千葉の朝
どこか遠くでアラームが鳴っている。
ゆっくりと重い瞼を開くと、そこは吐息が白くならない穏やかな朝だった。まさしく千葉の朝だった。
Từ một nơi phương xa, tiếng chuông báo thức đang vang lên lanh lảnh.
Khi tôi chầm chậm mở đôi bờ mi còn đang nặng trĩu của mình ra, hiện ra trước mắt là một buổi sớm mai của tháng 11―nơi mà những làn hơi thở ra tịnh không còn bị hóa thành những làn khói trắng xóa nữa. Chắc chắn rồi, đây chính là mùa thu tháng 11 của mảnh đất Chiba này.
(悪いね、柚城さん。あまり苦しんでいない。なんなら千葉での生活を楽しんでいる。あなたもそうだったらいいな)
(Xin lỗi chị nhiều nhé, Yuzuki-san. Bản thân mình hiện tại thực sự là không gánh chịu quá nhiều sự đau khổ đâu mà. Thậm chí nói không ngoa thì, tôi đang vô cùng tận hưởng cuộc sống tại Chiba này nữa cơ. Cầu mong sao cho chị ở nơi ấy bấy giờ, cũng đang sinh tồn một cách tốt đẹp giống như vậy nhé)
ずっと一緒に苦しもうね。
あれは二年前の手紙の内容だ。僕が忘れているのも当然だ。今になっても、僕が職場で他者の面倒を見たり、周囲への配慮を怠らない根底には、柚城さんから無条件の愛を注がれた記憶が、自分の血肉となって流れているからに他ならない。それが素直に嬉しい。
Hãy luôn cùng chị gánh chịu nỗi đau đớn, cùng nhau đau khổ suốt đời nhé.
Đó vốn dĩ là toàn bộ nội dung trong bức thư của hai năm về trước. Việc bản thân tôi của hiện tại đã lãng quên đi nó suy cho cùng cũng là một điều hết sức đương nhiên mà thôi. Dẫu là ở thời điểm hiện tại đi chăng nữa, cái gốc rễ căn bản khiến tôi luôn chủ động đứng ra chăm lo cho người khác ở chỗ làm, hay tuyệt đối không bao giờ lơ là việc đối nhân xử thế, quan tâm đến vạn vật xung quanh, phỏng có lý do gì khác ngoài việc: ký ức về một thứ tình yêu vô điều kiện mà Yuzuki-san từng dốc cạn để rót vào thâm tâm tôi, giờ đây đã hoàn toàn biến thành xương thành thịt, chảy trôi bên trong chính huyết quản của bản thân tôi rồi. Cái sự thật ấy, thâm tâm tôi cảm thấy vô cùng thành thực vui sướng biết bao.
(過去を振り返るの久しぶりだったな。一人暮らしに戻ってから、前だけを向くようにしていたから)
(Cũng đã lâu lắm rồi mình mới lại ngoảnh đầu nhìn lại quá khứ như thế này nhở. Bởi lẽ, kể từ sau khi quay trở lại với cuộc sống độc thân một mình, bản thân luôn tự răn đe là chỉ được phép hướng mắt nhìn về phía trước mà thôi)
たくさんの原点を思い出せたような清々しい気分だ。
Một cảm giác vô cùng thanh thản, nhẹ nhõm tràn ngập tâm can, cứ như thể bản thân vừa thành công đánh thức, khơi gợi lại biết bao nhiêu thứ gọi là điểm khởi nguyên, điểm gốc rễ của chính mình vậy.
多分、あの頃は授業やバイトに追われて、同棲という近い距離でも見落としていたものが多かったのだと思う。お互いを思い合うような綺麗な理論武装をしても、すんなりと別れる選択肢がお互いの共通認識として通ったことが事実なのだから。それも仕方ない。"元"という枕詞が付かないと、自己を冷静に顧みれないのが恋人との思い出だ。
Có lẽ, vào cái khoảng thời gian của ngày xưa ấy, vì bản thân luôn bị cuốn đi, bủa vây bởi mớ bài tập trên giảng đường và những ca làm thêm bận rộn, nên dẫu có ở một cự ly, khoảng cách vô cùng cận kề mang tên đồng thê sống chung đi chăng nữa, bản thân tôi vẫn vô tình để lọt lưới, bỏ sót mất biết bao nhiêu điều quan trọng. Cho dù hai đứa có cố công dùng những thứ lý luận, triết lý vô cùng đẹp đẽ để vũ trang cho tình cảm của mình đi chăng nữa, thì có một sự thật bất biến là phương án chọn cách chia tay một cách vô cùng êm xuôi, thuận lợi vốn dĩ đã lập tức thông qua như một thứ nhận thức chung của cả hai đứa rồi. Phải có thêm chiếc danh từ "Cựu"―tức là người yêu cũ đặt ở ngay trước miệng thì con người ta mới có thể bình tâm, bình tĩnh mà nhìn nhận, suy xét lại toàn bộ những ký ức về người mình từng yêu thương một cách thấu suốt nhất.
(失恋で人生終わりって思いながら、ちゃっかり大学卒業はしているんだからな。きっと、柚城さんも新しい職場で真面目に仕事をしていたんだろうな)
(Cứ ngỡ cái lần thất tình ấy sẽ khiến cuộc đời mình hoàn toàn đi vào ngõ cụt, chấm dứt hoàn toàn cơ đấy, thế mà coi kìa, bản thân rốt cuộc vẫn thuận lợi, hiên ngang tốt nghiệp đại học như ai kia thôi mà. Chắc chắn rồi, Yuzuki-san ở nơi phương xa ấy bấy giờ, hẳn cũng đang vô cùng nghiêm túc, chăm chỉ hoàn thành tốt công việc ở công sở mới của chị ấy rồi không biết chừng)
僕は苦笑した。
Tôi khẽ nở một nụ cười khổ.
あの破局の後は一時的に気分が落ち込んでいたが、学業などの日常生活に支障をきたす程ではなかった。しっかりと単位を落とすこともなく、自信を持ってデザイン大学を卒業することが出来た。小説家を目指すという新しい選択も見つけた。僕のかわいさが損なわれることも無かった。
Khoảng thời gian ngay sau khi mối quan hệ ấy chính thức đổ vỡ, dẫu đúng là tinh thần của bản thân có phần bị rơi rụng, sa sút một cách nhất thời thật, thế nhưng mọi chuyện hoàn toàn tịnh không đến mức gây ra bất kỳ một sự cản trở hay hệ lụy tiêu cực nào đối với nhịp sống nhật thường như chuyện học hành trên giảng đường cả. Bản thân tôi đã hoàn toàn không bị trượt bất kỳ một học phần nào, để rồi từ đó có thể tràn đầy sự tự tin mà hiên ngang tốt nghiệp ngôi trường đại học chuyên ngành thiết kế. Thậm chí, tôi còn tìm thấy cho mình một sự lựa chọn mới, một mục tiêu mới cho cuộc đời―đó chính là hướng tới việc trở thành một tiểu thuyết gia . Cái diện mạo đáng yêu, thứ vũ khí của riêng tôi bấy giờ cũng tịnh không hề bị hao mòn hay tổn hại đi dù chỉ là một chút.
たぶん、お互いに自立している者同士だったから。きっと、お互いに引き際を弁えている者同士だったから。恋人になって、欠けた穴を埋め合って、そして別れを経て、その上で僕らが共依存の誘惑に陥らなかったことが嬉しい。
Có lẽ, là bởi vì cả hai đứa chúng tôi vốn dĩ đều là những thực thể vô cùng tự lập. Chắc chắn là bởi vì, hai đứa đều là những con người biết rõ về cái gọi là điểm dừng, biết rõ lúc nào nên chọn cách buông tay, rút lui một cách hợp thời nhất. Việc hai đứa tiến bước vào mối quan hệ người yêu, cùng nhau bù đắp, lấp đầy cho những lỗ hổng, khoảng trống hoác nơi tâm can của nhau, để rồi sau đó dũng cảm bước qua một hồi ly biệt, và trên hết thảy―hai đứa chúng tôi đã tuyệt đối không để bản thân bị sa chân, rơi rụng vào cái bẫy cám dỗ mang tên "cộng sinh, phụ thuộc lẫn nhau". Cái điều ấy, thâm tâm tôi cảm thấy vui sướng biết bao.
(一つ一つ、大人として向き合おうかな。あの柚城さんの背中から学び取った大人として)
(Từ bây giờ, mình sẽ chủ động đứng ra đối diện, giải quyết từng chuyện từng chuyện một với tư cách là một người trưởng thành thôi nào. Một người trưởng thành đúng nghĩa mà mình đã học tập, lĩnh hội được từ chính cái bóng lưng ngày ấy của Yuzuki-san)
木澤くんのドタキャン騒動から始まったフロアの軋轢。
僕がウーさんへと向ける気持ち。
小説を書くモチベーション。
Cái mớ hỗn độn, sự rạn nứt nơi sàn làm việc vốn được khơi mào từ vụ lùm xùm bùng kèo, hủy lịch hẹn đột ngột của cậu chàng Kizawa.
Cả thứ tình cảm, tiếng lòng mà bản thân tôi đang hướng về phía chị Ước nữa.
Và cả nguồn động lực, motivation để bản thân tiếp tục chấp bút viết nên những trang tiểu thuyết.
(大丈夫、雪もガラスも踏んできた大人だからな)
(Không sao cả, dẫu sao thì mình cũng là một người trưởng thành đã từng dũng cảm bước qua biết bao mùa tuyết rơi, và giẫm đạp lên biết bao mảnh vỡ thủy tinh găm rắm rồi cơ mà)
目の前にある問題は山積みかもしれない。それでも、あの長岡の圧倒されるような積雪量に比べたら、あってないようなものだ。
Mớ vấn đề trước mắt dẫu đúng là có đang chất đống như núi thật đấy. Thế nhưng, nếu đem so sánh với cái lượng tuyết tích tụ, ngập ngụa của mảnh đất Nagaoka năm ấy, thì mớ rắc rối này suy cho cùng cũng chỉ là một thứ cỏn con, nhỏ bé đến độ có cũng như không mà thôi.




