表示調整
閉じる
挿絵表示切替ボタン
▼配色
▼行間
▼文字サイズ
▼メニューバー
×閉じる

ブックマークに追加しました

設定
0/400
設定を保存しました
エラーが発生しました
※文字以内
ブックマークを解除しました。

エラーが発生しました。

エラーの原因がわからない場合はヘルプセンターをご確認ください。

ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
グラデーション(Thứ bậc màu sắc)  作者: ふくマカロニ
バナナをくれた女の子
PR
16/27

フォーの店を見つけたよ

 7月25日。

 今日は日本の学校の終業日。明日から夏休みとなるが、僕はフリーターなので特に気持ちの変化はない。

 むしろ、とば寿司の店内がいつもより騒がしくなるのが簡単に予想できて、どこか面倒な気分になってしまう。

 Ngày 25 tháng 7.

 Hôm nay là ngày bế giảng của các trường học ở Nhật Bản. Từ ngày mai sẽ bắt đầu kỳ nghỉ hè, nhưng vì tôi là một người làm tự do (freeter) nên cảm xúc cũng chẳng có gì thay đổi đặc biệt.

 Ngược lại, tôi còn có thể dễ dàng dự đoán được cảnh tượng trong tiệm Toba-Sushi sẽ trở nên náo loạn hơn mọi khi, khiến lòng tôi bỗng cảm thấy có chút phiền phức.


 (だって、既に動物園みたいだからな)

 (Bởi vì, nơi này trông đã chẳng khác gì một cái vườn bách thú rồi.)


 18時のフロア、僕は店内を静かに見渡す。

 一応、今日も午後からは夏休みと言えるのだろうか。一学期終わりの解放感に支配されているのだろう。とば寿司のフロアは盛り上がる学生でお祭り騒ぎだ。この喧騒が分別を保っているなら微笑ましいと思う。

 Tại sảnh lúc 18 giờ, tôi im lặng quan sát khắp lượt trong tiệm.

Tạm coi như từ chiều nay đã có thể gọi là kỳ nghỉ hè rồi nhỉ. Chắc hẳn sự phấn khích của việc kết thúc học kỳ một đang chi phối bọn trẻ. Sảnh của Toba-Sushi náo nhiệt như một lễ hội với đám học sinh đang hò hét. Nếu sự ồn ào này vẫn giữ được chừng mực thì tôi còn thấy nó có chút gì đó đáng yêu.


「けけけっ、はい、お前罰ゲームなっ!」

「Kê kê kê. Này, mày thua thì phải chịu phạt nhé!」

 

「うわっ、最悪なんだけど。だるっ!」

「Uầy, đen thế không biết. Mệt thật đấy!」


 粘つくような会話。声変わり初期の掠れた声と、年相応な甲高い声が重なっている。

 Những cuộc đối thoại đầy dính dấp. Tiếng giọng khàn đặc của thời kỳ mới vỡ giọng xen lẫn với những tiếng hét cao vút đúng độ tuổi.

 

 はしゃぐ気持ちも分かるが、仲間内の罰ゲームとして、わさびを山盛りにしたり、緑茶の粉末を寿司にかけたりしているのはマナー違反だと思う。僕は16番テーブルの小学生の集団の食事風景に対して重い溜息を吐いた。

 一応の後ろめたさはあるのか。チラチラと店員の反応を窺いながら、身内ノリではしゃぐ年端も行かない少年の姿を見ていると、なんだか苛立ちの感情が湧いてくる。僕は大人気ないかもしれないが、ここまで行儀が悪い少年時代を過ごした記憶もない。

 Tuy nhiên, việc bọn trẻ tự bày ra trò phạt nhau bằng cách cho thật nhiều mù tạt (wasabi) hay rắc bột trà xanh lên sushi thì đúng là vi phạm quy tắc ăn uống. Tôi thở dài thườn thượt trước cảnh tượng ăn uống của nhóm học sinh tiểu học ở bàn số 16.

 Nhìn những cậu thiếu niên còn chưa đến tuổi trưởng thành cứ vừa liếc nhìn phản ứng của nhân viên vừa đùa nghịch quá trớn theo kiểu nội bộ, trong tôi bỗng trào lên một cảm giác bực bội. Có thể tôi hơi trẻ con khi chấp nhặt, nhưng tôi không có ký ức nào về một thời thiếu niên lại thiếu lễ độ đến mức này.

 

 やっぱり、子供の集団は保護者なしで飲食店に来るべきではないと思う。僕はアルバイトなので、彼らが周囲のお客さんに迷惑をかけるまでは注意できないという点も歯痒さに拍車をかけている。

 僕がマスクの下で唇を引き結んでいると、別のお客さんとすれ違った。小学生の女の子の手を引く母親だった。

 Quả nhiên, tôi nghĩ trẻ em không nên đi ăn ở nhà hàng nếu không có người bảo hộ đi cùng. Việc tôi chỉ là một nhân viên làm thêm, không thể nhắc nhở cho đến khi chúng thực sự gây phiền hà cho những khách hàng xung quanh, càng làm tăng thêm sự bứt rứt trong lòng.

 Trong lúc tôi đang mím chặt môi dưới lớp khẩu trang, tôi lướt qua một vị khách khác. Đó là một người mẹ đang dắt tay cô con gái nhỏ học tiểu học.


「ごちそうさまでした。ほら、店員さんにあいさつは?」

「Cảm ơn vì bữa ăn. Nào, con chào chú nhân viên đi?」

 

「ご、ごちそうさまでした……」

「C…… con cảm ơn vì bữa ăn ạ……」

 

「ありがとうございます!」

「Cảm ơn quý khách rất nhiều!」


 だから、こうやって丁寧に会釈してくれるお客さんには心が癒されてばかりだ。もっと店員に挨拶する文化が広まればいいと思う。はにかむ女の子がおずおずと手を振ってくれたので、僕も控えめに手を振り返した。

 Chính vì thế, những vị khách khẽ cúi chào lịch sự như thế này luôn khiến trái tim tôi được xoa dịu. Tôi ước gì văn hóa chào hỏi nhân viên cửa hàng sẽ được lan rộng hơn. Cô bé hay thẹn thùng đó rụt rè vẫy tay chào, nên tôi cũng khẽ vẫy tay đáp lại.


「ありがとうございます!」

「Cảm ơn quý khách rất nhiều!」


 その後もレジへ向かう客を見かけるたびに声を出す。すっかり体に染み付いてしまった。これはお客さんへの感謝の気持ちが三割、レジに向かっていく対象がいると周囲の同僚に知らせる意図が七割だ。僕の愛想良い笑顔は今のところ健在である。笑顔と明るい声までがセット商品だ。

 Sau đó, mỗi khi thấy khách hướng về phía quầy thu ngân, tôi lại cất tiếng chào. Điều đó đã ăn sâu vào máu thịt tôi rồi. Việc chào hỏi này chiếm ba phần là lòng biết ơn với khách hàng, bảy phần còn lại là ý đồ muốn thông báo cho đồng nghiệp xung quanh biết có khách đang chuẩn bị thanh toán. Nụ cười niềm nở của tôi cho đến thời điểm này vẫn đang được duy trì tốt. Nụ cười và giọng nói tươi tỉnh luôn là một "combo" đi kèm.

 

 この愛嬌のゲージは店員の元気と直結しているので、フロアでは笑顔が少なくなった同僚から休憩すべきという認識が共有されている。さっきは仏頂面の木澤くんが事務所に向かった。彼が休憩から戻るまでに幾つかの面倒な仕事を片付けておきたい。

 Cái cột mốc của sự niềm nở này liên kết trực tiếp với năng lượng của nhân viên, nên ở sảnh chúng tôi có một quy ước ngầm là: hễ đồng nghiệp nào ít cười đi thì đó là lúc họ cần được nghỉ giải lao. Lúc nãy, Kizawa với gương mặt hầm hầm đã đi vào văn phòng. Tôi muốn dọn dẹp xong mấy việc phiền phức trước khi cậu ấy quay lại sau giờ nghỉ.

 

「ぽいっ、ぽいっ」

「Pồi, pồi.」

 

 ポイっとビーカーに卓上のゴミを放り込んでいく。僕の手捌きも熟練の域に達している。水気の残ったダスターでテーブルを綺麗に拭く。注文用タブレットに前の会計情報が残っていないことを確認する。

 そして、次のテーブルに目標を設定する。

 Tôi thoăn thoắt gạt rác trên bàn vào khay chứa. Đôi tay tôi đã đạt đến mức điêu luyện. Tôi dùng khăn ẩm lau sạch bàn, kiểm tra để chắc chắn thông tin của lần thanh toán trước không còn lưu lại trên máy tính bảng đặt món.

 Sau đó, tôi thiết lập mục tiêu cho bàn tiếp theo.

 

 

 フロアには冷房が効いているにも関わらず、はっぴの下で大量の汗が流れる。周りを見渡すと、どの同僚も暑そうに顔を上気させていた。やはりマスクを着用すると息苦しい。でもマスクを着けていないと、嫌な客に顔を覚えられてしまう。自宅が近所というのも一長一短だ。

 Mặc dù trong sảnh có điều hòa đang chạy, nhưng mồ hôi vẫn chảy ròng ròng dưới lớp áo Happi. Nhìn quanh, đồng nghiệp nào cũng đang đỏ bừng mặt vì nóng. Quả thật đeo khẩu trang rất khó thở. Nhưng nếu không đeo, tôi sợ sẽ bị những vị khách khó ưa nhớ mặt. Việc nhà ở ngay gần đây đúng là con dao hai lưỡi.

 

 結局、マスクは外さないことにした。ここが大人としての踏ん張りどころで、フロアとしての分水嶺だろう。

 僕は少しだけマスクを顎の方にずらして、新鮮な空気を吸い込んだ。これで息継ぎの時間は終わりだ。

 Cuối cùng, tôi quyết định không tháo khẩu trang. Đây là lúc cần sự kiên trì của một người trưởng thành, là ranh giới sống còn của khu vực sảnh.

 Tôi khẽ kéo khẩu trang xuống cằm một chút, hít một hơi thật sâu không khí trong lành. Thời gian "lấy hơi" của tôi đã kết thúc.

 

「店長、お疲れ様です」

「Quản lý, anh vất vả rồi ạ.」

 

「おはよう……ちょうどいいところに来てくれた。お盆のシフトについての相談なんだけどね」

「Chào em…… May quá em lại vừa đến. Anh đang muốn thảo luận với em về ca làm việc dịp lễ Obon đây.」


 フロアに戻った木澤くんと入れ替わって、僕が休憩に入った時だった。スーパーで買い物を終えて事務所に戻ってくると、メガネを曇らせた中島店長に呼び止められた。彼は8月中旬のシフトを作成中のようだった。

 Đó là lúc tôi chuẩn bị bước vào giờ nghỉ giải lao, đổi ca với Kizawa vừa quay lại sảnh. Sau khi mua đồ ở siêu thị và quay lại văn phòng, tôi bị quản lý Nakajima – người đang đeo chiếc kính bị mờ đi vì hơi nóng – gọi lại. Có vẻ anh đang lập bảng phân ca cho giữa tháng Tám.


「どうしましたか?」

「Dạ, có chuyện gì thế anh?」

 

 僕は買ったばかりの弁当をロッカーの上に置いて、汗だくのシャツをパタパタと仰いだ。涼しい風を胸元に送りながら、デスクトップパソコンで作業中の店長に近づく。

 Tôi đặt hộp cơm vừa mới mua lên nóc tủ locker, vừa cầm cổ áo sơ mi sũng mồ hôi vẫy phành phạch để quạt mát. Vừa lùa chút gió mát vào lồng ngực, tôi vừa tiến lại gần quản lý đang làm việc bên chiếc máy tính để bàn.


「お盆は予定あるかな?」

「Dịp Obon em có kế hoạch gì chưa?」

 

「特にないですよ、シフトは店長に任せます」

「Dạ tôi không có gì đặc biệt đâu ạ. Ca làm việc tùy anh sắp xếp nhé.」


 お盆に里帰りする予定もないし、旧友と遊びに行く予定もない。今年の夏も恋人はいないだろうし、仕事しかない自分を寂しいとも思わない。僕がニッコリと微笑むと、店長も安心したように表情を崩した。

 Tôi không định về quê, cũng chẳng có lịch đi chơi với bạn cũ. Mùa hè năm nay chắc tôi vẫn chưa có người yêu, nhưng tôi cũng chẳng thấy buồn vì việc mình chỉ có công việc. Khi tôi nở nụ cười rạng rỡ, quản lý cũng giãn cơ mặt ra vẻ nhẹ nhõm.


「助かるよ。じゃあお盆の月曜から木曜までの4連勤、お昼からのロングシフトでもいいかな?」

「Cứu tinh đây rồi. Vậy đợt Obon, anh xếp em làm 4 ngày liên tục từ thứ Hai đến thứ Năm, ca dài (long shift) từ buổi trưa luôn nhé?」

 

「はい」

「Vâng ạ.」


 返事は簡潔に、気分はプロフェッショナルに。

 Câu trả lời thật ngắn gọn, tâm thế thật chuyên nghiệp.


「あっ、おはよう」

「A, chào em.」

 

「おはよう、ウーさん」

「Chào chị, chị Ước.」


 僕の背後で事務所のドアが開いて、スゥっと外の空気が入ってくる感覚があった。首だけ振り向いて確認すると、私服姿のウーさんが入室したところだった。

 いつものように菓子パンをスーパーで買ってきたばかりなのだろう。彼女の細くしなやかな腕には透明なレジ袋がぶらさがっていた。ふにゃっとした微笑がフロアで溜まった全てのストレスを溶かしてくれる。

 Phía sau lưng tôi, cánh cửa văn phòng mở ra, tôi cảm nhận được một luồng không khí từ bên ngoài lùa vào. Khi ngoảnh đầu lại, tôi thấy chị Ước trong trang phục thường ngày vừa mới bước vào.

 Chắc chị cũng vừa mua bánh mì ngọt ở siêu thị như mọi khi. Trên cánh tay thon thả của chị lủng lẳng một chiếc túi nilon trong suốt. Nụ cười tỏa nắng của chị như làm tan chảy mọi sự căng thẳng.


「じゃあ二人とも、お盆のシフトよろしくね」

「Vậy nhờ hai đứa dịp Obon nhé.」

 

「はい」

「Vâng ạ.」


 店長がパソコンの画面に向き直る。いつものように隣同士で座って、僕たちは冷たいロッカーに背中を預けた。

 Quản lý quay lại đối diện với màn hình máy tính. Như thường lệ, chúng tôi ngồi cạnh nhau, tựa lưng vào những ngăn tủ locker lạnh lẽo.


「ふふっ、疲れたね」

「Hì hì, mệt quá nhỉ.」

 

「うん、僕も疲れちゃったよ」

「Vâng, em cũng mệt lả luôn rồi đây.」

 

 お互いにマスクは外している。仕事用の仮面を捨てて、自然体で笑い合った。

「Cả hai chúng tôi đều đã tháo khẩu trang. Rũ bỏ lớp mặt nạ công việc, chúng tôi mỉm cười với nhau một cách tự nhiên nhất.」


「あなたも休憩だった?」

「Em cũng đang nghỉ giải lao à?」

 

「うん、これから休憩だよ。ウーさんもご飯食べる?」

「Vâng, giờ tôi mới bắt đầu nghỉ. Chị cũng ăn cơm chứ ạ?」

 

「そうね」

「Ừm, ăn chứ.」


 ロッカーの上に放置していた弁当を思い出す。

 僕は弁当の包装をビリっと裂いて、ウーさんは菓子パンの包装をスッと剥いた。グッとペットボトルの蓋を回した時、隣では紙パックの牛乳にストローが刺さっていた。

 しばらく無言の時間が続く。

 Tôi sực nhớ ra hộp cơm mình bỏ quên trên nóc tủ.

 Tôi xé toạc lớp màng bọc hộp cơm, còn chị Ước khẽ bóc lớp vỏ bánh mì. Khi tôi vặn nắp chai nước nghe một tiếng "cạch", thì ở bên cạnh, chị cũng đã cắm xong ống hút vào hộp sữa giấy.

 Một khoảng lặng im lặng kéo dài một lúc.


「ウーさん」

「Chị Ước ơi.」

 

 その心地よい沈黙を破ったのは僕の方からだった。ゆっくりと深呼吸して、唇を少しすぼめて、精一杯の柔らかさを込めて、そっと彼女の名前を呼んでみた。

 Chính tôi là người đã phá tan sự tĩnh lặng dễ chịu đó. Tôi hít một hơi thật sâu, khẽ mím môi, dồn hết sự dịu dàng có thể rồi khẽ gọi tên chị.


「ウーさん、明日から夏休み?」

「Chị Ước, từ mai bắt đầu nghỉ hè rồi nhỉ?」

 

「そうね、でもバイトがいっぱいよ、お金がないから」

「Đúng rồi, nhưng mà chị phải đi làm thêm suốt thôi, vì chị không có tiền.」

 

「あははっ、そっか」

「A ha ha, ra là vậy ạ.」


 何とも世知辛い理由だった。むぅっと形の良い眉をしかめて首を左右に振るウーさんを見て、僕は思わず笑ってしまう。きょとんとした表情になった彼女は首を傾げた。

 Một lý do thật trần trụi và thực tế. Nhìn chị Ước khẽ nhíu đôi lông mày thanh tú rồi lắc đầu ngao ngán, tôi không kìm được mà bật cười. Chị ngơ ngác nhìn tôi rồi nghiêng đầu thắc mắc.


「あなたは花火大会とか、どこか行く?」

「Thế còn em, em có đi xem pháo hoa hay đi đâu chơi không?」

 

「いや、花火大会には行かないかな。他に遊ぶ予定もないよ。夏休みはほとんどバイトしていると思う」

「Dạ chắc là không đâu chị. Tôi cũng chẳng có lịch đi chơi nào khác. Kỳ nghỉ hè này chắc tôi cũng chỉ đi làm thêm thôi.」


 彼女の真っ直ぐな目が見開かれた。

 Đôi mắt thẳng thắn của chị mở to kinh ngạc.

 

「そうか、お盆もバイトする?」

「Vậy à, đợt Obon em cũng đi làm chứ?」

 

「うん、いっぱい働くつもりだよ」

「Vâng, tôi định sẽ làm thật nhiều ạ.」

 

「ふふっ、私もいっぱい働くから同じね。頑張ろう」

「Hì hì, chị cũng làm nhiều nên chúng mình giống nhau nhỉ. Cùng cố gắng nhé.」


 二人で顔を見合わせて笑い合った。彼女のゆったりとした涼やかな声。LINEで話す時とは違う、お互いの息継ぎのペースを確かめるような営み。この部屋に充満していく二酸化炭素さえも愛おしくなる植物めいた営み。

 Hai chúng tôi nhìn nhau cười. Giọng nói thư thái và mát lành của chị. Nó khác hẳn với khi trò chuyện qua LINE, đó là một sự kết nối thực thụ như thể đang xác nhận nhịp thở của đối phương. Một sự tương tác nhẹ nhàng như cây cỏ, khiến ngay cả bầu không khí đầy CO2 trong căn phòng này cũng trở nên đáng yêu.


「そうだ、あなたに見せたい写真あった」

「Đúng rồi, chị có ảnh này muốn cho em xem.」

 

「えっ、見たい!」

「Ơ, cho tôi xem với!」


 ウーさんが差し出してくるスマホの画面を覗き込む。

 どこかの飲食店の中で撮ったのだろう。黒い盆に乗った丼と小皿がある。うどんとは違うような白い緬とネギやパクチー、そして牛肉が丼の中に目視できる。添えられた小皿には薄くスライスされた牛肉と野菜が半透明な膜に包まれている。これは生春巻きといったか。どっちの料理も見覚えがあるものだった。

 Tôi ghé mắt nhìn vào màn hình điện thoại mà chị Ước đưa ra.

 Chắc là ảnh chụp trong một quán ăn nào đó. Trên chiếc khay đen có một bát tô và đĩa nhỏ. Trong bát là những sợi mì trắng khác với mì Udon, điểm xuyết hành lá, rau mùi và thịt bò. Ở chiếc đĩa nhỏ bên cạnh là những lát thịt bò và rau thái mỏng được bao bọc trong một lớp màng bán nguyệt trong suốt. Hình như cái đó gọi là gỏi cuốn thì phải. Cả hai món ăn đều trông rất quen thuộc.


「これ、フォー?」

「Cái này là Phở hả chị?」

 

「そうね、駅の近くにできたばかりのベトナムの店だ」

「Đúng rồi, là quán Việt Nam mới mở ở gần nhà ga đấy.」

 

「おお、良かったね。久しぶりのベトナム料理が食べられたんじゃない?」

「Ồ, tốt quá rồi. Chị đã được ăn món Việt sau bao lâu rồi nhỉ?」


 ウーさんは満面の笑みを浮かべた。そして興奮が冷め切らぬかのように、ペチペチっと僕の腕を優しく小刻みに叩いてきた。ここまで感情をストレートに出す彼女の姿は初めて見たかもしれない。その無邪気な仕草に故郷の力は偉大だと感じる。

 Chị Ước nở nụ cười rạng rỡ. Và như thể vẫn chưa hết phấn khích, chị khẽ vỗ nhẹ liên hồi vào cánh tay tôi. Có lẽ đây là lần đầu tiên tôi thấy chị bộc lộ cảm xúc trực tiếp và mạnh mẽ đến vậy. Tôi cảm nhận được sức mạnh vĩ đại của hương vị quê hương.


「こっちは生春巻きでしょ。この前にウーさんが教えてくれたもんね。中の具も美味しそうだね」

「Cái này là gỏi cuốn đúng không ạ? Lần trước chị đã dạy tôi rồi mà. Nhân bên trong trông cũng ngon quá.」

 

「よく覚えてるね。中は麺類や豚肉などあるよ。そうだ」

「Em nhớ giỏi thật đấy. Bên trong có bún, thịt lợn và nhiều thứ khác nữa. Đúng rồi.」


 ウーさんの指先が動いて、すっとカメラロールの画像が切り替わった。最初に見せてもらった写真は、スライスされた肉と鮮やかな緑色の野菜が大きな皿の上で綺麗に整列している。見覚えのある木目の床だった。前回のスペアリブと同じく、彼女の住居で撮った写真なのだろう。

 その次の写真には、手作りの生春巻きを握っている指先が写っている。半透明の生地に肉と野菜が巻かれていく瞬間をシャッターが切り取っていた。

 流石は厨房の経験者であり、本場のベトナム人だ。ネットで生春巻きと検索して出てくる画像にも引けを取らない出来栄えだと思った。自炊が得意な人は尊敬している。

 Ngón tay chị Ước lướt nhanh, màn hình ảnh thay đổi. Tấm ảnh đầu tiên cho thấy những lát thịt và rau xanh mướt được xếp ngay ngắn trên một chiếc đĩa lớn. Nhìn mặt sàn gỗ quen thuộc, tôi đoán đây là ảnh chụp tại chỗ ở của chị, giống như món sườn rim lần trước.

 Tấm ảnh tiếp theo chụp lại đầu ngón tay chị đang cuốn những chiếc gỏi cuốn thủ công. Khoảnh khắc thịt và rau được bao bọc trong lớp bánh tráng bán nguyệt đã được ống kính bắt trọn.

 Đúng là người có kinh nghiệm làm bếp và là người Việt chính gốc. Tôi thầm nghĩ thành phẩm này chẳng thua kém gì những hình ảnh tìm kiếm trên mạng. Tôi luôn ngưỡng mộ những người giỏi nấu nướng.


「私も作ってみた」

「Chị cũng tự làm thử đấy.」

 

「すごいよ。まるでレストランの生春巻きみたいだね。僕も食べてみたくなる!」

「Tuyệt quá. Nhìn cứ như gỏi cuốn ở nhà hàng vậy. Làm em cũng muốn ăn thử quá!」


 日本の春巻きは好物だから、きっと生春巻きのことも好きになると思った。ウーさんがきっかけなら尚更だ。

 Tôi vốn rất thích món nem rán của Nhật, nên tôi nghĩ chắc chắn mình cũng sẽ thích gỏi cuốn thôi. Nhất là khi chị Ước là người khơi gợi sự tò mò này.

 

「ふふっ、この料理まだ食べたことないのね。いつか食べてみる?」

「Hì hì, em vẫn chưa ăn món này bao giờ nhỉ. Lúc nào đó em ăn thử không?」

 

「うん、食べてみるよ。どんな味がするの?」

「Vâng, nhất định tôi sẽ ăn thử. Vị nó thế nào ạ?」


 はにかむような微笑を浮かべるウーさん。彼女の小さな手が動いて、真っ赤なソースの写真を表示した。ラベルにはベトナム語が書いてある。つまり僕には読めない。

 Chị Ước nở một nụ cười thẹn thùng. Đôi bàn tay nhỏ nhắn của chị lướt đi, hiển thị tấm ảnh một loại sốt đỏ rực. Nhãn mác ghi toàn tiếng Việt, nghĩa là tôi chịu chết không đọc được.


「このソース買った。これは私の作った料理ではないよ。家でソース作る時間がなかったから」

「Chị mua loại sốt này này. Không phải chị tự làm đâu, vì ở nhà chị không có thời gian làm nước chấm.」

 

「すごく赤い。とても辛そうだね!」

「Đỏ thật đấy. Nhìn có vẻ cay lắm chị nhỉ!」

 

「ふふっ、そうね。店での生春巻きも美味しい。そしてフォーは最高だね!」

「Hì hì, đúng thế. Gỏi cuốn ở quán cũng ngon, còn Phở thì tuyệt vời nhất!」


 とても嬉しそうな笑顔を見られて、こっちも嬉しい。

 Nhìn thấy nụ cười hạnh phúc của chị, lòng tôi cũng vui lây.


「駅の近くに素敵なお店ができて良かったね。えっと、フォーっ!」

「Thật tốt vì gần nhà ga có một cửa hàng tuyệt vời như thế mở cửa nhỉ. Để xem nào…… Phở〜!」

 

「ふふっ。あなた、フォーの発音上手ねっ。ねぇ、夏休み食べてみてよ」

「Hì hì. Em phát âm 'Phở' chuẩn thế! Này, nghỉ hè em đi ăn thử đi.」


 ウーさんの悪戯っぽい微笑に頷き返す。

 Tôi gật đầu đáp lại nụ cười tinh nghịch của chị.

 

「うん。お店の名前って分かる?」

「Vâng. Chị có biết tên quán là gì không ạ?」

 

「ちょっと待ってね」

「Chờ chị một chút nhé.」


 数秒後、僕のポケットが振動する。ウーさんが店の看板を撮った写真と位置情報をスマホで共有してくれた。

 Vài giây sau, điện thoại trong túi quần tôi rung lên. Chị Ước đã chia sẻ cho tôi ảnh chụp biển hiệu quán và thông tin vị trí qua điện thoại.


「私は初めてだったけど、日本人がいっぱいだったよ。みんながフォー食べていたね。日本人のみなさんはフォーを良く知っていると思う」

「Chị đi lần đầu nhưng thấy có nhiều người Nhật lắm. Ai cũng ăn Phở cả. Chị nghĩ người Nhật biết rõ về Phở thật đấy.」

 

「大人気のお店なんだね。確かにフォーは有名だと思う」

「Chắc đó là một quán cực kỳ nổi tiếng rồi. Đúng là Phở rất phổ biến ở Nhật mà.」

 

「私はフォー大好きだからいつも食べたい。時間あったら行ってみてね!」

「Chị yêu Phở lắm nên lúc nào cũng muốn ăn. Nếu có thời gian em hãy đi thử nhé!」


 そこでウーさんが時計を確認した。

 Đúng lúc đó, chị Ước kiểm tra đồng hồ.

 

「あっ、もう時間ね」

「A, đến giờ rồi.」

 

 ウーさんが空になった紙パックを折り畳み、スッと立ち上がった。こっちの休憩時間はまだ残っている。僕は床に座り込んだままの姿勢で右手を振った。いつもより高い位置にある彼女の顔を見上げる。

 Chị gấp gọn hộp sữa giấy rỗng rồi đứng phắt dậy. Giờ nghỉ của tôi vẫn còn một chút. Tôi vẫn giữ nguyên tư thế ngồi bệt dưới sàn và vẫy tay phải, ngước nhìn gương mặt chị ở vị trí cao hơn mọi khi.


「いってらっしゃい。また、お話ししようね」

「Chị đi làm nhé. Tí nữa mình lại nói chuyện tiếp.」

 

「うん、あとで話そう。またね」

「Ừm, tí nữa nói chuyện nhé. Gặp lại sau nha.」


 10分後、僕の休憩も終わった。この間に愛嬌のゲージは回復し切っている。軽やかな足取りで小厨房を駆けた。

 Mười phút sau, giờ nghỉ của tôi cũng kết thúc. Trong thời gian này, cột mốc "niềm nở" của tôi đã được hồi phục hoàn toàn. Tôi sải những bước chân nhẹ nhàng lao vào khu tiểu bếp.


 (あっ、あの時のOLさんだ。一人で7500円の会計をしたお客さん。僕が知らないだけで常連だったのかな)

 (A, là chị nhân viên văn phòng hồi đó. Người đã thanh toán hóa đơn 7.500 yên một mình. Không lẽ chị ấy là khách quen mà mình không biết nhỉ?)


 僕がフロアに戻ると、どこか見覚えのある女性がカウンター席に座っていた。机には積み重なった寿司皿、そして可愛いマスコットチャームが座っている。

 それは前回の"ふっとば星コラボ"の景品だった。僕がレジで対応したお客さんなので鮮明に覚えている。彼女も夏を満喫しているようで何よりだ。

 Khi tôi quay trở lại sảnh, một người phụ nữ trông rất quen mắt đang ngồi ở ghế quầy counter. Trên bàn là chồng đĩa sushi cao ngất, và một chiếc móc khóa linh vật đáng yêu đang ngồi đó.

 Đó chính là quà tặng từ sự kiện hợp tác "Futtoba Sei" lần trước. Vì là người trực tiếp thu ngân nên tôi nhớ rất rõ. Thật vui khi thấy chị ấy cũng đang tận hưởng mùa hè của mình.


 (ん?)

 (A?)

 

 店員に顔を覚えられているのを嫌がる常連さんもいる。まじまじと注目するのも申し訳ない。僕が視線を外そうとした時、彼女のレーンにご注文の寿司皿が届いた。

 OLの女性は届いたばかりの皿の隣にマスコットチャームを立てかけた。そしてカメラのシャッターを切る。小刻みに角度を変えて何枚かの写真を撮った後に、彼女は満足したかのように微笑んだ。

 Cũng có những vị khách không thích việc nhân viên nhớ mặt mình. Việc cứ nhìn chằm chằm vào người ta cũng thật khiếm nhã. Ngay khi tôi định rời mắt đi, khay sushi chị ấy đặt đã được chuyển đến trên băng chuyền.

 Người phụ nữ ấy đặt chiếc móc khóa linh vật cạnh đĩa sushi vừa mới tới. Rồi chị ấy bấm máy ảnh. Sau khi thay đổi góc độ từng chút một để chụp vài tấm, chị ấy mỉm cười đầy mãn nguyện.

 

 きっと彼女にとっての美味しいものと好きなものが隣に並んでいる写真だ。最高の一枚なのだろう。

 Chắc chắn đó là bức ảnh mà đồ ăn ngon và thứ mình yêu thích được đặt cạnh nhau. Một tấm hình tuyệt vời nhất.

 

 (こういう思い出の残し方もあるんだな)

 (Hóa ra cũng có cách lưu giữ kỷ niệm như thế này nhỉ.)

 

 実は最近、自分の日常を写真に残そうと考えたことがある。ウーさんと仲良くなった影響だ。あまり普段はスマホで思い出を撮ろうとしない僕だが、彼女の無邪気な笑顔が見られるかもしれないという下心があった。

 Thực ra gần đây, tôi cũng từng nghĩ đến việc lưu lại cuộc sống thường nhật qua những bức ảnh. Đó là ảnh hưởng từ việc trở nên thân thiết với chị Ước. Vốn dĩ tôi ít khi dùng điện thoại để chụp lại kỷ niệm, nhưng lần này tôi lại có một chút "mưu đồ" là muốn nhìn thấy nụ cười hồn nhiên của chị.

 

 しかし、僕の平凡な風景や食事だけを切り取っても、味気ない写真にしかならなかった。ただスマホで日常を覗き込むだけでは、誰が撮っても同じような写真しか出力されない。だからといって自撮りするのは恥ずかしい。

 Tuy nhiên, dù tôi có chụp lại những cảnh vật hay bữa ăn bình thường của mình, chúng cũng chỉ trở thành những bức ảnh nhạt nhẽo. Nếu chỉ đơn thuần nhìn thế giới qua ống kính điện thoại, thì ai chụp cũng sẽ ra những tấm hình giống hệt nhau mà thôi. Còn tự chụp ảnh mình (selfie) thì tôi thấy thật xấu hổ.

 

 それでも、気になる相手との会話が広がるような写真を撮りたいと思っていた。さっきの休憩中も、面白い何かを見せられるような写真があったらいいと思っていた。

 Dù vậy, tôi vẫn muốn chụp được những bức ảnh có thể giúp cuộc trò chuyện với người mình quan tâm trở nên rôm rả hơn. Ngay cả trong giờ nghỉ lúc nãy, tôi cũng đã ước rằng mình có bức ảnh nào đó thú vị để khoe.


 (あれは良いアイデアだな)

 (Đó là một ý tưởng hay đấy chứ.)

 

 さっきのお客さんの行動が脳裏に焼き付いている。

 Hành động của vị khách lúc nãy cứ in đậm trong tâm trí tôi.

 

 何の変哲もない日常、カウンター席で食事しているという風景でも、自分のマスコットチャームが写っていることで他人の写真とは別物になる。周囲の迷惑にならないようにスッと急いで撮った、などのエピソードも作れる。

 Dù chỉ là cảnh ăn uống bình thường tại quầy counter, nhưng việc có thêm chiếc móc khóa của riêng mình sẽ khiến bức ảnh khác biệt hoàn toàn với ảnh của người khác. Tôi cũng có thể tạo ra những mẩu chuyện đi kèm, kiểu như "lúc đó mình đã phải tranh thủ chụp thật nhanh để không làm phiền xung quanh".

 

 いつか、同じカウンター席に座った時、また別のマスコットチャームと寿司皿を一緒に撮ったとするなら。あとで二つの写真を見返して、自分の好みの移り変わりについて考察することもできるだろう。これなら自撮りする必要なく、自分らしさを切り取ることが可能だ。

 Nếu sau này tôi lại ngồi đúng cái ghế này và chụp một chiếc móc khóa khác bên cạnh đĩa sushi, tôi có thể nhìn lại hai bức ảnh để chiêm nghiệm về sự thay đổi trong sở thích của bản thân. Bằng cách này, tôi có thể khắc họa cá tính riêng mà không cần phải tự sướng.


 あとは、あのお客さんにとってのマスコットチャームのように、僕にとっての自分らしさを出せるものを見つけ出すだけだ。小さく持ち運べるものだったら好ましい。

 Việc còn lại chỉ là tìm ra một thứ giống như chiếc móc khóa của vị khách kia – một vật có thể thể hiện được "cái tôi" của mình. Sẽ thật tốt nếu đó là một vật nhỏ gọn, dễ mang theo.

 

 僕は清々しい気分で作業に戻った。こういう気付きがあるから、人と関わるサービス業も悪くない。

 Tôi quay lại làm việc với tâm trạng sảng khoái. Chính nhờ những khám phá như thế này mà tôi thấy công việc dịch vụ tiếp xúc với con người cũng không tệ chút nào.


 それから二時間後。

 Hai tiếng sau.


 (いや、サービス業って気分の上下がしんどい。それに木澤くんも帰っちゃったからな)

 (Không, làm ngành dịch vụ đúng là mệt thật. Cả Kizawa cũng về mất rồi.)

 

 この日の仕事はラストまで順調に進んでいった。ここでの順調とは、厨房の流し間違いや商品へのクレームが無かったということだ。つまり作業量が増えた訳でもないが、軽くなった訳でもない。

 さらに夜のピークの引きが早かった事と、労働時間と人件費の関係もあって、今夜のラストは木澤くんが22時の早上がりとなった。だから僕はフロアで孤独だった。

 Công việc ngày hôm đó vẫn tiến triển thuận lợi cho đến cuối ca. "Thuận lợi" ở đây nghĩa là không có sai sót trong việc ra món từ nhà bếp, cũng không có phàn nàn nào từ khách hàng. Nói cách khác, lượng công việc không tăng lên, nhưng cũng chẳng nhẹ đi chút nào.

 Hơn nữa, vì lượng khách buổi đêm vắng đi nhanh chóng, cộng thêm vấn đề về thời gian lao động và chi phí nhân sự, nên Kizawa đã được cho về sớm từ lúc 22 giờ. Chính vì thế, tôi đã phải cô độc ngoài sảnh.


「お疲れ様です」

「Chào mọi người, em về đây ạ.」


 きちんと皆に挨拶をして、事務所から出る。そして一人になった瞬間、完全に集中のスイッチが切れてしまった。

 Tôi chào hỏi mọi người tử tế rồi bước ra khỏi văn phòng. Và ngay khoảnh khắc chỉ còn lại một mình, công tắc tập trung trong tôi hoàn toàn vụt tắt.


 (いつもは通り過ぎるけど)

 (Mọi khi mình vẫn thường đi lướt qua đây.)

 

 バイトの帰り道、ふらっと小さな公園に立ち寄る。ベンチが汚れていないことを月明かりで確認して、疲労で重くなった体重を預けた。この公園にブランコがあったなら、そこで風を切っていただろう。とても残念だ。

 Trên đường đi làm thêm về, tôi tạt vào một công viên nhỏ. Dưới ánh trăng, tôi kiểm tra để chắc chắn rằng chiếc ghế băng không bị bẩn, rồi đặt toàn bộ cơ thể đang nặng trĩu vì mệt mỏi xuống đó. Nếu công viên này có xích đu, chắc tôi đã ngồi đó để đón gió rồi. Thật là đáng tiếc.

 

 ふぅっと溜息を吐く。

 今日のラストは楽だったし、ウーさんと休憩時間の間に話すこともできた。それでも童心に帰りたくなる。たまにプツンと心の糸が切れてしまう瞬間があって、それが月の綺麗な今夜だった。

 こんな情緒不安定な男が主人公の物語を、世界で誰が読みたいだろうか。少なくとも僕は読みたくない。読んでみたいけど、読みたくない。

 Tôi thở dài thườn thượt.

 Ca làm cuối hôm nay khá nhàn, và tôi cũng đã được trò chuyện với chị Ước trong giờ nghỉ. Thế mà tôi vẫn muốn được trở về làm một đứa trẻ. Đôi khi có những khoảnh khắc sợi dây trong lòng bỗng nhiên đứt phựt, và đêm nay, dưới ánh trăng đẹp thế này, chính là lúc đó.

 Ai mà muốn đọc một câu chuyện với nhân vật chính là một gã đàn ông tâm lý bất ổn thế này chứ? Ít nhất là tôi thì không. Tôi muốn biết nội dung nhưng lại thấy sợ, không muốn đọc.


 (柏市でフォーが食べられるとはね)

 (Không ngờ ở thành phố Kashiwa này lại có thể ăn được Phở nhỉ.)


 ウーさんとのLINEを開いて、たった数時間前に共有されたばかりのベトナム料理店の写真を眺めた。このベンチの背もたれは事務所のロッカーと同じくらいに硬い感触がする。違うのは隣に誰もいないことだ。

 Tôi mở tin nhắn LINE với chị Ước, ngắm nhìn tấm ảnh quán ăn Việt Nam mà chị mới chia sẻ cách đây vài tiếng. Phần tựa lưng của chiếc ghế băng này cho cảm giác cứng nhắc y hệt chiếc tủ locker trong văn phòng. Điểm khác biệt duy nhất là chẳng có ai ngồi cạnh bên.


 (素直に、一緒に行きたいって言えばよかったな)

 (Phải chi lúc đó mình cứ thành thật nói rằng: "Tôi muốn đi cùng chị" thì tốt biết mấy.)


 もう駆け引きはしないって決めたのに。

 Dù đã quyết định sẽ không dùng chiêu trò tính toán nữa vậy mà.

 

 僕の心は一日で何回の浮き沈みを経験すれば気が済むのだろうか。そして、こんな弱い男を象徴するようなものって何があるのだろうか。しばらくベンチに座って月の光を浴びていた。

 Trái tim tôi phải trải qua bao nhiêu lần thăng trầm trong một ngày thì mới chịu thôi đây? Và, thứ gì có thể là biểu tượng cho một kẻ như tôi nhỉ? Tôi cứ ngồi đó trên chiếc ghế băng, đắm mình trong ánh trăng một hồi lâu.

評価をするにはログインしてください。
ブックマークに追加
ブックマーク機能を使うにはログインしてください。
― 新着の感想 ―
このエピソードに感想はまだ書かれていません。
感想一覧
+注意+

特に記載なき場合、掲載されている作品はすべてフィクションであり実在の人物・団体等とは一切関係ありません。
特に記載なき場合、掲載されている作品の著作権は作者にあります(一部作品除く)。
作者以外の方による作品の引用を超える無断転載は禁止しており、行った場合、著作権法の違反となります。

↑ページトップへ