お盆休みがお休みじゃない
ついに8月になった。
Cuối cùng cũng đã sang tháng Tám.
そうはいっても、急に僕の生活スタイルが変わる訳でもない。出勤時間が迫るギリギリまで小説や絵を書くか、冷房をガンガンに効かせた上で布団の中に包まるか。そんな有意義な夏休みを過ごしていた。
Nói là vậy, nhưng lối sống của tôi cũng chẳng thay đổi gì đột ngột. Tôi vẫn dành kỳ nghỉ hè "có ý nghĩa" của mình bằng việc viết tiểu thuyết hay vẽ tranh cho đến sát giờ đi làm, hoặc cuộn mình trong chăn với cái điều hòa bật hết công suất.
「疲れた、私の自転車パンクしたと思う」
「Mệt quá, hình như xe đạp của chị bị thủng lốp rồi.」
あと一つ、有意義な時間の使い方があった。
À, vẫn còn một cách sử dụng thời gian có ý nghĩa nữa.
「それは大変。修理できそう?」
「Khổ thân chị. Có sửa được không ạ?」
「分からないね。明日か、月曜に修理に行くつもりだよ」
「Chị cũng không biết nữa. Chắc mai hoặc thứ Hai chị mới đi sửa được.」
「それは出勤が大変だね」
「Thế thì đi làm vất vả cho chị rồi.」
ウーさんとのLINEは、すっかり夏休みの日課となっている。ほとんどのLINEの通知は彼女との会話だった。
Việc nhắn tin LINE với chị Ước đã hoàn toàn trở thành thói quen hàng ngày trong kỳ nghỉ hè của tôi. Hầu hết các thông báo LINE đều là cuộc trò chuyện với chị.
「昨日の夜、2時間も歩いた」
「Đêm qua chị đã phải đi bộ suốt 2 tiếng đồng hồ đấy.」
「わぁ、無理しないで!?」
「Trời ơi, chị đừng quá sức thế chứ!?」
文末の泣いている猫の絵文字も見慣れてきた。僕も負けじと感情を映すような記号を打ち込む。正式名称は感嘆符と疑問符だが、これをベトナム人はなんと呼ぶのだろう。
Tôi cũng đã dần quen với biểu tượng con mèo đang khóc ở cuối tin nhắn. Tôi cũng không chịu thua kém mà gõ vào những ký hiệu phản ánh cảm xúc của mình. Tên chính thức của chúng là dấu chấm than và dấu hỏi chấm, nhưng không biết người Việt gọi chúng là gì nhỉ.
「びっくり。急にパンクしたから。死んだww」
「Hết hồn luôn. Tự dưng xe bị thủng lốp. Chết mất thôi ww」
「夜も暑いから心配だよ、死なないでww」
「Đêm cũng nóng lắm nên tôi lo cho chị đấy, đừng có 'chết' nhé ww」
「今日、友達の自転車借りていくよ。大丈夫ね」
「Hôm nay chị mượn xe đạp của bạn đi làm. Không sao đâu nè.」
「それなら良かった、またバイトで会おうね」
「Vậy thì tốt rồi, hẹn gặp chị ở chỗ làm thêm nhé.」
ベッドの上で、スマホの画面を見つめる。死ぬって言葉を使うのは大袈裟かもしれないけど、僕は食中毒で一度死にかけた身だ。ただ健やかであってほしい。異国の地で暮らす彼女の身を案じるのは、自分を投影するような行為であり、慈しむような好意であった。
Nằm trên giường, tôi nhìn chằm chằm vào màn hình điện thoại. Dùng từ "chết" có vẻ hơi quá đại ngôn, nhưng tôi là người từng suýt chết vì ngộ độc thực phẩm một lần rồi. Tôi chỉ mong chị luôn bình an vô sự. Việc lo lắng cho chị đang sống nơi đất khách quê người vừa là một hành động soi chiếu bản thân, vừa là một tình cảm trân trọng, yêu thương.
「あなた、お盆いつ休む?」
「Đợt Obon này em nghỉ khi nào?」
「お盆の最終日の15日だけ休むよ」
「Tôi chỉ nghỉ mỗi ngày 15, ngày cuối cùng của Obon thôi.」
「huhu」
「huhu」
(ふふ?)
(Huhu?)
不思議なメッセージが返ってきた。これは笑われているのだろうか。このスラングの意味を調べようとした時、追加の返信が届いた。僕はネットの検索を中断する。
Một tin nhắn kỳ lạ gửi đến. Có phải chị đang cười nhạo tôi không? Ngay khi tôi định tra cứu ý nghĩa của từ lóng này, một tin nhắn tiếp theo lại đến. Tôi dừng việc tìm kiếm trên mạng lại.
「それは大変、遊びに行かない?」
「Vất vả thế, em không đi chơi đâu à?」
「遊ぶ相手が思いつかない。帰省もしないかな」
「Tôi cũng chẳng nghĩ ra ai để đi chơi cùng cả. Chắc cũng không về quê đâu.」
即座に送信してから、打った文章を改めて見返す。
何だか誘われ待ちのようなメッセージになってしまっている。心ではダサいと自覚していても、どこか保険をかけたような行動をしてしまう。本当、何歳になっても成長できないものだ。
Gửi đi ngay lập tức, rồi tôi lại nhìn lại dòng tin nhắn mình vừa viết.
Cảm giác như mình đang viết một tin nhắn kiểu "đợi được rủ rê" vậy. Dù trong lòng tự biết là nó thật "quê", nhưng tôi vẫn cứ hành động kiểu như đang tạo một đường lui cho mình. Thật sự, dù bao nhiêu tuổi đi nữa tôi cũng chẳng lớn khôn lên được.
「へえ、本当に?」
「Hể, thật á?」
「本当だよ」
「Thật mà.」
「いつか私の友達と一緒に行かない?」
「Hay lúc nào đó em đi chơi cùng bạn chị không?」
自分の下心が見透かされているようで、頰が急激に熱くなっていく。
今、僕は遊びに誘われているのだろうか。思いがけない幸運というか、自分の思い通りに事が運びすぎて、逆に戸惑いの気持ちが隠せなくなる。僕が文面を何度も見返していると、追加のメッセージが届いた。
Cảm giác như cái "mưu đồ" của tôi đã bị nhìn thấu.
Có phải tôi đang được rủ đi chơi không? Một sự may mắn ngoài mong đợi, hay nói đúng hơn là mọi chuyện đang diễn ra quá đúng ý mình khiến tôi không giấu nổi sự bối rối. Trong lúc tôi đang đọc đi đọc lại tin nhắn, một tin nhắn nữa lại đến.
「私の友達のヴァンさん。ベトナム人だけど面白い、たがみさんのこと知ってる?」
「Chị Vân bạn chị ấy. Chị ấy là người Việt nhưng vui tính lắm, em có biết anh Tagami không?」
「二人とも知ってるよ。どっちも厨房の人だよね」
「Tôi biết cả hai người đó. Cả hai đều làm ở bếp đúng không chị.」
ヴァンさんはベトナム人の小柄なお姉さん。田上くんは大学一年生の背が高い男の子。どっちも厨房で働いている従業員だ。たまにラストで姿を見かける。
Chị Vân là một người phụ nữ Việt Nam nhỏ nhắn. Còn anh Tagami là một cậu sinh viên năm nhất dáng người cao ráo. Cả hai đều là nhân viên làm ở bếp. Đôi khi tôi vẫn thấy họ vào cuối ca.
「この前、私たちと一緒に行った。ラーメン食べたよ」
「Hôm nọ bọn chị đi cùng nhau đấy. Ăn mì Ramen.」
「そうなんだ。仲良いんだね!」
「Vậy ạ. Mọi người thân nhau quá nhỉ!」
当たり前だけど、同じ厨房で働く同僚の方が距離は縮まりやすい。その事実に胸がチクっと痛んだ。
Dĩ nhiên rồi, những đồng nghiệp làm cùng ở bếp thì dễ xích lại gần nhau hơn. Sự thật đó khiến lồng ngực tôi hơi nhói đau.
「でもヴァンさんも行ったから。日本語上手ね。私だけならちょっと大変ww」
「Nhưng vì có chị Vân đi cùng nữa mà. Chị ấy giỏi tiếng Nhật lắm. Nếu chỉ có mình chị thì hơi vất vả ww」
「田上くんとは、いっぱい話せた?」
「Chị có nói chuyện được nhiều với anh Tagami không?」
ほんの少しだけ、スマホを持つ手が震えた。
Bàn tay cầm điện thoại của tôi khẽ run lên một chút.
「あまり。私の友達と田上さんよく話す。その日は私の友達を誘った」
「Không nhiều lắm. Bạn chị và anh Tagami nói chuyện với nhau suốt. Hôm đó chị rủ bạn chị đi cùng mà.」
「三人で話すとバランスが難しいね」
「Nói chuyện ba người thì khó cân bằng nhỉ.」
「そう、ヴァンさんだけ日本語が上手だから」
「Đúng thế, vì chỉ có mỗi chị Vân là giỏi tiếng Nhật thôi.」
また、泣いている猫の絵文字が文末にあった。僕だってヴァンさんと特に親しい訳ではない。仕事中に業務連絡で少し話したことがあるくらいだ。
Lại là biểu tượng con mèo đang khóc ở cuối câu. Tôi cũng đâu có thân thiết gì đặc biệt với chị Vân. Chỉ là vài lần trao đổi công việc ngắn ngủi lúc làm mà thôi.
「そうなんだ。そろそろ仕事に行くから、また話そうね」
「Ra là vậy. Đến giờ tôi đi làm rồi, có gì mình lại nói chuyện sau nhé.」
「またね、頑張って」
「Hẹn gặp lại, cố gắng làm việc nhé.」
僕はリュックを背負って、部屋の電気を消した。
Tôi khoác ba lô lên vai, tắt đèn phòng.
(もし遊ぶなら、ウーさんと二人きりがいいな)
(Nếu mà đi chơi, tôi muốn chỉ có hai người với chị thôi.)
この本音は送信できなかった。
Cái sự thật lòng này, tôi đã không thể gửi đi.
ーーー
8月11日。ついにお盆休みのシフトが始まった。今日からの四連勤は全て、11時に出勤してから23時のラストまでというロングシフトを組んでいる。
さて、いつまで僕の集中力が保つだろうか。
Ngày 11 tháng 8. Cuối cùng kỳ nghỉ lễ Obon cũng bắt đầu. Tôi đã đăng ký làm 4 ngày liên tục từ hôm nay, toàn bộ đều là ca dài từ 11 giờ trưa đến tận 23 giờ đêm.
Để xem sự tập trung của tôi sẽ trụ được đến bao giờ đây.
「いらっしゃいませ!」
「Kính chào quý khách!」
あっという間に空席が埋まっていく。これでは人の波でサーフィンができそうだ。ビーチで砂の城を積み上げるように、一つ一つとやるべき仕事をこなしていく。
Chẳng mấy chốc, những chỗ trống đã được lấp đầy. Cảnh tượng này khiến tôi cảm tưởng như mình có thể lướt sóng trên những luồng người vậy. Giống như đang xây lâu đài cát, tôi giải quyết từng công việc một.
「ダスターあります?」
「Có khăn lau (duster) không ạ?」
「もうないな。悪い、洗っている余裕もないかも」
「Hết sạch rồi. Xin lỗi nhé, chắc không kịp giặt đâu.」
「僕が最低限の分だけ洗ってくるよ」
「Để tôi đi giặt một ít đủ dùng ạ.」
冷たい流水で手とダスターを濡らす。そして絞る。電光掲示板に表示されている残りのテーブル数を確認して、必要最低限のダスターを確保する。そしてフロアに戻る。
Tôi nhúng tay và khăn lau dưới làn nước lạnh, rồi vắt khô. Kiểm tra số bàn còn lại trên bảng điện tử, tôi chuẩn bị lượng khăn tối thiểu cần thiết rồi quay lại sảnh.
「速いですね。ありがとうございます」
「Nhanh quá. Cảm ơn anh nhé.」
「どういたしまして」
「Không có gì đâu ạ.」
同僚の嬉しそうな表情。僕はポーカーフェイスを崩さずに、またテーブルの片付けに取り掛かった。
Nhìn gương mặt phấn khởi của đồng nghiệp, tôi vẫn giữ vẻ mặt lạnh lùng (poker face) rồi tiếp tục dọn dẹp bàn.
「すいません、レジにお金を詰まらせてしまって」
「Xin lỗi, tiền bị kẹt ở máy thu ngân rồi ạ.」
「分かりました、少々お待ちください」
「Dạ vâng, quý khách vui lòng chờ một chút.」
僕にも対応できない接客はある。その時は遠慮なく助けてもらおう。近くにいる片桐さんを手招きした。
Cũng có những việc tôi không tự xử lý được. Lúc đó, tôi không ngần ngại nhờ giúp đỡ, liền vẫy tay gọi em Katagiri đang ở gần đó.
「片桐さん、お金が詰まっちゃったみたい。お願いしていい?」
「Em Katagiri ơi, máy bị kẹt tiền rồi. Em xử lý giúp tôi được không?」
「分かりました、あとは対応しておきます!」
「Được rồi, để em lo cho!」
「ありがとう!」
「Cảm ơn!」
スッと片桐さんと位置を入れ替わって、テーブルの上をダスターで綺麗に拭いた。机の下にもゴミが落ちていないか、しっかりと最後まで確認を怠らない。
Tôi nhanh chóng đổi chỗ cho chị Katagiri, lau sạch mặt bàn. Tôi cũng không quên kiểm tra kỹ xem dưới gầm bàn có rác không. Công việc phải được hoàn thành trọn vẹn đến phút cuối.
「お待ちのお客様、案内します!」
「Quý khách đang chờ ơi, mời mọi người vào bàn ạ!」
余計な感情を削ぎ落として、僕は清掃マシーン(スマイルは無料サービス)となった。多分、ルンバよりも可愛いと思う。結局、初日から表情筋を使いすぎてしまった。
Gạt bỏ mọi cảm xúc dư thừa, tôi trở thành một "cỗ máy dọn dẹp" (có kèm dịch vụ nụ cười miễn phí). Tôi nghĩ có lẽ mình còn đáng yêu hơn cả robot hút bụi Roomba ấy chứ. Kết quả là ngay ngày đầu tiên, tôi đã lỡ dùng cơ mặt quá mức rồi.
ーーー
8月12日。連勤は二日目というのが一番しんどい。また初日の苦労が始まるのかという圧と、休日に辿り着くまでの長さを実感してしまうから。
Ngày 12 tháng 8. Ngày thứ hai của chuỗi làm việc liên tục luôn là lúc mệt mỏi nhất. Vì tôi vừa cảm nhận được áp lực của những vất vả từ ngày đầu, vừa thấy con đường dẫn đến ngày nghỉ sao mà xa xôi quá.
「うわぁ、疲れたー。カルボナーラ食いてーな」
「Uầy, mệt quá đi mất. Thèm ăn mì Carbonara thế không biết.」
「それなーら、食いたくなるーら」
「Thế thì ăn đi cho đỡ thèm-nara.」
「マジ、ボナーラ」
「Ăn thật luôn-nara ấy chứ.」
夜も遅くなり、脳が溶けたような言葉にならない会話を繰り広げた。木澤くんと二人で溜息を吐きながら壁にもたれかかる。お互いにカロリーを使い果たしていた。
Đêm đã muộn, chúng tôi nói những chuyện tào lao, vô nghĩa khi não bộ như đang tan chảy. Tôi và Kizawa vừa thở dài vừa tựa vào tường, cả hai đều đã cạn kiệt năng lượng.
「そういやさ、先輩ってこの店で誰が可愛いと思うよ?」
「Mà này, tiền bối thấy quán mình ai xinh nhất?」
「うーん」
「Ừm……」
僕は曖昧に頷いて、考える振りをした。僕の返事を待つ事なく、木澤くんは厨房の方を覗き込んだ。
Tôi ậm ừ gật đầu, vờ như đang suy nghĩ. Không đợi tôi trả lời, Kizawa ngó vào phía nhà bếp.
「チャウは可愛いよな。背が高いし、いつも笑顔だし」
「Cái Châu xinh nhỉ. Dáng cao, lúc nào cũng cười nữa.」
「チャウさんね。木澤くんって背が高い女の子を好きなんだ?」
「Châu à. Kizawa thích con gái cao hả?」
この時間は厨房も疲れ切っているのだろう。噂のチャウさんの目も死んでいた。彼女は背が高いので遠目からでも存在感がある。大抵のベトナム人はフレンドリーで、チャウさんも例外ではない。威圧感を与えるような高身長と朗らかな笑顔がギャップの女の子だ。
Có lẽ lúc này phía bếp cũng đã kiệt sức rồi. Đôi mắt của "nàng Châu" trong lời đồn cũng đã đờ đẫn ra. Hầu hết người Việt Nam đều rất thân thiện, và Châu cũng không ngoại lệ. Cô ấy là một cô gái có sự đối lập giữa chiều cao gây áp lực và nụ cười rạng rỡ.
「あ、でもウーさんも可愛いよな。そういや先輩と仲良いんだっけ。よく話してるもんな」
「À, nhưng mà chị Ước cũng xinh mà. Nghe bảo tiền bối thân với chị ấy lắm đúng không? Thấy hay nói chuyện suốt mà.」
「……うん。可愛い、人だと、思うよ」
「……Ừm. Tôi nghĩ chị ấy cũng là một người…… dễ thương.」
「何か、他人事みたいに言うじゃん。どうした?」
「Sao anh nói nghe cứ như chuyện của ai khác vậy? Có chuyện gì à?」
木澤くんが首を傾げた。
フロアの同僚がウーさんを可愛いと話題に出すのは初めてだった。動揺を気取られぬように声を絞り出した。
Kizawa nghiêng đầu thắc mắc.
Đây là lần đầu tiên một đồng nghiệp ngoài sảnh nhắc đến chị Ước như một chủ đề về cái đẹp. Tôi cố nén giọng để không bị lộ vẻ dao động.
何度も経験がある。自分の気になっている女の子が、自分以外にも可愛いと言われている瞬間。自分の審美眼が肯定されたかのようなルッキズム的な優越感。そして、自分だけの宝物にしていたかったという焦り。相反する自分勝手な感情が心に渦巻く。
Tôi đã trải qua điều này nhiều lần rồi. Cái khoảnh khắc mà cô gái mình đang quan tâm cũng được người khác khen là xinh xắn. Một sự tự mãn kiểu bề ngoài khi thấy gu thẩm mỹ của mình được công nhận, và cả sự sốt sắng khi muốn giữ "kho báu" đó cho riêng mình. Những cảm xúc ích kỷ trái ngược nhau cứ cuộn xoáy trong lòng.
「いや、疲れているだけだよ。かわいい、かわいい」
「Không, chỉ là tôi mệt thôi. Xinh, xinh mà.」
「ははっ、先輩はモテなさそうだな。いつも余裕を持ってないと女の子に嫌われるぞ」
「Ha ha, nhìn tiền bối có vẻ không đào hoa đâu. Phải luôn giữ được vẻ ung dung thì con gái mới không ghét chứ.」
「むむっ、お互い様やろがい!」
「Này, cậu cũng thế thôi nhé!」
いつもの調子を取り戻すが、心はぼんやりしていた。
Dù đã lấy lại phong thái như mọi khi, nhưng tâm trí tôi vẫn mông lung.
僕は、自分がウーさんの優しさに惹かれていることを誇っていた。彼女の可愛らしい外見に惹かれるのではなく、彼女が外国人であろうと、その素敵な内面に向き合える日本人であると。そんなプライドを持っていたのだ。
Tôi vốn tự hào vì mình bị thu hút bởi sự dịu dàng của chị Ước. Tôi đã có một niềm kiêu hãnh rằng mình không phải là kẻ chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài, mà là một người Nhật có thể thấu hiểu được nội tâm tốt đẹp của chị dù chị là người nước ngoài. Tôi đã luôn giữ cho mình niềm tự trọng như thế.
木澤くんがウーさんを可愛いと評した事で、その虚構が崩れ落ちていくような気がして。僕は後ろめたくなった。
Nhưng khi Kizawa khen chị Ước xinh, tôi có cảm giác như cái vỏ bọc cao đẹp đó đang sụp đổ, khiến tôi thấy thật hổ thẹn với bản thân.
「お先に失礼します、ほら、先輩も早く帰ろうぜ」
「Em xin phép về trước đây. Nào, tiền bối cũng về nhanh đi.」
「うん。お先に失礼します。ウーさん、バイバイ」
「Ừ. Chào mọi người, tôi về đây. Chị Ước ơi, bye bye.」
「ふふっ、お疲れさまね」
「Hì hì, vất vả cho em rồi.」
その日のウーさんに向ける挨拶は、いつもより淡白なものとなった。彼女の変わらない微笑が痛かった。
Lời chào hôm đó tôi dành cho chị Ước có phần nhạt nhẽo hơn mọi khi. Nụ cười không đổi của chị khiến lòng tôi đau nhói.
ーーー
8月13日。まだ出勤まで時間がある。木澤くんがウーさんを褒めたことで、昨夜の寝付きは悪かった。ボサボサの寝癖を洗面所で直す。何度も直しても跳ねてくる毛先は、まるで僕の心に渦巻く仄かな嫉妬心のようだった。
Ngày 13 tháng 8. Vẫn còn thời gian trước giờ đi làm. Vì Kizawa đã khen chị Ước nên đêm qua tôi ngủ không ngon giấc. Tôi soi gương chải lại mái tóc bù xù của mình. Những lọn tóc cứ vểnh lên dù đã cố vuốt lại bao nhiêu lần, trông hệt như sự ghen tuông nhen nhóm đang cuộn xoáy trong lòng tôi.
「今日のフロアは23時を過ぎたよ。やばい」
「Hôm qua ca sảnh làm đến tận hơn 23 giờ đấy. Kinh khủng thật.」
「私も23時半まで仕事した。やばい、足痛いww」
「Chị cũng làm đến 23 giờ rưỡi. Sợ thật, đau chân quá đi ww」
就寝の直前に交わしたトーク画面を見返す。この会話の流れなら不自然ではないかもしれない。
僕はベッドの上で文章を組み立てた。
Tôi xem lại màn hình tin nhắn vừa trao đổi lúc đêm khuya. Theo mạch này thì hỏi câu này chắc không quá gượng gạo đâu nhỉ.
Tôi nằm trên giường và nặn ra từng chữ.
「ねぇ。仕事の疲れを取るなら、どこに行ってみたい?」
「Này chị. Để xua tan mệt mỏi công việc thì chị có muốn đi đâu chơi không?」
「分からない。喫茶店とか、何か食べるとか」
「Chị không biết nữa. Đi cà phê, hay đi ăn gì đó chẳng hạn.」
タイミングが良いのか、ウーさんの返信は早かった。
ここが勇気の出しどころだ。スマホの画面越しなら、僕の葛藤も見せずにスマートに誘える。いつになく心臓の鼓動が速くなった。
Không biết có phải là do thời điểm thích hợp hay không mà chị Ước trả lời rất nhanh.
Đây chính là lúc cần dũng khí. Qua màn hình điện thoại, tôi có thể mời chị một cách lịch thiệp mà không để lộ sự lúng túng của mình. Nhịp tim tôi đập nhanh hơn bao giờ hết.
「じゃあ忙しいバイトが終わったら、一緒に何か食べに行きませんか?」
「Vậy sau khi kết thúc đợt làm thêm bận rộn này, chị tôi mình cùng đi ăn gì đó nhé?」
「へぇ、いつにする?」
「Hể, khi nào thế em?」
いざ送ってしまえば、呆気ないものだった。
これは前向きな返信だと思っていいのだろうか。
Gửi đi rồi mới thấy mọi chuyện thật đơn giản.
Đây có thể coi là một câu trả lời tích cực đúng không nhỉ.
「お昼ご飯ならバイトがある日でも行けるよ。ウーさんの行きたい日はある?」
「Ăn trưa thì dù là ngày có lịch làm thêm mình vẫn đi được. Chị có ngày nào muốn đi không?」
譲歩か、先導か。自分の取るべき行動を模索する。
Nhượng bộ hay dẫn dắt? Tôi đang tìm kiếm nước đi tiếp theo của mình.
「あぁ、お昼ご飯というのもいいな。木曜日はバイト?」
「À, ăn trưa cũng được đấy. Thứ Năm em có đi làm không?」
「明日ならお昼からバイトだよ」
「Ngày mai tôi có ca từ buổi trưa rồi.」
「あれ、そうだったか。日曜は?」
「Ủa vậy hả. Thế còn Chủ Nhật?」
「日曜もバイトだね」
「Chủ Nhật tôi cũng có lịch làm.」
「うーん。お昼ご飯できないね」
「Ừm. Thế thì không ăn trưa được rồi nhỉ.」
また泣いている猫の絵文字があった。
僕が返信するより早く、追加のメッセージが届いた。
Lại là biểu tượng con mèo đang khóc.
Nhưng trước khi tôi kịp trả lời, một tin nhắn nữa lại đến.
「じゃあ晩御飯なんかどう?」
「Hay là ăn tối đi?」
「いいよ。でも休日が一緒なことあるかな?」
「Được ạ. Nhưng không biết bọn mình có trùng ngày nghỉ không nhỉ?」
僕は首を傾げた。お互いのシフトを組み合わせたら、それだけで全ての曜日が埋まりそうだ。
Tôi nghiêng đầu thắc mắc. Nếu kết hợp lịch làm của cả hai lại, chắc là kín bưng cả tuần mất.
「確かに私たちはバイトが多いね。どうするかな」
「Đúng là bọn mình làm thêm nhiều thật đấy. Để xem tính sao đây.」
「ゆっくり考えますか」
「Vâng, để mình thong thả suy nghĩ chị nhé.」
フォーの湯気のような温かい多幸感に包まれていく。
心の詰まりが取れたからか、その日のラスト作業は安らかな気持ちでやり遂げることができた。
Tôi cảm thấy mình như được bao bọc trong một sự hạnh phúc ấm áp như làn khói từ bát Phở vậy. Có lẽ nhờ gỡ bỏ được sự tắc nghẽn trong lòng mà ca làm cuối ngày hôm đó, tôi đã hoàn thành với tâm trạng cực kỳ an yên.
ーーー
8月14日。今日も昼からのロングシフトで忙しいが、これでお盆休みのシフトは終了だ。この日を乗り切るだけで日常へと戻れる。
Ngày 14 tháng 8. Hôm nay lại là một ca dài từ buổi trưa, bận rộn đến nghẹt thở, nhưng đây là ngày cuối của lịch làm đợt Obon rồi. Chỉ cần vượt qua ngày hôm nay là tôi có thể trở lại nhịp sống thường nhật.
(このお盆休みで何か得られたのかな?)
(Không biết mình đã đạt được điều gì qua đợt nghỉ Obon này chưa nhỉ?)
正直、ロングシフトで働いても、何かを学んで成長してる感覚はない。特にピークの時間帯はハムスターの回し車に閉じ込められたような心理状況になる。現在時刻を確認するたび、秒針の遅さに焦燥感を抱いてしまう。
Thú thật, dù làm ca dài thì tôi cũng chẳng cảm thấy mình học hỏi hay trưởng thành thêm được gì. Đặc biệt là vào giờ cao điểm, tâm lý tôi cứ như một chú chuột hamster bị nhốt trong cái vòng quay không lối thoát. Mỗi lần kiểm tra giờ giấc, tôi lại thấy sốt ruột vì kim giây trôi đi quá chậm.
「はい、ただいまお伺いします!」
「Vâng, tôi đến ngay đây ạ!」
ピコンっと店員を呼び出す音が鳴る。
余計な感情を削ぎ落とそうと、18番テーブルに足を運んだ。見るからに機嫌が悪そうな男が待ち構えている。
Tiếng chuông gọi nhân viên vang lên "Píp píp".
Để gạt bỏ những cảm xúc dư thừa, tôi rảo bước đến bàn số 18. Một gã đàn ông với gương mặt trông có vẻ rất khó chịu đang chờ sẵn.
「おい、このラーメンがぬるいんだが。ちゃんと作ってんのか?」
「Này, bát mì này nguội ngắt thế này à. Có làm ăn cẩn thận không đấy?」
「大変申し訳ありませんでした。ただいま責任者に確認しますので、そちらを回収させていただいても宜しいですか?」
「Chúng tôi vô cùng xin lỗi quý khách. Để tôi đi xác nhận lại với người quản lý ngay ạ, tôi xin phép thu hồi lại bát mì này được không ạ?」
雑な手付きで突き出されるラーメンの器。その勢いで少しばかりの汁が手にかかる。確かにぬるいような気もするが、もっと丁寧に気を遣って渡してほしい。この手の輩には何を言っても無駄だろうが。
Gã đưa bát mì ra với vẻ thô lỗ, khiến một ít nước dùng bắn vào tay tôi. Quả thực là nó hơi nguội thật, nhưng gã có thể đưa cho tôi một cách lịch sự hơn mà. Với những hạng người này thì nói gì cũng bằng thừa thôi.
僕の心が冷たくなり、外の雑音が遠くなる。
Lòng tôi bỗng lạnh ngắt, những tạp âm xung quanh như lùi xa dần.
「店長、この魚介ラーメンがぬるかったそうです」
「Quản lý ơi, bát mì cá này khách bảo bị nguội ạ.」
「分かった。確認するね。お客様の反応は?」
「Được rồi, để anh kiểm tra. Phản ứng của khách thế nào?」
「はい。18番テーブルのお客様で、少し怒っているような印象でした」
「Dạ, khách ở bàn 18 có vẻ đang khá giận dữ ạ.」
店長に引き継ぎをして、僕はフロアに戻った。今頃、厨房では新しいラーメンを作り直している最中だろう。店長が18テーブルの客の元に行くまで、僕はそこに近付きたくない。これ以上の藪蛇をつつくのは最悪だ。
Sau khi bàn giao cho quản lý, tôi quay lại sảnh. Chắc giờ trong bếp đang làm lại bát mì mới. Cho đến khi quản lý đến chỗ bàn 18, tôi sẽ không bén mảng lại gần đó. "Động vào tổ kiến lửa" lúc này là điều tệ hại nhất.
「ごめん、こっちの片付けを先にやってもいい?」
「Xin lỗi, cho em dọn dẹp chỗ này trước được không?」
「大丈夫ですよ」
「Được chứ.」
僕は遠く離れたテーブルから清掃することにした。
Tôi quyết định dọn dẹp từ những chiếc bàn ở xa gã đó nhất.
「やっとアイドリングだね」
「Cuối cùng cũng đến giờ vắng khách (idling) rồi nhỉ.」
「はい、小厨房の洗い物も終わらせないとですね」
「Vâng, phải dọn dẹp đống bát đĩa bên trong nữa ạ.」
午後の3時。おやつの時間であり、フロアから昼の客が引き始めるアイドリングの時間帯でもある。
3 giờ chiều. Là giờ ăn nhẹ, cũng là lúc lượng khách buổi trưa bắt đầu vãn dần.
(あっ)
(Aa)
私服姿のウーさんと店内で出くわした。セルフサービスのお冷を湯呑みに注いでいる。お互いの視線が交錯する。
周りのお客さんや同僚に気取られぬように、静かに喉を震わせた。彼女なら、そっと囁くような声でも耳を傾けてくれるだろうという信頼があった。
Tôi tình cờ bắt gặp chị Ước trong bộ đồ thường ngày đang ở trong quán. Chị đang rót nước lọc vào những chiếc tách. Ánh mắt hai chúng tôi giao nhau.
Để không bị khách hàng hay đồng nghiệp chú ý, tôi khẽ cất lời. Tôi tin rằng với chị, dù chỉ là một tiếng thì thầm, chị vẫn sẽ lắng nghe.
「ウーさん。ウーさんっ」
「Chị Ước. Chị Ước ơi.」
「ふふっ、どうしたの?」
「Hì hì, có chuyện gì thế em?」
その短い名前を声にして、そっと口ずさむだけでいい。さっきまで疲弊していたはずの心が波打ってくる。名前を呼ぶ行為とは、この世界で最小の音楽なのかもしれない。
Chỉ cần gọi tên chị một cách nhẹ nhàng như thế là đủ. Trái tim vốn đang kiệt sức bỗng chốc lại rộn ràng trở lại. Việc gọi tên ai đó, có lẽ chính là bản nhạc ngắn nhất trên thế giới này.
「ウーさん、休憩?」
「Chị đang nghỉ giải lao ạ?」
「そうね。まだフロアは仕事?」
「Đúng rồi. Em vẫn đang làm ở sảnh hả?」
「うん、まだ忙しい」
「Vâng, vẫn đang bận lắm chị ạ.」
まだピークの時間帯でやり切れなかった仕事が残っている。ここからも夜のラッシュに備えなくてはいけない。まだまだ休憩には行けないだろう。
Vẫn còn những công việc chưa kịp làm xong từ giờ cao điểm. Phải chuẩn bị cho đợt khách buổi tối nữa. Chắc là còn lâu tôi mới được đi nghỉ.
「ふふっ、私はみんなと食べるよ」
「Hì hì, chị đi ăn cùng mọi người đây.」
ウーさんが遠くの20番テーブルを指差す。ちらほらと見知った顔があった。ベトナム人の従業員同士で一つのテーブルに集合しているようだった。ウーさんが持っている湯呑みの数もたくさんだった。
Chị Ước chỉ tay về phía bàn số 20 đằng xa. Thấp thoáng vài gương mặt quen thuộc. Có vẻ các nhân viên người Việt đang tụ tập ăn uống tại một bàn. Chị Ước cũng đang cầm trên tay rất nhiều tách nước.
「はい、お盆使っていいよ」
「Này, chị dùng khay này đi.」
「ふふっ、ありがとう」
「Hì hì, cảm ơn em nhé.」
僕はフロアに置いてあるお盆を差し出した。ウーさんは軽く頭を下げて、お盆に複数の湯呑みを乗せて20番テーブルまで運んで行った。その後ろ姿を静かに見送る。
Tôi đưa chiếc khay ở sảnh cho chị. Chị khẽ cúi đầu chào rồi đặt những tách nước lên khay mang ra bàn 20. Tôi lặng lẽ dõi theo bóng lưng chị.
「さて、仕事に戻るか。うわっ!?」
「Thôi, quay lại làm việc nào. Ối!?」
「ふふっ。これ、ありがとうね」
「Hì hì. Cái này, cảm ơn em nhé.」
いつの間にか、お盆を持ったウーさんが背後に立っていた。彼女から目を離したのは数秒だと思っていたが、どうやら思っているより疲れているらしい。
Chẳng biết từ lúc nào, chị Ước đã cầm khay đứng ngay sau lưng tôi. Tôi cứ ngỡ mình mới chỉ rời mắt khỏi chị vài giây thôi chứ.
くすっと僕のリアクションを笑う彼女。やっぱり近くで見ると可愛い容姿だと実感してしまう。
Chị khẽ cười trước phản ứng của tôi. Quả thực nhìn gần mới thấy chị là một cô gái rất xinh xắn.
「ウーさん、いつかご飯行こうね」
「Chị Ước ơi, hôm nào chúng mình đi ăn nhé.」
「うん、いつにしようね」
「Ừm, để xem khi nào được nhỉ.」
一昨日は、ウーさんの可愛さが自分だけでなく同僚の目にも明らかな事実であると思い知った。微かな優越感と同時に、その価値を自分だけが知っている特別さが失われるような独占欲を抱いた。
Hôm kia, tôi đã nhận ra một sự thật rằng không chỉ tôi mà các đồng nghiệp khác cũng thấy chị Ước xinh đẹp. Một chút tự mãn đan xen với sự ích kỷ khi muốn giữ kho báu đó cho riêng mình.
その焦りを埋めるように食事の誘いをした。ウーさんも前向きに考えてくれているようだ。それは僕の内心を知ってか、知らずか。彼女が表に出さない感情を考えても意味はない。この女の子が僕に屈託のない笑顔を向けてくれること。その事実だけで充分なんだ。
Tôi đã mời chị đi ăn như để lấp đầy nỗi bất an đó. Và có vẻ chị Ước cũng đang rất mong chờ. Không biết chị có thấu hiểu tâm can của tôi hay không, nhưng việc suy đoán những cảm xúc chị không bộc lộ ra cũng chẳng để làm gì. Chỉ cần cô gái này dành cho tôi nụ cười hồn nhiên đó là quá đủ rồi.
「ゆっくり考えよう。焦らなくても平気だからさ」
「Bọn mình cứ thong thả suy nghĩ nhé. Không cần vội đâu ạ.」
僕はウーさんに微笑みかけた。
Tôi mỉm cười với chị.
21時過ぎ。高校生の帰る時間が迫ってくる。
Hơn 21 giờ. Sắp đến giờ các bạn học sinh cấp ba phải về.
フロアの全員から余裕がなくなっていた。僕を含めた男性陣はその傾向が顕著に現れていた。
Mọi người ở sảnh đều không còn giữ được sự thong dong nữa. Cánh đàn ông chúng tôi, bao gồm cả tôi, bộc lộ điều đó rõ rệt nhất.
「おい、なんで26番テーブルの呼び出しに行かなかったの。ずっと呼んでるのに店員が来ないって俺が怒られたんだが」
「Này, sao ông không ra bàn 26 thế? Chuông kêu suốt mà không thấy ai ra làm tôi bị khách mắng đây này.」
「僕に小厨房の仕事を一人で任せたのは木澤くんでしょ。それはフロアに出てる人が対応してよ」
「Tôi đang phải một mình lo đống việc ở tiểu bếp mà. Những người đang ở sảnh phải tự giải quyết đi chứ.」
「はぁっ、こっちだって仕事が山積みなんだよ」
「Hả, bên này cũng việc ngập đầu ra đây này.」
木澤くんと些細なことで口論になった。呼び出しの音が鳴った時、僕は洗い物の途中だった。一人で膨大な数のスプーンとフォークを洗って、乾燥機にかけなくてはいけない。わざわざ濡れた手を拭いて、26番テーブルまで行くという選択肢は無かった。
膨れっ面の木澤くんが隣に来て、汚れたダスターをゆすぎ始める。
Tôi và Kizawa đã có một cuộc tranh cãi nhỏ vì chuyện vặt vãnh. Lúc chuông kêu, tôi đang dở tay rửa bát. Một mình tôi phải rửa và sấy khô một lượng lớn thìa và nĩa. Tôi không thể lau tay rồi chạy ra bàn 26 được.
Kizawa tiến lại gần chỗ tôi để giặt khăn.
「まぁ、いいや。次はちゃんと頼むわ」
「Thôi bỏ đi. Lần sau nhờ ông để ý cho ra hồn tí nhé.」
「ちゃんとって何?」
「Cho ra hồn' là sao cơ?」
その言葉だけは聞き捨てならない。
Riêng từ đó thì tôi không thể bỏ qua được.
流石にカチンときて、あまり雑談はせずに黙々と作業を進めた。木澤くんは居心地悪そうにフロアへと戻っていった。少し大人気なかったかもしれない。四日間に渡る長時間労働という肉体の酷使が、僕の精神的な防衛膜を薄くしたのだろう。どんなに僕が善人ぶっても、聖人とまでは呼ばれない理由が詰まっていた。
Tôi thực sự thấy nóng mặt, nên không nói chuyện phiếm nữa mà chỉ lẳng lặng làm việc. Kizawa có vẻ thấy không thoải mái nên lại đi ra sảnh. Có lẽ tôi đã hơi trẻ con. Việc làm việc liên tục trong 4 ngày đã bào mòn lớp màng bảo vệ tinh thần của tôi. Dù tôi có cố tỏ ra là người tốt đến đâu, thì đây chính là lý do vì sao tôi không bao giờ được gọi là thánh nhân.
小厨房の仕事を終えて、フロアに顔を出す。もう少しで閉店の時間だ。
Xong việc ở tiểu bếp, tôi ló mặt ra sảnh. Sắp đến giờ đóng cửa rồi.
「木澤くん、小厨房の仕事は終わったよ。そっちはどう?」
「Kizawa ơi, việc ở tiểu bếp xong rồi nhé. Bên đó sao rồi?」
「あと二組が帰れば終わりだな。湯呑みの補充を手伝ってくれよ」
「Còn hai nhóm nữa về là xong. Giúp tôi bổ sung thêm tách trà với.」
「いいよー」
「Ok luôn.」
ちゃんと謝罪し合うような律儀さは、二人とも持ち合わせていない。ただ、お互いに禍根を引きずらないタイプでもあった。良くも悪くもあっさりとしている。
Cả hai chúng tôi đều không phải kiểu người câu nệ đến mức phải nói lời xin lỗi chính thức. Nhưng chúng tôi cũng chẳng phải kiểu người hay để bụng. Dù tốt hay xấu thì mọi chuyện đều trôi qua rất nhanh.
「そうだ。あそこの客が帰るまで、とば寿司の中で誰が可愛いかの話しようぜ」
「Phải rồi. Trong lúc đợi khách về, tiếp tục chủ đề "ai xinh nhất Toba-Sushi" đi.」
「いいよ、この前の続きからね」
「Được thôi, tiếp tục chuyện hôm nọ nhé.」
僕が木澤くんに笑いかけて、お盆休みのシフトは幕引きとなった。今年の夏のエンドロールは男二人のむさ苦しい恋バナだった。
Tôi mỉm cười với Kizawa, khép lại chuỗi ngày làm việc dịp Obon. Đoạn kết của mùa hè năm nay chính là màn tán gẫu về tình yêu đầy "mùi đàn ông" của hai gã trai.




