm rồi mới được gặp lại.


「おはよう、ウーさん。あっちの駅の方から来ると思ってたよ。ちょっとビックリした!」

「Chào buổi sáng, chị Ước. Tôi cứ nghĩ chị sẽ đi từ phía nhà ga lại cơ. Làm tôi hết cả hồn!」

 

「ふふっ、こっちに自転車を停めたからね。じゃあ行こうか」

「Hì hì, tại chị gửi xe đạp ở bên này mà. Thôi mình đi nhé.」


 二人で駅前の通りを歩き出す。ドンキホーテ、居酒屋、カラオケやパチンコ店、そんな周囲の騒がしさに負けないように声量を上げた。ゆっくりと、はっきりと、ウーさんが隣で聞き取れるように。

 Hai chúng tôi bắt đầu sải bước trên con phố trước nhà ga. Để không bị lấn át bởi sự ồn ào xung quanh từ các cửa hàng Don Quijote, quán nhậu, karaoke cho đến tiệm pachinko, tôi đã chủ động nói to hơn một chút. Tôi cố gắng nói thật chậm rãi, rõ ràng để chị Ước đi bên cạnh có thể nghe được.


「今日は授業だったんでしょ。お疲れ様」

「Hôm nay chị đi học cả ngày nhỉ. Chị vất vả rồi.」

 

「うん、とても疲れたよ。ずっと勉強だったから。あなたは何してた?」

「Ừm, mệt lắm em ơi. Suốt ngày toàn là học thôi. Thế còn em làm gì?」

 

「僕は家で絵を描いていたよ。あとは、どんな味のフォーがあるのかなって調べていたかな」

「Tôi ở nhà vẽ tranh ạ. Với cả tôi còn tra cứu xem Phở có những vị gì nữa.」

 

「えっ、どうして。これから食べるのに?」

「Ơ, sao lại thế? Mình sắp đi ăn đến nơi rồi mà?」

 


 ウーさんの不思議そうな声。少しだけ低い位置にある大きな瞳が見上げてきた。いつもは一つに纏め上げられている艶やかな黒髪は彼女の華奢な背中を覆い隠すように、ヘアゴムで縛られることなくストンと落とされている。灰色の薄手なニットトップス。その襟ぐりから色白な肌と鎖骨が存在を主張する。職場で顔を合わせる際には拝む機会のないネックレスも顔を覗かせていた。

 Giọng nói đầy vẻ thắc mắc của chị Ước vang lên. Đôi mắt to tròn ở vị trí thấp hơn tôi một chút khẽ ngước lên nhìn. Mái tóc đen bóng mượt mà mọi khi vẫn được búi gọn gàng, nay lại buông xõa xuống như che trọn bờ vai mảnh dẻ, cứ thế để xõa tự nhiên mà không cần một sợi dây buộc tóc nào. Chị mặc một chiếc áo len mỏng màu xám. Từ phần cổ áo rộng, làn da trắng ngần và xương quai xanh như đang ngầm khẳng định sự hiện diện của mình. Một chiếc vòng cổ mà tôi chưa từng có cơ hội được chiêm ngưỡng ở nơi làm việc cũng đang thấp thoáng lộ ra.


「何を食べようか、朝から楽しみにしていた!」

「Thì tại từ sáng tới giờ tôi cứ háo hức không biết sẽ được ăn gì mà!」


 わざと無邪気さを装っているも、一応は本心である。ウーさんの上目遣いに対抗するべく、僕は快活な笑顔の出力を上限突破させた。ふわっと彼女の顔が綻んでいった。

 Dù cố tình giả vờ tỏ ra ngây ngô, nhưng đó hoàn toàn là lời nói thật lòng của tôi. Để đối phó với cái nhìn ngước lên của chị Ước, tôi đã tăng công suất nụ cười rạng rỡ của mình lên mức tối đa. Gương mặt chị bỗng chốc rạng ngời hẳn lên.


「私がオススメ教えてあげる。きっと今日の店は日本人も好きだと思うね!」

「Để chị gợi ý món ngon cho nhé. Chị cá là người Nhật cũng sẽ thích quán hôm nay cho xem!」

 

「ありがとう、とても頼りにしているね」

「Vâng, tôi trông cậy cả vào chị đấy ạ.」


 馴染みのある穏やかな雰囲気が僕らを包み込む。職場外でのファーストコンタクトは大成功のようだ。

 ウーさんがスマホを見て、静かに首を傾げる。

 Bầu không khí dịu dàng quen thuộc lại bao trùm lấy hai đứa. Xem ra màn tiếp xúc đầu tiên bên ngoài công sở đã thành công mỹ mãn.

 Chị Ước nhìn vào điện thoại, khẽ nghiêng đầu.

 

「お店の場所なんだけど、私のマップには表示されないね。あなたのマップなら出てくる?」

「Về địa chỉ của quán ý, trên bản đồ của chị không hiển thị này. Bản đồ của em có ra không?」

 

「いや、住所を打ち込んでも店名は出てこなかったよ。なんだか不思議だね。友達と行ったことはあるんでしょ?」

「Không ạ, tôi gõ địa chỉ vào cũng không hiện ra tên quán. Lạ thật đấy nhỉ. Nhưng chị từng đi với bạn đến đây rồi đúng không?」

 

「うん、それなら大丈夫だ。私が案内するね」

「Ừm, thế thì không sao đâu. Để chị dẫn đường nhé.」


 ウーさんに手招きされた。駅前の通りからは遠ざかっていくように歩みを進める。周囲の人の流れとは逆行する形だ。僕はエスコートの作法を知らない。取り敢えず車道側を歩くことに徹していると、派手な爆音を鳴らすトラックが信号待ちをしていた。その音の出所を反射的に見てしまい、その途端に後悔しながら目を逸らす。ウーさんが僕をからかうように微笑んだ。

 Chị Ước vẫy tay ra hiệu cho tôi. Chúng tôi bước đi, hướng ngược lại với dòng người đang đổ về phía trước nhà ga. Tôi thì vốn chẳng biết chút quy tắc ga-lăng (escort) nào cả. Trước mắt cứ cố gắng đi ở phía rìa sát đường cái để chắn xe là được. Đúng lúc đó, một chiếc xe tải quảng cáo đang phát ra những âm thanh náo nhiệt, chát chúa dừng lại chờ đèn đỏ. Tôi phản xạ tự nhiên nhìn về phía phát ra âm thanh, rồi ngay lập tức quay đi đầy hối hận. Chị Ước mỉm cười như muốn trêu chọc tôi.


「あなた、ああいう店に行っちゃだめよ。お金を奪られたりして危ないからね」

「Em né mấy cái quán kiểu đó ra nha. Vào đấy là bị đào mỏ với nguy hiểm lắm đó.」

 

「えっ、絶対に行かないって!」

「Ơ, tôi thề là không bao giờ đi luôn!」

 

「ふふっ、冗談よ。あなたはかわいいね」

「Hì hì, chị đùa thôi mà. Em đáng yêu ghê.」


 その派手なトラックは夜の店の宣伝に使われているようだった。いわゆるガールズバーやキャバクラの体験入店を誘うようなメッセージが荷台の側面を着飾っている。派手で露出の高い服装の女性の写真がデカデカと貼り付けられていて、この状況で遭遇するのは気まずかった。

 Chiếc xe tải sặc sỡ đó hóa ra là xe quảng cáo cho các quán ăn chơi ban đêm. Những thông điệp mời gọi các cô gái đến làm thử ở các quán "Girls Bar" hay "Cabaret" được trang trí rầm rộ dọc hai bên thùng xe. Hình ảnh các cô gái ăn mặc hở hang, lộng lẫy dán chễm chệ trên xe khiến tôi rơi vào tình huống dở khóc dở cười khi đi bên cạnh chị.


「いや、絶対に行かないから!」

「Thật mà, tôi tuyệt đối không đi đâu!」


 とても大事なことなのでもう一度言った。ウーさんは口元に手を添えてコロコロと笑っている。彼女はこういった夜の住人に過剰反応を示すような女の子ではないようだった。僕は露骨に態度へ出すことはないが、夜の住人があまり好きではない。これは職業差別というより、純愛じみた恋愛の物語を書きたい小説家として相容れないからだろう。

 Vì là chuyện quan trọng nên tôi phải nhấn mạnh lại hai lần. Chị Ước lấy tay che miệng, cười khúc khích. Có vẻ chị không phải là kiểu con gái quá nhạy cảm hay định kiến với thế giới ban đêm này. Bản thân tôi dù không lộ ra mặt nhưng cũng chẳng mấy thiện cảm với thế giới ấy. Đây không phải là sự kỳ thị nghề nghiệp, mà đơn giản vì dưới tư cách là một nhà văn muốn viết nên những câu chuyện tình yêu thuần khiết, tôi thấy mình và thế giới đó không cùng một lối đi.


「ウーさんはとば寿司だけで働いているの?」

「Chị Ước chỉ làm mỗi ở Toba Sushi thôi ạ?」

 

「うん、他のバイトも始めたいけど悩んでいるね」

「Ừm, chị cũng muốn làm thêm việc khác nữa nhưng vẫn đang phân vân.」

 

「そうなんだ」

「Ra là vậy ạ.」


 信号が青に変わり、横断歩道の白と黒を交互に踏みつけた。僕の靴が絵筆なら灰色を描いている。ウーさんの服装とお揃いのカラーだ。

 Đèn tín hiệu chuyển sang màu xanh, chúng tôi bước qua vạch kẻ đường với những dải màu trắng đen xen kẽ. Nếu đôi giày của tôi là một cây cọ vẽ, có lẽ nó đang tô lên những sắc xám – màu sắc hoàn toàn đồng điệu với bộ trang phục của chị Ước ngày hôm nay.


「今度、統括マスターの試験を受けようと思っている。あと日本語試験の2級も」

「Sắp tới chị định thi lên bậc Quản lý tổng quát (Toukatsu Master). Với cả thi chứng chỉ tiếng Nhật N2 nữa.」

 

「すごいじゃん。日本語試験も統括試験も勉強しなきゃいけないのは大変だよね。頑張ってください」

「Oa, đỉnh quá ạ! Vừa phải học thi tiếng Nhật, vừa học thi quản lý thì vất vả lắm đấy. Chị cố lên nhé!」


 ウーさんが統括の立場を目指すほど、とば寿司での仕事に対して熱意を持っているとは知らなかった。僕が応援すると、彼女はふるふるっと首を小刻みに振った。その震えるような仕草が小動物みたいで可愛らしい。

 Tôi thật sự không biết chị Ước lại có nhiều nhiệt huyết với công việc ở Toba Sushi đến mức muốn vươn lên vị trí quản lý như vậy. Thấy tôi cổ vũ, chị khẽ lắc đầu nguầy nguậy. Cái cử chỉ nhỏ nhắn, rụt rè ấy trông cứ như một chú động vật nhỏ, đáng yêu vô cùng.


「本当に難しいね。レジの仕事とか、在庫管理とか、分からないことがたくさんあるよ」

「Thực sự là khó lắm em ơi. Nào là việc thu ngân này, rồi quản lý kho bãi nữa, bao nhiêu thứ chị chưa biết.」

 

「そっか、それで最近は疲れていたんだね。たまに厨房のウーさんを見ると顔が死んでいたからさ」

「Thảo nào dạo này nhìn chị cứ mệt mỏi suốt. Thỉnh thoảng tôi nhìn vào bếp thấy mặt chị cứ như 'sắp héo' đến nơi rồi ý.」

 

「えっ、私、そんな顔してたか。そう、いつも死んでいるね。こんな顔でしょう?」

「Ơ, mặt chị trông như thế thật á? Mà đúng rồi, lúc nào chị chẳng héo. Có phải kiểu mặt như này không?」

 

「あははっ、そう、そんな顔してるよ」

「A ha ha, đúng rồi, chính là cái mặt đấy đấy!」


 ウーさんは躊躇なく、厨房でテンションが死んでいる時のグダっとした顔真似をしてくれた。その不意打ちに笑ってしまう。ウーさんが満足げな微笑を浮かべた。

 Chị Ước không ngần ngại làm lại biểu cảm uể oải, mất sạch năng lượng giống hệt như những lúc ở trong bếp. Trò đùa bất ngờ ấy làm tôi bật cười thành tiếng. Chị Ước khẽ mỉm cười, vẻ mặt đầy đắc ý.

 

 それは駅近くの人混みから外れた頃合いだった。周囲には誰もいない。斜陽の静けさが僕らを包み込んでいる。

 Đó là lúc chúng tôi đã đi lọt ra ngoài sự đông đúc của khu vực gần nhà ga. Xung quanh không một bóng người. Sự tĩnh lặng của buổi chiều tà bao trùm lấy hai đứa.


「ここのはずなんだけど。道を間違えたかも?」

「Hình như là ở quanh đây mà nhỉ. Hay là chị đi nhầm đường rồi?」

 

「ちょっと待ってね。とりあえず、ここの住所まで歩いてみようか」

「Chờ tôi một chút nhé. Trước mắt, mình cứ thử đi bộ đến địa chỉ này xem sao.」


 ウーさんの道案内に問題が生じたようだ。明らかに飲食店ではない高層ビルの前で僕らは立ち止まった。さりげなくスマホで現在地を確認すると、以前にLINEで教えてもらった住所とは場所が少しだけズレているようだった。もう太陽は沈みかけていて、この辺りは街灯も少ないので薄暗くなっている。

 Có vẻ như việc dẫn đường của chị Ước đã gặp chút trục trặc. Chúng tôi dừng chân trước một tòa nhà cao tầng, nơi rõ ràng không phải là một quán ăn. Tôi tế nhị kiểm tra lại vị trí hiện tại trên điện thoại, thì thấy chỗ này bị lệch một chút so với địa chỉ mà chị từng gửi cho tôi qua LINE. Mặt trời đã khuất bóng, khu này lại ít đèn đường nên xung quanh bắt đầu tối om.

 

 昼間の眩しさと夕暮れのボヤつきでは、異国の街並みの見え方も変わってくるだろう。だから、彼女は悪くない。

 Cảnh quan của một thành phố xa lạ giữa ban ngày và lúc chập choạng tối chắc chắn sẽ mang lại những cảm giác rất khác nhau. Vì vậy, đó không phải là lỗi của chị.


「大丈夫、すぐ近くだと思うよ」

「Không sao đâu ạ, tôi nghĩ nó ở ngay gần đây thôi.」

 

「そうか……」

「Vậy hả……」

 

 ついにウーさんが俯いてしまう。灰色のニットの襟ぐりから覗く白い首筋。その血管が透けて見えそうなうなじを銀色の鎖が縁取っている。どこか不安そうな表情を浮かべる彼女に微笑みかけて、今度は僕の先導で目的のベトナム料理店へと歩き出すことにした。ここが新たな出発点だ。

 Chị Ước cúi mặt xuống. Từ phần cổ áo của chiếc áo len xám, bờ gáy trắng ngần như lộ ra. Sợi dây chuyền bạc ôm lấy chiếc cổ thon thả, nơi như thể nhìn thấu được cả những mạch máu ẩn hiện. Tôi mỉm cười với gương mặt đang có chút bất an của chị, rồi quyết định lần này sẽ tự mình dẫn đường để đi đến quán Phở mục tiêu. Đây sẽ là một điểm khởi đầu mới.


「大丈夫だよ。日本人の僕に道案内は任せてください」

「Không sao đâu mà. Chuyện đường xá cứ để một người Nhật như tôi lo nhé.」

 

「ふふっ、そうだったね。お願いします」

「Hì hì, đúng rồi nhỉ. Vậy nhờ em nhé.」

 

 こういったハプニングも外出のスパイスだろう。実際に行動してみないと分からないこともある。それに地図にも載っていない異国の料理店を探すなんて、小説家にとっては書き甲斐のある経験になるだろう。

 Những sự cố bất ngờ thế này cũng là một thứ gia vị cho chuyến đi đấy chứ. Có những điều phải bắt tay vào làm thì mới hiểu được. Hơn nữa, việc đi tìm một quán ăn nước ngoài thậm chí còn không hiển thị trên bản đồ thế này, chẳng phải là một trải nghiệm cực kỳ đáng giá để một nhà văn lấy tư liệu viết lách sao.

 

 その時、僕なりのエスコートの方法を閃いた。

 Ngay lúc đó, tôi nảy ra một cách "hộ tống" (escort) của riêng mình.


「夏休みのラストさ。毎回、閉店時刻のギリギリに来る常連のお客さんがいてさ。本当に大変だった」

「Hồi cuối kỳ nghỉ hè ý, có một vị khách quen toàn canh đúng lúc quán mình sắp đóng cửa mới vào ăn. Thật sự là mệt mỏi luôn.」

 

「ふふっ、そうなの?」

「Hì hì, thế á?」

 

「そう、いつも同じお客さんだったんだよ。すっごいお腹が膨らんでいる人だった」

「Vâng, lúc nào cũng là vị khách đó luôn. Cái bụng của chú ấy to đùng đoành luôn ý.」


 フロアの光景を面白おかしく語ってみせる。

 ウーさんの前で"デブ"という強い言葉は使いたくなかった。あくまでコミカルに表現したい。僕は自分の腰に両手を添えた後、それを大袈裟なくらいに広げてみせた。

 Tôi kể lại quang cảnh ở sảnh bằng một giọng điệu vui nhộn.

 Trước mặt chị Ước, tôi không muốn dùng từ "béo" (debu) – một từ ngữ có phần bộc trực và nặng nề. Tôi muốn diễn tả nó một cách hài hước hơn. Tôi đặt hai tay lên hông mình, rồi làm động tác giang rộng ra một cách đầy phóng đại.


「こんなに膨らんでたの。この細い道だったら、お腹が引っ掛かって通れなくなっちゃうくらいね!」

「Cái bụng to cỡ này này. Nếu đi vào cái ngõ hẹp này, chắc chắn bụng chú ấy sẽ bị mắc kẹt lại rồi không lối thoát luôn!」

 

「ふふっ、大変ね。そんな大きい人だったの?」

「Hì hì, vất vả nhỉ. Người đó to đến thế cơ à?」


 高層ビルとマンションに挟まれた本当に細い路地。目的地までの近道として細い路地を通り抜けながら、二人の笑い声が夜の闇に反響していく。どうでもいい雑談なら僕の得意分野だ。

 Một con ngõ thực sự nhỏ hẹp nằm lọt thỏm giữa tòa nhà và khu chung cư. Trong lúc đi xuyên qua con ngõ nhỏ ấy như một lối đi tắt để đến đích, tiếng cười của hai chúng tôi vang vọng vào màn đêm. Những câu chuyện phiếm không đâu vào đâu thế này lại chính là sở trường của tôi.


「あっ、着いたよ。ここじゃない?」

「A, đến nơi rồi này. Có phải chỗ này không chị?」


 5分くらいスマホの道案内に従って、話題のベトナム料理店に到着した。マップで調べても店名が出てこなかった理由がよく分かった。この建物は二階建てとなっていて、その一階部分がベトナム料理店で、二階部分が焼き鳥メインの居酒屋となっている。マップに表示されているのは焼き鳥屋の方だった。これは常連でないと判別しにくい。

 Sau khoảng 5 minutes đi theo sự chỉ dẫn của bản đồ trên điện thoại, chúng tôi đã đặt chân đến quán ăn Việt Nam đang được nhắc tới. Tôi đã hiểu lý do vì sao tìm kiếm trên map lại không ra tên quán. Tòa nhà này có hai tầng, tầng một là quán ăn Việt Nam, còn tầng hai là một quán nhậu chuyên về thịt gà nướng (yakitori). Trên bản đồ chỉ hiển thị tên của quán gà nướng mà thôi. Nếu không phải khách quen thì đúng là chịu chết, không tài nào phân biệt nổi.

 

「ここだ。ありがとうね。私は道を忘れていたのかもしれないね」

「Đúng là ở đây rồi. Cảm ơn em nhé. Chắc là chị quên mất đường rồi.」

 

「この辺りは暗いからしょうがないね。いっぱい歩いて、良い感じにお腹も空いてきたから、ウーさんは気にしないで大丈夫だよ!」

「Quanh đây tối thế này thì chịu thôi chị ạ, không sao đâu. Đi bộ nhiều làm tôi thấy đói bụng và thèm ăn lắm rồi đây này, nên chị đừng bận tâm nhé!」

 

「ふふっ、そうか。それならお店に入ろう」

「Hì hì, vậy hả. Thế thì mình vào quán thôi.」


 僕がドアを開けると、全ての店員がベトナム人のようだった。ウーさんが指を2本だけ立て、僕たちは壁際のテーブルに案内される。お互いの顔を向かい合わせる形で席に座った。普段の休憩とはまた違う光景だった。

 Khi tôi mở cửa bước vào, tất cả nhân viên ở đây dường như đều là người Việt Nam. Chị Ước giơ hai ngón tay ra hiệu, và chúng tôi được dẫn đến một chiếc bàn sát vách tường. Hai đứa ngồi xuống ghế, đối diện mặt nhau. Quang cảnh này mang một cảm giác hoàn toàn khác biệt so với những giờ nghỉ giải lao thường ngày ở quán làm thêm.


 (やばい、ちょっと緊張するな……)

 (Thôi chết, mình có chút hồi hộp rồi đây……)

 

 この時間、僕以外の日本人はいないようだった。それが意味するのは僕が異邦人の立場になるということだ。この焼き鳥屋の影に潜んでいた秘密の料理店に足を踏み入れてみて、ここは日本語の届かない異国のルールで運営されているという事実に心細くなってしまう。

 Vào tầm giờ này, dường như chẳng có người Nhật nào khác ngoài tôi ở đây cả. Điều đó đồng nghĩa với việc tôi đã trở thành một người ngoại quốc thực sự. Bước chân vào quán ăn bí mật ẩn sau cái bóng của tiệm gà nướng này, tôi bỗng cảm thấy có chút lạc lõng và rụt rè trước sự thật rằng: nơi đây đang vận hành bằng những quy tắc của một đất nước xa xôi, nơi mà tiếng Nhật chẳng thể chạm tới.

 

 そんな僕を現実に連れ戻すのは、いつだってウーさんの呼びかけだった。

 Nhưng kéo tôi trở lại với thực tại, lúc nào cũng là tiếng gọi của chị Ước.


「あなたは何を食べてみたい?」

「Em muốn ăn thử món gì nào?」

 

「あっ、日本語のメニューもあるんだね。これとか食べてみたいな。この牛肉のフォー!」

「A, có cả thực đơn tiếng Nhật này chị. Tôi muốn ăn thử món này quá. Phở bò ạ!」


 注文は卓上のタブレットから行うようだった。メニューの言語は設定から幾つかの言語を選べるようだった。ウーさんが気を利かせて日本語の設定にしてくれる。僕は牛肉のフォーというメニューを指差した。

 Việc gọi món được thực hiện qua một chiếc máy tính bảng đặt trên bàn. Ngôn ngữ của menu có vẻ như chọn được vài loại từ phần cài đặt. Chị Ước rất tinh ý khi chuyển ngay sang chế độ tiếng Nhật cho tôi. Tôi chỉ ngón tay vào món Phở bò.


「いいね、それは日本人も食べやすいと思う。私はこっちのフォーにしようかな」

「Ngon đấy, chị nghĩ người Nhật cũng dễ ăn món này. Còn chị thì ăn món Phở này vậy.」

 

「ブン・ボー・フエって書いてある。これはどんな味なの?」

「Ở đây ghi là Bún Bò Huế này chị. Món này có vị như thế nào ạ?」

 

「とても辛いと思うよ。試してみる?」

「Cay lắm đấy nha. Em muốn thử không?」


 僕は首を横に振った。ウーさんが屈託なく笑う。

 Tôi lắc đầu lia lịa. Chị Ước bật cười một cách đầy hồn nhiên.


「じゃあ、これで注文する」

「Thế thì chị chốt gọi món này nhé.」

 

「ありがとう。他のメニューも見てみたいな。どんなベトナム料理があるんだろう」

「Vâng ạ, cảm ơn chị. Tôi vẫn muốn xem thêm các món khác nữa. Không biết còn có những món Việt Nam nào nữa nhỉ.」


 手早く注文を済ませて、それでもタブレットを戻すのは惜しい気がした。僕の未知への好奇心が伝わったようで、ウーさんが微笑みながら提案してくれる。

 Dù đã nhanh chóng hoàn tất việc gọi món, tôi vẫn cảm thấy tiêng tiếc nếu phải đặt chiếc máy tính bảng trở lại vị trí cũ. Như hiểu được sự tò mò của tôi trước một thế giới chưa từng biết đến, chị Ước mỉm cười và gợi ý.

 

「ふふっ、一緒に見てみようか。これはカエルの肉だよ、あなたは食べたことある?」

「Hì hì, mình cùng xem tiếp nhé. Đây là thịt ếch này, em đã ăn bao giờ chưa?」

 

「カエル!?食べたことないよ!」

「Ếch á!? Tôi chưa ăn bao giờ luôn!」

 

「鶏肉のような味ね。でも骨が多いかもしれない。あと見た目が苦手という日本人は多いね」

「Vị nó giống thịt gà lắm đó. Nhưng mà có thể hơi nhiều xương một chút. Với cả nhiều người Nhật không ăn được vì sợ cái vẻ ngoài của nó đấy.」

 

 これはカエルの腿の部分だろうか。メニューに表示された画像には水かきのようなものも写っている。カリッと揚げられているようだが、カエルだと分かっていて口にする勇気はない。僕は他の料理に話題を変えようとした。

 Đây là phần đùi ếch chăng? Trên tấm ảnh hiển thị trong menu, hình như vẫn còn nhìn rõ cả phần màng chân của nó. Dù được chiên trông có vẻ rất giòn rụm, nhưng một khi đã biết rõ đó là thịt ếch thì tôi không đủ dũng khí để bỏ vào miệng. Tôi vội vàng lảng sang món khác.

 

「そうだろうね、僕もカエルを食べるのは怖い。こっちはデザートなのかな。かき氷みたいだね?」

「Chắc là thế rồi ạ, tôi cũng sợ ăn thịt ếch lắm. Còn món này là đồ tráng miệng ạ? Trông giống đá bào (Kakigori) thế nhỉ?」

 

「これはチェーというデザートよ。日本の"ぜんざい"と似ているかもね。あとで食べてみたい?」

「Đây là món Chè đó em. Chắc là nó gần giống với món "Zenzai" của Nhật Bản mình đấy. Lát nữa em có muốn ăn thử không?」

 

「うん、あとで食べてみたい!」

「Vâng, lát nữa tôi muốn ăn thử!」


 僕は素直に復唱する。まるで日本語の"リピートアフターミー"だった。ウーさんが悪戯っぽく微笑んだ。

 Tôi ngoan ngoãn lặp lại lời chị. Cảnh tượng này y hệt như một tiết học tiếng Nhật theo kiểu "Repeat after me" vậy. Chị Ước mỉm cười đầy tinh nghịch.

 

「ふふっ、フォーの後で一緒に食べようね。こっちはバインミー。ベトナムのパンだよ」

「Hì hì, ăn Phở xong rồi hai đứa mình cùng ăn nhé. Còn đây là Bánh mì. Bánh mì của Việt Nam đó.」

 

「カリッとした感じのパンだね!」

「Trông bánh mì có vẻ giòn rụm chị nhỉ!」

 

「とても美味しいけど、私はお腹いっぱいになるから今日は食べないね。フォーのスープに漬けて食べることもあるよ。普通にお肉や野菜を挟むこともあるね」

「Ngon lắm luôn, nhưng mà ăn cái này là chị no căng bụng luôn nên hôm nay không gọi đâu nhé. Thỉnh thoảng người ta cũng chấm bánh mì với nước Phở để ăn đấy. Hoặc là kẹp thịt với rau như bình thường thôi.」

 

「なるほど、色々な食べ方があって面白いね!」

「Ra là vậy, nhiều cách ăn đa dạng thú vị quá chị ạ!」

 

「ふふっ、あなたなら面白いと言うと思っていた。こっちの料理は知ってる?」

「Hì hì, chị biết ngay là em sẽ khen thú vị mà. Thế món này em biết không?」


 いつぞやのLINEを焼き直すかのように、ベトナム料理についての熱い談義を交わした。あの時はワンルームで想像するしかなかったウーさんの表情が目の前にある。タブレットに意識を向けながらも、故郷に想いを馳せる彼女から目が離せない。優柔不断な僕が視線をバラつかせていると、ウーさんがその挙動不審さに気付いて微笑んだ。

 Giống như việc tái hiện lại cuộc trò chuyện qua LINE ngày nào, chúng tôi đã có một buổi thảo luận vô cùng sôi nổi về các món ăn Việt Nam. Nghĩ lại thì, những biểu cảm của chị Ước mà trước đây tôi chỉ biết tự tưởng tượng khi nằm một mình trong căn phòng trọ, giờ đây đang hiện hữu ngay trước mắt tôi. Dù ánh mắt đang hướng vào chiếc máy tính bảng, tôi vẫn không thể rời mắt khỏi cô gái đang gửi gắm nỗi nhớ quê hương vào từng lời nói ấy. Thấy một kẻ thiếu quyết đoán như tôi cứ dáo dác nhìn quanh với vẻ lóng ngóng, chị Ước nhận ra và mỉm cười.


「そんなに首を振ってどうしたの?」

「Em cứ ngó nghiêng suốt thế, có chuyện gì à?」

 

「いや、たくさんの料理があって、どこを見たらいいのか分からないよ。どれも美味しそうなのは分かった」

「Dạ không, tại nhiều món quá, em chẳng biết phải nhìn vào đâu nữa. Nhưng món nào trông cũng ngon hết ạ.」


 その時、若いベトナム人女性の店員が僕たちの注文したフォーを運んできてくれた。丁寧に二つのお盆が机の上に置かれる。それぞれのフォーが美味しそうな湯気を立てていた。ウーさんが店員にベトナム語で耳打ちすると、彼女たちは僕の方を見て静かに笑い合った。僕が二人に曖昧に微笑んでみせると、二人の微笑みは更に深まっていった。

 Đúng lúc đó, một cô bạn nhân viên người Việt còn khá trẻ bưng hai bát Phở chúng tôi đã gọi ra bàn. Hai chiếc khay được đặt xuống mặt bàn một cách nhẹ nhàng, cẩn thận. Từng bát Phở tỏa khói nghi ngút, thơm phức. Chị Ước ghé tai nói nhỏ điều gì đó bằng tiếng Việt với cô nhân viên, ngay lập tức, hai người họ nhìn về phía tôi rồi cùng cười khúc khích. Khi tôi nở một nụ cười gượng gạo đầy bối rối với cả hai, thì nụ cười của họ lại càng rạng rỡ và ẩn ý hơn.

 

 満面の笑顔で去っていく店員に会釈した後、僕は慌ててウーさんに質問を投げかけた。

 Sau khi khẽ cúi đầu chào cô nhân viên đang lui bước với nụ cười tươi rói, tôi vội vàng quay sang hỏi chị Ước.


「ねぇ、何を話していたの?」

「Này chị, vừa nãy hai người nói chuyện gì thế ạ?」

 

「この男の子がベトナム料理を美味しそうと褒めているよ。こう言ったよ。あの店員の女の人も喜んでいた」

「Chị bảo là cậu em này cứ khen đồ ăn Việt Nam trông ngon lắm đấy. Chị nói thế nên cô bạn nhân viên kia vui lắm.」

 

「そっか、なんか恥ずかしいね。とりあえず食べようか」

「Thế ạ…… nghe ngại ghê. Thôi mình ăn thôi chị.」


 僕は熱くなった頬に手を当てた。ウーさんが箸を渡してくれる。もう疎外感を感じることはなかった。

 Tôi vội đưa tay lên áp vào đôi gò má đang nóng bừng của mình. Chị Ước đưa đũa cho tôi. Cuối cùng, khoảnh khắc được thưởng thức hương vị Phở đích thực đã đến.

 

「ふふっ、いただきます」

「Hì hì, chúc em ngon miệng nhé.」

 

「いただきます。うん、美味しいね!」

「Chúc chị ngon miệng ạ. Ồ, ngon quá chị ơi!」

 

 牛肉のフォーは美味しかった。平たく薄い麺はツルッとした食感で、あっさりとしたスープは塩胡椒で味が整えられている。これなら日本人の舌も驚かないだろう。麺の上には薄切りの牛肉が敷かれている。日本のラーメンに乗ったチャーシューと比較すると肉の分厚さが物足りないような気もしたが、口の中に牛肉を一枚だけ運んだ瞬間に全身へと衝撃が走った。ほろっとした柔らかさの中に確かな旨みが封じ込められている。

 Món Phở bò thực sự rất ngon. Sợi bánh phở dẹt và mỏng mang lại cảm giác trơn tru khi ăn, còn phần nước dùng thanh đạm thì được nêm nếm vừa vặn với muối và tiêu. Hương vị này chắc chắn sẽ không làm khẩu vị của người Nhật phải giật mình. Trên mặt bát được phủ những lát thịt bò thái mỏng. Nếu so với miếng thịt xá xíu (chashu) trong mì Ramen của Nhật thì có cảm giác độ dày của thịt hơi thiếu thốn một chút, nhưng ngay khoảnh khắc gắp một miếng thịt bò bỏ vào miệng, một luồng điện sướng rụt người đã chạy dọc khắp cơ thể tôi. Trong cái kết cấu mềm như muốn tan ra ấy là một vị ngọt đậm đà, chắc nịch được khóa chặt bên trong.


「このお肉が美味しいね。ほろっと柔らかい感じだ!」

「Thịt này ngon quá chị ơi. Cảm giác nó mềm tan ra ý!」

 

「ふふっ、そうか」

「Hì hì, vậy hả.」


 ウーさんも白い麺を口に運んでいた。僕が頼んだシンプルな牛肉のフォーに比べると、彼女が注文したフォーは入っている具材の種類が豊富だった。青ネギ、パクチー、薄くスライスされた牛肉、ラーメンのチャーシューのような分厚い肉、プルプルとした豚足、そして濁った赤色をしたこんにゃく程の大きさの塊。それらを包み込むスープにはラー油のようなオレンジ色をした油膜が浮かんでいる。

 Chị Ước cũng đang đưa những sợi bánh màu trắng vào miệng. So với bát Phở bò đơn giản mà tôi đã gọi, bát của chị trông phong phú và ngập tràn các loại topping hơn hẳn. Nào là hành lá, rau mùi (ngò), thịt bò thái mỏng, rồi cả những miếng thịt dày cùi như xá xíu Ramen, một chiếc móng giò heo sần sật mỡ màng, và một khối to cỡ miếng thạch khan (kanten) có màu đỏ đục trầm buồn. Bao bọc lấy những thứ đó là phần nước dùng đang nổi lên những váng dầu có màu như dầu ớt.


「ウーさんのフォーは辛そうだね。その赤い塊は何?」

「Phở của chị trông cay ghê nhỉ. Mà cái cục màu đỏ kia là gì thế chị?」

 

「ふふっ、少し飲んでみる?」

「Hì hì, em muốn húp thử một tí không?」

 

「えっ、本当にいいの?」

「Được ạ?」

 

「うん、これも食べてみて」

「Ừm, ăn thử cái này nữa này.」


 ウーさんが小皿にスープを取り分けてくれた。そして、謎の濁った赤色の塊も一口分だけ切り分けて、小皿の中によそってくれる。湯気を立てた小皿が差し出された。

 Chị Ước tinh ý múc một ít nước dùng ra chiếc đĩa nhỏ cho tôi. Rồi chị cũng xắn một miếng vừa ăn từ cái khối màu đỏ đục bí ẩn kia, bỏ vào đĩa nhỏ bốc khói nghi ngút rồi đẩy về phía tôi.

 

「ありがとう。あっ、美味しい!」

「Cảm ơn ạ. Á, ngon quá!」

 

 こくっとお裾分けされたスープを飲んでみる。僕の思った通りに辛味があったが、普通に濃厚な味のスープとして美味しかった。フォーの麺はツルッと飲み込めるので、濃厚でこってりとしたスープでも均衡が取りやすいのだろう。ブン・ボー・フエ。その名前は覚えた。

 Tôi hớp một ngụm nước dùng được chia sẻ. Đúng như tôi nghĩ, nó có vị cay, nhưng lại ngon theo kiểu một loại nước dùng đậm đà, tròn vị. Sợi bún (ở đây là bún chứ không phải phở) có thể nuốt trôi một cách trơn tru, nên việc cân bằng với phần nước dùng đặc và béo ngậy này là vô cùng dễ dàng. Bún Bò Huế. Tôi đã ghi nhớ cái tên này.


「そっちも食べてみて」

「Ăn thử cái kia nữa đi em.」

 

「ねぇ、これ本当に何なの?」

「Này chị, cái này rốt cuộc là cái gì thế ạ?」

 

「それは秘密ね。大丈夫、危なくはないよ」

「Cái đó là bí mật nha. Yên tâm đi, không nguy hiểm đâu mà.」


 こっちの赤黒い塊の方が問題だ。こんな具材は見たことがない。でも、このまま臆するのもつまらない。僕は思い切って箸を動かした。ぐにゃっとした感触が指先に伝わってくる。

 Cái khối màu đỏ đen này mới là vấn đề lớn đây. Tôi chưa từng thấy một loại nguyên liệu nào như thế này bao giờ. Nhưng nếu cứ thế mà chùn bước thì hèn quá. Tôi hạ quyết tâm động đũa. Cảm giác mềm nhũn, đàn hồi truyền từ đầu đũa lên tận ngón tay.


「ん、んぅっ!?」

「Ủa, ủ…… uôi……!?」


 口の中に入れた時は豆腐のようだった。その塊を噛んだ瞬間に独特な味が広がる。まるで舌や唇を噛んでしまった時のような。まるで鼻血が逆流してきた時のような。

 そう、血の味が口の中いっぱいに広がった。

 Khoảnh khắc vừa bỏ vào miệng, cảm giác nó mềm mượt như đậu hũ. Nhưng ngay khi răng vừa cắn vỡ khối thạch ấy, một hương vị vô cùng đặc dị lập tức bùng nổ trong khoang miệng. Cảm giác giống hệt như lúc vô tình cắn phải lưỡi hay môi của mình. Giống hệt như lúc bị chảy máu cam rồi máu bị chảy ngược vào trong cổ họng vậy.

 Đúng thế, một vị máu tanh nồng vị sắt đã lan tỏa khắp khoang miệng tôi.


「ふふっ。それは牛の血ね」

「Hì hì. Cái đó là tiết bò đấy em.」

 

「なんか……すごい不思議な味がするよ……」

「Trông nó…… có vị kỳ lạ đến vi diệu luôn chị ạ……」


 一生懸命に言葉を選んだ。決して不味くはない。でも血の味に慣れ親しんでいる訳でもない。口の中いっぱいに広がる鉄臭さに表情を歪めた。そんな僕の目の前で、ウーさんは血の塊を平気な顔してスープと一緒に飲み込んだ。

 Tôi đã phải vận dụng hết công suất để lựa chọn từ ngữ sao cho lịch sự nhất. Hoàn toàn không phải là dở. Nhưng tôi cũng chẳng phải là người quen thuộc hay thân thiết gì với vị của máu cả. Tôi nhăn mặt trước vị tanh của sắt đang bủa vây khoang miệng. Ngay trước mặt một kẻ đang đau khổ là tôi, chị Ước thản nhiên nuốt trọn miếng tiết đó cùng với một ngụm nước dùng với gương mặt không một chút biến sắc.


「日本人は血を食べないの?」

「Người Nhật không ăn tiết hả em?」

 

「あまり食べないと思うよ。あっ、でもレバーっていう料理があるのか。他の日本人は血が好きかもしれない!」

「Tôi nghĩ là hầu như không ăn đâu ạ. À, nhưng mà tụi tôi có món gan đấy thôi. Chắc là những người Nhật khác cũng có người thích ăn tiết đấy chứ!」

 

「そうか」

「Vậy hả.」


 僕がレバーを主食としていたら、この味にも順応できていたかもしれない。貧血になった時に注文するのは良い選択かもしれない。そう考えてみたら、単なる好みの違いのような気がしてきた。気を取り直して、牛肉のフォーに箸を伸ばす。うん、あっさりとした味付けで美味しい。

 Nếu tôi là một kẻ lấy gan động vật làm món ăn chính hàng ngày, biết đâu tôi đã có thể thích nghi được với cái vị này rồi cũng nên. Nghĩ theo hướng đó, tôi thấy đây chỉ đơn thuần là sự khác biệt về sở thích mà thôi. Tôi lấy lại tinh thần, tiếp tục đưa đũa về phía bát Phở bò của mình. Ừm, vị thanh đạm thế này mới ngon làm sao.

 

 ゆったりとした無言の時間が流れて、お互いのフォーがその量を丼の中から減らしていく。ウーさんが僕より先に箸を置いた。

 Một khoảng thời gian im lặng thư thái trôi qua, lượng Phở trong bát của hai đứa cứ thế vơi dần. Chị Ước là người đặt đũa xuống trước tôi.


「じゃあ、デザートも頼む?」

「Thế mình gọi đồ tráng miệng luôn nhé?」

 

「うん、チェーだっけ。それ食べてみたい」

「Vâng ạ, cái món Chè gì đó đúng không chị. Tôi muốn ăn thử món đó.」

 

「分かった。私が注文するね」

「Ok, để chị gọi nha.」


 しばらくして、さっきの女性店員がチェーを持ってきてくれた。とても見た目がカラフルなデザートだった。コーヒーゼリーのような黒色、薄透明な桃色、マンゴーのような濃い黄色、立方体に切り分けられた寒天のゼリー。そしてマスカットのような鮮やかな緑色のプツプツとした小粒のゼリー。そして"ぜんざい"のような黒い大粒の豆が底の方に隠されている。かき氷にはココナッツミルクがかかっており、その甘ったるさとまろやかさが氷のキーンとくる冷たさを和らげていた。

 Một lúc sau, cô bạn nhân viên lúc nãy bưng món Chè ra cho chúng tôi. Đó là một món tráng miệng có vẻ ngoài cực kỳ sặc sỡ. Màu đen giống như thạch cà phê, màu hồng đào trong suốt, màu vàng đậm như xoài chín, và những miếng thạch kanten được cắt thành từng khối vuông vức. Rồi cả những hạt thạch nhỏ li ti màu xanh lá cây rực rỡ trông như những quả nho mẫu đơn (muscat). Và ở tận dưới đáy bát, những hạt đậu to đùng màu đen như trong món "Zenzai" đang ẩn mình. Trên lớp đá bào được rưới ngập nước cốt dừa, cái vị béo ngậy và ngọt ngào của nó đã làm dịu đi cái lạnh buốt đến tận óc của đá.


「美味しい、美味しい。これ好きかも」

「Ngon quá, ngon quá. Tôi thích món này rồi đấy.」

 

「ふふっ、ほとんどのベトナム人は甘すぎると言うね。あなたのような感想は珍しいと思うよ」

「Hì hì, hầu hết người Việt Nam đều bảo món này ngọt quá đấy. Chị nghĩ cảm nhận như em là hiếm lắm nha.」.

 

「えっ、こんなに甘いから美味しいのに」

「Ơ, ngọt thế này mới ngon chứ ạ.」

 

 僕は甘党だ。チェーを口に運ぶ手が止まらない。今度は僕がウーさんより先にスプーンを置いた。

 Tôi là một tín đồ đạo ngọt chính hiệu mà. Tay múc Chè của tôi không thể nào dừng lại được. Lần này, tôi lại là người đặt thìa xuống trước chị Ước.


「そうだ、ウーさんにプレゼントがあるんだ」

「Phải rồi, chị Ước ơi, tôi có món quà này muốn tặng chị.」

 

「えっ、私に?」

「Ơ, tặng chị á?」


 僕はバッグの中のクリアファイルを取り出した。持ち物の取捨選択の末に残ったもの。透明な水色のクリアファイルに挟んでいた一枚の色紙を手渡す。ウーさんは困惑している様子だった。

 Tôi rút chiếc sơ mi lỗ (clear file) ra khỏi ba lô. Vật duy nhất còn sót lại sau một hồi đắn đo lựa chọn đồ đạc mang theo. Tôi trao cho chị tấm giấy mỹ thuật vẽ tranh (shikishi) được kẹp bên trong chiếc sơ mi lỗ màu xanh nước biển trong suốt. Chị Ước trông có vẻ đầy hoang mang, bối rối.

 

 それは、今日の午前中の時間を費やして描いた二匹のパンダのイラストだ。一匹はデフォルメ的な絵柄で可愛らしく、もう一匹はリアルを意識した写実的なタッチで。

 僕の持てる二つの技法で、僕があげられる最高のパンダを描いたつもりだ。

 Đó là bức tranh minh họa hai chú gấu trúc mà tôi đã dành trọn vẹn thời gian buổi sáng ngày hôm nay để vẽ. Một chú được vẽ theo phong cách cách điệu (deforme) vô cùng đáng yêu, còn một chú thì được chú trọng tả thực với những nét vẽ sống động. **

Bằng cả hai kỹ nghệ tốt nhất của mình, tôi tin rằng đây chính là bức tranh gấu trúc tuyệt vời nhất mà mình có thể tạo ra để dành tặng chị.


「どうぞ、ウーさんにあげます」

「Tôi tặng chị này, chị Ước cầm lấy đi.」

 

「ありがとう、本当にもらっていいの?」

「Cảm ơn em nhiều nhé, chị nhận thật đấy à?」

 

「うん、プレゼントだよ。ずっとウーさんが頑張ってきたの知っているからね。あなたが、これからも日本で頑張れますように」

「Vâng, quà tặng chị mà. Vì tôi biết thời gian qua chị đã luôn cố gắng rất nhiều. Hy vọng là từ nay về sau, chị cũng sẽ luôn vững vàng và nỗ lực hết mình tại Nhật Bản nhé.」

 

 結局、僕にとっての自分らしさを出せるものはデザインに帰結するようだった。執筆中の小説を持ち運ぶことはできないし、まだウーさんの読解力も覚束ないだろう。感情の溢れる思い出を残したいなら、こうやってイラストという形で渡しておいた方が都合良い。

 Đến cuối cùng, thứ giúp tôi thể hiện bản sắc cá nhân rõ ràng nhất vẫn quy về thiết kế. Tôi không thể mang theo cuốn tiểu thuyết đang viết dở, vả lại năng lượng đọc hiểu của chị Ước hiện tại cũng chưa đủ chín muồi. Nếu muốn lưu giữ một kỷ niệm đong đầy cảm xúc, việc gửi gắm qua một bức tranh minh họa như thế này xem ra lại là phương thức vẹn cả đôi đường.


「それはパンダの絵だよ。いつか描いてみてほしいって言ってたよね。その"いつか"は今日だったみたいだね」

「Đó là bức tranh gấu trúc đấy chị. Chị từng bảo khi nào có dịp thì vẽ thử cho chị xem đúng không. Có vẻ như cái ngày 'khi nào' đó chính là ngày hôm nay rồi.」

 

「わぁ……」

「Oa……」


 僕はおどけてみせた。

 ウーさんは色紙を受け取って、しばらく肩を震わせて俯いていた。やがて、その顔が上げられる。

 Tôi nói bằng một giọng điệu hóm hỉnh.

 Chị Ước đón lấy tấm giấy vẽ, rồi khẽ cúi đầu, bờ vai run lên khe khẽ suốt một hồi lâu. Phải mất một lúc sau, chị mới ngước mặt lên.


「すごいね。大切にします。本当にありがとうね!」

「Đẹp quá em ơi. Chị sẽ trân trọng nó. Thực sự cảm ơn em nhiều nhé!」


 やっぱりプレゼントを持ってきて良かった。この日の思い出は、いつかパンダを描くたびに、いつかスマホに保存したパンダのイラストを見返すたびに、僕の脳裏に鮮明な写真となって蘇ってくるはずだ。今日の素敵な一枚を思い出すのだろう。

 Quả nhiên quyết định tặng quà là hoàn toàn đúng đắn. Kỷ niệm của ngày hôm nay, cứ mỗi lần tôi vẽ gấu trúc sau này, hay mỗi lần lướt lại bức ảnh chụp bức tranh gấu trúc lưu trong điện thoại, chắc chắn sẽ sống dậy trong tâm trí tôi như một thước phim chân thực và sắc nét nhất. Tôi sẽ luôn nhớ về một bức tranh tuyệt diệu của ngày hôm nay.


「また絵を描くよ。パンダでも、キリンでも、ゴリラでもね。僕は絵を描くのが好きだから」

「Sau này tôi sẽ lại vẽ tiếp. Dù là gấu trúc, hươu cao cổ hay đười ươi cũng được hết. Vì tôi thích vẽ tranh lắm.」

 

「ふふっ。その時は、また私に見せてね」

「Hì hì. Thế thì những lúc đó, lại cho chị xem với nhé.」

 

「もちろんだよ」

「Tất nhiên rồi chị.」


 ここより先の未来、僕の描いた絵を好きって言ってくれる女の子がいてくれるなら。それだけで幸せと言ってもいいんだ。

 Ngay lúc này, ngay trước mắt tôi, đang có một người nói rằng họ yêu thích những bức tranh do chính tay tôi vẽ. Chỉ cần bấy nhiêu thôi là mọi nỗ lực của tôi đã được đền đáp xứng đáng rồi.

 

 ウーさんが窓の外を見て、僕に微笑みかけてきた。

 Chị Ước nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi khẽ mỉm cười với tôi.

 

「そろそろ帰ろうか。明日も学校があるから」

「Mình chuẩn bị về thôi nhỉ. Mai chị còn phải đi học nữa.」

 

「そうだね、僕も仕事があるんだった」

「Vâng ạ, mai tôi cũng có ca làm việc nữa.」

 

 時刻は20時過ぎ。そろそろ解散の時間だ。

 Đồng hồ đã chỉ hơn 20 giờ. Đã đến lúc phải giải tán rồi.

 

 ウーさんが首を傾げる。銀色のネックレスが照明の光を反射した。

 Chị Ước khẽ nghiêng đầu. Sợi dây chuyền bạc phản chiếu ánh đèn của quán lấp lánh.

 

「私がお会計をしようか?」

「Để chị thanh toán cho nhé?」

 

「いや、大丈夫だよ。僕の牛肉のフォーが1100円とチェーが500円で、ちょうど1600円だね。はい、お願いします」

「Dạ không cần đâu ạ. Phở bò của em là 1100 yên, còn Chè là 500 yên, vừa vặn 1600 yên nhé chị. Dạ, em gửi chị ạ.」

 

 テーブルのタブレットで会計を選択して、ベトナム人の店員が待つレジへと向かう。ウーさんに自分の注文した分の現金を手渡す。彼女はパンダの絵をバッグに丁寧にしまった後、ベトナム語で店員に話しかけてくれた。お会計のやり取りを代わってくれてありがたい。

 Tôi chọn mục thanh toán trên chiếc máy tính bảng tại bàn, rồi hai đứa hướng về phía quầy thu ngân nơi cô bạn nhân viên người Việt đang chờ sẵn. Tôi đưa phần tiền mặt của món mình đã gọi cho chị Ước. Sau khi cẩn thận cất bức tranh gấu trúc vào trong túi xách, chị đã chủ động nói chuyện với cô bạn nhân viên bằng tiếng Việt. Tôi thực sự biết ơn vì chị đã thay tôi thực hiện màn giao dịch tính tiền này.


「今日はありがとうね。気を付けて」

「Hôm nay cảm ơn em nhiều nhé. Đi đường cẩn thận nha.」

 

「うん、僕も楽しかった。またバイトで会おうね!」

「Vâng ạ, tôi cũng vui lắm. Hẹn gặp lại chị ở chỗ làm thêm nhé!」

 

 その後、駅近くの駐輪場までウーさんと一緒に歩いて、そこで自転車に乗る彼女を見送った。徒歩で帰路に着いていると、急に通り雨が降ってきた。ウーさんにプレゼントした色紙が心配になったが、すぐに小雨は止んだので安心することにした。

 Sau đó, tôi đi bộ cùng chị Ước đến bãi gửi xe gần nhà ga, đứng nhìn bóng dáng chị đạp xe khuất dần rồi mới quay xe bước về. Trên đường đi bộ về nhà, một cơn mưa rào bất chợt đổ xuống. Tôi bỗng lo sốt vó cho tấm giấy vẽ đã tặng chị Ước, nhưng ngay sau đó cơn mưa nhỏ đã tạnh hẳn nên tôi cũng thở phào nhẹ nhõm.


「またね」

「Hẹn gặp lại nhé.」


 シャワーを浴びて、ウーさんからのLINEに目を通す。

 Tắm rửa sạch sẽ xong, tôi mở LINE lên đọc tin nhắn từ chị Ước.

 

「僕も家に帰った、雨からは逃げられたね」

「Tôi về đến nhà rồi ạ, may quá chạy thoát được cơn mưa.」

 

「へぇ、そっちも雨降った?」

「Ủa, bên đấy cũng mưa hả em?」

 

「ほんの少しだから大丈夫。すぐに止んだよ」

「Dạ có một tí thôi không sao đâu ạ. Tạnh ngay rồi.」

 

 

 少しだけ濡れてしまった折り畳み傘をドアノブに引っ掛ける。明日の朝までには乾いているだろう。

 Tôi treo chiếc ô gấp còn hơi ướt lên nắm cửa phòng. Chắc đến sáng mai là khô thôi.

 

「そうか、明日はラスト?」

「Vậy hả, mai em làm ca muộn đúng không?」

 

「うん」

「Vâng ạ.」

 

「頑張ってね」

「Cố lên nhé.」


 いつも伝えたくても伝えられないこと。あまり気にしてないとはいえ、事務所での休憩中だと人目があるから。

 次に遊ぶ時は直接言う。今回はLINE越しで許してほしい。

 Những điều mà lúc nào tôi cũng muốn bày tỏ nhưng lại chẳng thể nói ra thành lời. Dù bản thân không quá bận tâm, nhưng việc nói ra lúc đang giải lao ở văn phòng cửa hàng thì lại hơi ngại vì có ánh nhìn của người khác.

 Lần tới đi chơi, nhất định tôi sẽ nói trực tiếp. Hôm nay xin hãy tha lỗi cho tôi vì đã dùng đến LINE nhé.

 

「いつも、はっぴ姿だったから。今日のウーさんの服装は新鮮で可愛いと思った。また遊びに行きたい」

「Vì mọi khi toàn nhìn thấy chị mặc áo Happi thôi, nên hôm nay thấy trang phục thường ngày của chị Ước, tôi thấy mới mẻ và đáng yêu lắm. Lần sau mình lại đi chơi nữa nhé.」

 

「ふふっ、ありがとうね。あなたのプライベートも可愛かったと思うよ。また遊びに行こうね」

「Hì hì, cảm ơn em nha. Chị thấy lúc bình thường trông em cũng đáng yêu lắm đó. Lần sau mình lại đi chơi tiếp nhé.」


 僕はLINEを閉じて、スマホのカメラロールを眺めることにした。フォーの写真、チェーの写真、午前中に描いたパンダの写真。今日はウーさんとの写真を撮ろうと提案することはなかった。普通にそれどころではなかった。

 Tôi đóng ứng dụng LINE lại và bắt đầu lướt xem album ảnh trong điện thoại. Ảnh chụp bát Phở, ảnh chụp cốc Chè, và ảnh chụp bức tranh gấu trúc tôi vẽ hồi sáng. Hôm nay tôi đã không đề xuất việc chụp ảnh cùng chị Ước. Thực sự lúc đó tâm trí tôi đâu có thảnh thơi đến mức nghĩ được chuyện ấy.


 (次は、僕からツーショットを撮ろうって言うぞ。今日の服装は可愛いねって言うぞ。よし、そろそろ寝よう)

 (Lần tới, mình sẽ là người chủ động đòi chụp ảnh chung (two-shot). Sẽ chính miệng khen 'Hôm nay chị mặc đồ đáng yêu quá'. Được rồi, chuẩn bị đi ngủ thôi.)

 

 自分を主人公とした小説のように世界を捉える。

 Tôi nhìn nhận thế giới này giống như một cuốn tiểu thuyết mà trong đó, chính mình là nhân vật chính.

 

 僕が読みたくなるか、ならないか。これからは、それを自分の行動基準にしていくと決意した。

 Liệu bản thân mình có muốn đọc cuốn truyện này hay không? Tôi quyết định từ nay về sau sẽ lấy điều đó làm tiêu chuẩn cho mọi hành động của mình.


 (ウーさんにバナナをもらったのが6月だから。ちょうど知り合って三ヶ月が経ったのか。ちょうど物語の第一章が終わったくらい。よし、ハッピーエンドにするぞ)

 (Mình được chị Ước tặng chuối là vào tháng Sáu. Tính ra là vừa vặn tròn ba tháng hai đứa quen biết nhau rồi nhỉ. Vừa đúng tầm kết thúc Chương một của một câu chuyện. Được rồi, mình nhất định phải hướng tới một Happy Ending thôi.)


 僕はベッドに仰向けで倒れ込んだ。

 Tôi ngả lưng, ngã nhào xuống chiếc giường thân yêu.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ